Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay Kết luận và kiến nghị nghiên cứu tiếp theo Danh mục các công trình nghiên cứu l
Trang 1Hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài
nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thanh Huyền
Khoa Luật Luận án TS ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 62 38 50 01 Người hướng dẫn: TS Vũ Quang; TS Nguyễn Thị Lan Hương
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luâ ̣n và sự điều chỉnh c ủa pháp luật về Quản lý
và Bảo vệ tài nguyên rừng (QL&BVTNR) ở Việt Nam hiện nay , nêu bật các yêu cầu đă ̣t
ra, cũng như xây dựng hệ thống các nguyên tắc đi ều chỉnh đối với pháp luâ ̣t QL&BVTNR; làm sáng tỏ vai trò của pháp luật đối với việc QL&BVTNR Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật QL&BVTNR ở nước ta Nghiên cứ u , đánh giá thực trạng của pháp luật QL&BVTNR hiện hành của Việt Nam, chỉ ra những ưu điểm và những mă ̣t còn ha ̣n chế , bất câ ̣p cần được khắc phu ̣c Trên cơ sở các vấn đề lý luâ ̣n và thực trạng pháp luật nêu trên, xác định các đi ̣nh hư ớng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về QL&BVTNR của nước
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện trạng mất rừng và suy thoái rừng đã và đang gây ra những hậu quả nặng nề đối với môi trường, ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân cũng như sự ổn định nhiều mặt của đất nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật và các chương trình, dự án nhằm BV&PTR Sự
nỗ lực đó đã đạt được kết quả tương đối khả quan đó là độ che phủ của tán rừng tăng lên hàng năm, năm 2010 là 39,5% [92] Tuy nhiên, chất lượng rừng vẫn ngày càng suy giảm do khai thác rừng quá mức cho phép, khai thác bất hợp pháp, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất rừng Nguyên nhân chủ yếu là hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực QL&BVTNR
còn thiếu đồng bộ và ổn định; pháp luật chưa tạo ra những “chủ rừng” đích thực vì quyền hưởng
Trang 2lợi từ rừng của những người làm nghề rừng, chưa giúp họ sống được bằng nghề rừng, làm giàu được từ rừng Các ưu đãi dành cho người quản lý, bảo vệ rừng thực sự khuyến khