1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm tra và xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh thanh hóa

23 1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiểm tra và xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh thanh hóa
Tác giả Doãn Đình Tiến
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoàng Anh
Trường học Khoa Luật
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 432,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ban Thường vụ Quốc hội khóa 10 quy định thi hành một số điểm của Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 đã chuyển giao hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản q

Trang 1

Kiểm tra và xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Doãn Đình Tiến

Khoa Luật Luận văn ThS ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; Mã số: 60 38 01

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Hoàng Anh

Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Tổng hợp những thành tựu lý luận cơ bản về hoạt động ban hành, kiểm

tra văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) Phân tích thực trạng hoạt động ban hành, kiểm tra VBQPPL của chính quyền địa phương qua khảo sát thực tiễn tại tỉnh Thanh Hóa, từ đó rút ra các kết luận đánh giá và kinh nghiệm đúc kết Xây dựng và kiến giải các biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm tra VBQPPL của chính quyền địa phương

Keywords: Luật hành chính; Pháp luật Việt Nam; Quy phạm pháp luật; Hội đồng

Nhân dân; Ủy ban nhân dân

Content

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, chủ động hội nhập quốc tế là những quyết sách quan trọng đã được Đảng ta xác định và khẳng định trong nhiều văn kiện quan trọng như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày

24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Nhằm triển khai thực hiện các chủ trương này, tại Nghị quyết số 287/2001/NQ-UBTVQH10 ngày 29/01/2001 của Ủy

Trang 2

ban Thường vụ Quốc hội khóa 10 quy định thi hành một số điểm của Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 đã chuyển giao hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) (công tác kiểm sát chung) từ các cơ quan kiểm sát sang cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND), để các cơ quan, đơn vị này tiếp tục thực hiện

Thực hiện các quy định của Hiến pháp (sửa đổi), Luật số 02/2002/QH11 ngày 16 tháng

12 năm 2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành VBQPPL (hiện nay là Luật ban hành VBQPPL năm 2008), Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi), Chính phủ đã ban hành

Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2003 về kiểm tra và xử lý VBQPPL, hiện nay đã được thay thế bởi Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 Kiểm tra, xử lý VBQPPL là thiết chế mới, có ý nghĩa quan trọng đối với các

cơ quan hành pháp, nhất là trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước bằng pháp luật theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam đặt ra nhiều nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, trong đó có nhiệm vụ xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, công khai, dân chủ và là cơ sở bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật

Trong bối cảnh chính quyền Trung ương đang tiến hành những cải cách mạnh mẽ nhằm phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương các cấp, nhằm phát huy quyền chủ động, sáng tạo của mỗi địa phương trong quản lý nhà nước, các cấp chính quyền địa phương đang sử dụng pháp luật như một công cụ quan trọng, hiệu quả để quản lý và phát triển VBQPPL của chính quyền địa phương ban hành cũng đã và đang phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

Theo quy định của Luật ban hành VBQPPL của HĐND và UBND năm 2004, Luật ban hành VBQPPL năm 2008 thì HĐND và UBND các cấp được ban hành VBQPPL theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục luật định để thực hiện việc quản lý nhà nước

ở địa phương

Trong thời kỳ đổi mới chính quyền địa phương đang rất quan tâm tới việc xây dựng

và ban hành VBQPPL theo thẩm quyền, các văn bản này được ban hành chủ yếu để cụ thể hóa và thực hiện những quy định của các VBQPPL của cơ quan nhà nước ở Trung

Trang 3

ương cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương hoặc quy định những vấn đề mà chính quyền địa phương được ủy quyền ban hành Tuy nhiên, trong quá trình ban hành VBQPPL, ở một số nơi chính quyền các cấp vẫn còn ban hành văn có nội dung trái pháp luật, không đúng thẩm quyền, sai về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản, trình tự thủ tục ban hành…

Trong bối cảnh đó, việc tăng cường công tác kiểm tra VBQPPL là trách nhiệm của các cơ quan hành pháp nhằm hoàn thiện các VBQPPL, trước hết là các VBQPPL do các

bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND các cấp ban hành, bảo đảm văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới địa phương, tôn trọng thứ bậc hiệu lực của văn bản pháp luật - một trong những nguyên tắc quan trọng của nhà nước pháp quyền

Do tính thời sự, cấp bách của vấn đề nên tác giả đã chọn đề tài: "Kiểm tra và xử lý đối

với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và ?y ban nhân dân (qua thực tiễn trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa)" cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở nước ta hiện nay, các vấn đề về VBQPPL, văn bản hành chính, quyết định quản lý nhà nước đã và đang được nhiều nhà khoa học (luật học, hành chính học, ngôn ngữ học ) quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu, như:

- GS.TS Nguyễn Đăng Dung, GS.TS Hoàng Trọng Phiến, Hướng dẫn soạn thảo văn bản, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1998

- Nguyễn Chí Dũng, "Những nội dung cần làm khi lấy ý kiến nhân dân về các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12/2005

- Phạm Tuấn Khải, "Nhà khoa học với công tác xây dựng pháp luật: vai trò, ý nghĩa

Trang 4

- Hà Quang Thanh, Hoàn thiện việc ban hành văn bản quản lý nhà nước của hệ thống

cơ quan hành chính nhà nước, Luận văn Thạc sĩ Quản lý nhà nước, 2000

- TS Lưu Kiếm Thanh, Hướng dẫn soạn thảo văn bản quản lý hành chính nhà nước,

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

đi vào nề nếp, đúng pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính khả thi trong thực tiễn

* Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, tác giả tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Tổng hợp những thành tựu lý luận cơ bản về hoạt động ban hành, kiểm tra VBQPPL;

- Phân tích thực trạng hoạt động ban hành, kiểm tra VBQPPL của chính quyền địa phương qua khảo sát thưc tiễn tại tỉnh Thanh Hóa, từ đó rút ra các kết luận đánh giá và kinh nghiệm đúc kết;

- Xây dựng và kiến giải các biện pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm tra VBQPPL

Trang 5

của chính quyền địa phương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống các VBQPPL do HĐND và UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ban hành; các hoạt động ban hành, kiểm tra VBQPPL của HĐND và UBND tỉnh Thanh Hóa

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về Chính phủ phục vụ nhân dân; quán triệt các quan điểm, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Trong quá trình tiếp cận, xúc tiến nghiên cứu đề tài, tác giả đồng thời sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: các phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp điều tra chọn mẫu, phương pháp thống kê - so sánh, phương pháp chuyên gia trong việc thu thập và xử lý các thông tin liên quan đến nội dung đề tài

6 Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn

Từ góc độ khoa học quản lý hành chính nhà nước, có thể xem đây là một trong những

cố gắng đầu tiên trong việc nghiên cứu vấn đề kiểm tra đối với VBQPPL của chính quyền địa phương một cách chuyên sâu và toàn diện Vì vậy luận văn có ý nghĩa:

- Góp phần hoàn thiện hoạt động kiểm tra đối VBQPPL của HĐND và UBND

- Đóng góp cho công tác tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng và ban hành, xử lý VBQPPL của HĐND và UBND;

- Góp phần hoàn thiện chương trình các môn học về kỹ thuật soạn thảo và ban hành văn bản

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm

Trang 6

pháp luật

Chương 2: Thực trạng kiểm tra và xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội

đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ năm 2004 đến nay

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm tra và xử lý đối với văn bản quy

phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TRA

VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 1.1 Khái quát về văn bản quy phạm pháp pháp luật của Hội đồng nhân dân và

Ủy ban nhân dân

1.1.1 Khái niệm, các dấu hiệu đặc trưng của văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành

Tác giả đi từ làm rõ khái niệm văn bản theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp, trên

cơ sở đó đưa ra khái niệm VBQPPL Xuất phát từ quy định của pháp luật hiện hành và kinh nghiệm thực tiễn, tác giả nêu bật điểm khác biệt giữa VBQPPL của các cơ quan nhà nước nói chung với VBQPPL của HĐND và UBND (gọi chung là VBQPPL của chính quyền địa phương) đó là về chủ thể có thẩm quyền ban hành là HĐND, UBND các cấp và phạm vi

áp dụng văn bản là tại địa phương

Bên cạnh đó, tác giả cũng đã nêu bật được các dấu hiệu đặc trưng của VBQPPL do HĐND và UBND ban hành gồm: chứa đựng quy phạm pháp luật; ban hành theo trình tự, thủ tục luật định; do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; được nhà nước bảo đảm thi hành

1.1.2 Vai trò của văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trong quản lý nhà nước và phát triển

Dưới góc độ xã hội, tác giả đã nêu lên tầm quan trọng của VBQPPL của chính quyền địa phương đối với vấn đề quản lý và phát triển, cụ thể:

- VBQPPL có thể điều tiết những vấn đề thực tiễn của địa phương;

- VBQPPL thể chế hóa và bảo đảm thực hiện các chính sách của cơ quan nhà nước cấp trên;

- VBQPPL có thể tạo ra, phân bổ, phát huy các nguồn lực nhằm phát triển kinh tế;

- VBQPPL góp phần làm ổn định trật tự xã hội, tạo cơ hội quản lý tốt và phát triển

Trang 7

Tóm lại, VBQPPL có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ quy định các giá trị mà người quản lý coi đó là giá trị cơ bản của xã hội, không chỉ đưa ra các biện pháp khuyến khích thực thi pháp luật, đem lại ổn định trật tự xã hội mà còn bảo đảm cho xã hội phát triển

1.2 Khái quát về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

1.2.1 Khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Đi từ khái niệm chung "kiểm tra", phân tích các dấu hiệu đặc trưng của hoạt động

kiểm tra VBQPPL của chính quyền địa phương, tác giả đi đến định nghĩa: Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND các cấp ban hành là hoạt động được tiến hành thường xuyên của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của pháp luật, qua đó, phát hiện những dấu hiệu trái pháp luật

về hình thức, về nội dung để kịp thời xử lý, hoặc đề xuất với cơ quan có thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật nhằm góp phần bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật

1.2.2 Mục đích, ý nghĩa của công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật

Từ khái niệm kiểm tra VBQPPL, tác giả đã chỉ ra mục đích cũng như ý nghĩa của hoạt động kiểm tra văn bản, đó là:

Thứ nhất, phát hiện những nội dung trái pháp luật của văn bản;

Thứ hai, kiến nghị các hình thức xử lý thích hợp đối với nội dung sai trái đó, đồng

thời kiến nghị xử lý cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật;

Thứ ba, góp phần bảo đảm việc soạn thảo, ban hành văn bản có chất lượng cao hơn,

nhằm xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi, phục vụ trực tiếp yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, mở rộng quan hệ quốc

tế, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Ý nghĩa hoạt động kiểm tra: phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kịp thời những văn bản trái pháp luật; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; bảo đảm tính kỷ cương trong công tác ban hành VBQPPL

1.2.3 Đặc trưng của kiểm tra văn bản

Hoạt động kiểm tra VBQPPL của chính quyền địa phương mang những đặc trưng

Trang 8

sau: mang tính quyền lực nhà nước; là hoạt động có tính chất phòng ngừa; là hoạt động độc lập và có tính chủ động cao đòi hỏi phải có sự xử lý, giải quyết dứt điểm

1.2.4 Phân biệt kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và các hoạt động tương tự

Để hiểu rõ về khái niệm kiểm tra VBQPPL, cần phân biệt hoạt động kiểm tra với các hoạt động thẩm định, thẩm tra dự thảo VBQPPL (hoạt động diễn ra trước khi ban hành văn bản) và hoạt động giám sát, rà soát VBQPPL (hoạt động diễn ra sau khi ban hành văn bản)

1.3 Quy định của pháp luật hiện hành về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

1.3.1 Nguyên tắc kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật

Trên cơ sở các quy định của pháp luật, Tác giả trình bày nội dung cơ bản của các nguyên tắc kiểm tra và xử lý đối với nhưng VBQPPL có nội dung sai trái cụ thể là:

- Công tác kiểm tra văn bản, xử lý văn bản trái pháp luật được tiến hành tường xuyên, toàn diện, kịp thời; khách quan, công khai, minh bạch; đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; kết hợp giữa kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền với việc tự kiểm tra của cơ quan ban hành văn bản, bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan

- Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức và cá nhân lợi dụng việc kiểm tra văn bản vì mục đích vụ lợi, gây khó khăn cho hoạt động bình thường của cơ quan, người đã ban hành văn bản và can thiệp vào quá trình xử lý văn bản trái pháp luật

- Sau khi kiểm tra, cơ quan kiểm tra văn bản phải có kết luận về việc kiểm tra và thông báo cho cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản được kiểm tra theo quy định của pháp luật

- Cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản phải chịu trách nhiệm trước pháp luật

về kết luận và quyết định xử lý của mình; nếu quyết định xử lý trái pháp luật thì phải khắc phục hậu quả pháp lý do quyết định đó gây ra

1.3.2 Đối tượng của hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật

Đối tượng kiểm tra là các VBQPPL do HĐND và UBND các cấp ban hành Điều này

đã được pháp luật quy định khá rõ Tuy vậy, trong thực tiễn, còn có những văn bản có chứa quy phạm pháp luật do địa phương ban hành bằng hình thức không đúng với hình thức VBQPPL do luật định (ví dụ: ban hành dưới hình thức thông báo, công văn hoặc giấy tờ hành chính khác…) hoặc văn bản có chứa quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, cá nhân không có thẩm quyền ban hành VBQPPL ban hành (cơ quan chuyên môn thuộc UBND…) Do vậy, đối tượng kiểm tra bao gồm cả các văn bản có chứa quy phạm

Trang 9

pháp luật

1.3.3 Nội dung kiểm tra văn bản

Nội dung kiểm tra văn bản là xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản dựa trên năm tiêu chí theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP:

- Được ban hành đúng căn cứ pháp lý;

- Được ban hành đúng thẩm quyền;

- Nội dung phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành;

- Được ban hành đúng thể thức và kỹ thuật trình bày;

- Tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về thủ tục xây dựng, ban hành và đăng Công báo, đưa tin hoặc công bố văn bản

1.3.4 Phương thức tiến hành kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Hoạt động kiểm tra văn bản được tiến hành bằng các phương thức: tự kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản và kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản theo nhiệm vụ được phân công

1.3.5 Thẩm quyền kiểm tra, xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và vai trò của cơ quan tư pháp địa phương trong hoạt động kiểm tra

Tác giả đã nêu rõ trong luận văn thẩm quyền của UBND các cấp trong việc kiểm tra,

xử lý VBQPPL của HĐND và UBND và vai trò của cơ quan tư pháp địa phương trong hoạt động kiểm tra

1.4 Các quy định về xử lý văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân

và Ủy ban nhân dân

Căn cứ các quy định của Nghị định 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010; Thông tư số 20/2010/TT-BTP, tác giả đã nêu bật các biện pháp xử lý cơ quan, người ban hành văn

bản trái pháp luật: bao gồm các biện pháp khắc phục và các biện pháp xử lý và được xác định theo hình thức, mức độ xử lý đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp

luật

Ngoài ra, việc công bố kết quả xử lý văn bản trái pháp luật cũng là một căn cứ quan trọng nhằm xác định hiệu lực của văn bản đó, mặt khác việc thông báo văn bản sai trái (một phần hoặc toàn bộ) do chính những người kiểm tra lập được thực hiện nhằm mục đích để cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật đó tự kiểm tra,

xử lý và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan kiểm tra văn bản trong thời hạn luật

Trang 10

định

Một trong những nội dung quan trọng mà tác giả đề cập đến đó là xác định các hình

thức xử lý văn bản sai trái như: Hình thức đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản; hình thức bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản; hình thức hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản; đính chính văn bản

Theo tác giả, việc xác định đúng hình thức bãi bỏ hay hủy bỏ đối với văn bản có sai trái sẽ giúp cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản sai trái, xử lý hoặc kiến nghị xử

lý đối với người, cơ quan đã ban hành văn bản sai trái đó đảm bảo chính xác, khách quan, đúng quy định của pháp luật

1.4.5 Trình tự, thủ tục kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật

Tác giả không chỉ nêu lên trình tự, thủ tục kiểm tra, xử lý đối với văn bản do Bộ Tư pháp kiểm tra mà còn đối với cả các văn bản do UBND tỉnh kiểm tra

Chương 2

THỰC TRẠNG KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

THANH HÓA 2.1 Những thành tựu và hạn chế trong công tác kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

2.1.1 Những kết quả đạt được trong hoạt động xây dựng, ban hành; kiểm tra, xử

lý văn bản quy phạm pháp luật

Thông qua các số liệu ban hành văn bản và các số liệu đã kiểm tra, tác giả thấy rằng công tác kiểm tra và xử lý VBQPPL trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ khi bắt đầu triển khai (từ năm 2004) đến nay đã đạt được những kết quả, góp phần tích cực trong việc đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Từ kết quả đạt được trong thực tiễn hoạt động xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý VBQPPL của HĐND và UBND trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, tác giả đã đánh giá một số

ưu điểm nổi bật trong xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản

2.1.2 Những bất cập trong việc xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Mặc dù đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận trong công tác ban hành, kiểm

Trang 11

tra và xử lý VBQPPL Song, so với yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra, công tác ban hành văn bản của UBND các cấp còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần khắc phục kịp thời Có thể thấy rõ những bất cập này qua các dẫn chứng phân tích cụ thể về những sai sót trong hệ thống VBQPPL của HĐND, UBND như: sai căn cứ ban hành văn bản; sai thẩm quyền ban hành văn bản; về nội dung văn bản; về thể thức và kỹ thuật trình bày; về quy trình xây dựng, thông qua và ban hành văn bản

Đồng thời tác giả cũng chỉ ra những hậu quả pháp lý của việc ban hành văn bản trái

pháp luật và đánh giá những nhược điểm trong hệ thống VBQPPL của HĐND, UBND

2.2 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong công tác xây dựng, ban hành; kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Thông qua những kết quả và hạn chế trong xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản của chính quyền địa phương, tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân chủ quan và khách quan làm ảnh hưởng đến công tác kiểm tra và xử lý VBQPPL của chính quyền địa phương trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá đó là các nguyên nhân về thể chế, về tổ chức, biên chế; về cơ sở dữ liệu và các điều kiện đảm bảo cung cấp thông tin cho công tác kiểm tra văn bản; về các điều kiện khác để phục vụ cho công tác kiểm tra - trang thiết bị, phương tiện, kinh phí và cơ sở vật chất

Chương 3

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA

Từ phân tích thực trạng hoạt động ban hành, kiểm tra và xử lý VBQPPL của HĐND và

UBND trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, xác định những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hạn chế của công tác này, tác giả rút ra các bài học kinh nghiệm sau:

1 Tăng cường công tác chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm tra

VBQPPL của chính quyền địa phương, biến công tác này thành hoạt động thường xuyên,

có kế hoạch, lộ trình triển khai chủ động; thoát khỏi tâm lý đùn đẩy, né tránh, tính chất vụ mùa, tùy nghi trong tiến hành của các cơ quan quản lý nhà nước

2 Nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động ban hành và kiểm tra

VBQPPL của chính quyền địa phương theo hướng quy định thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan dứt khoát, rõ ràng; ấn định quy trình, thủ tục tiến hành cụ thể bảo đảm cho

Ngày đăng: 12/02/2014, 11:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w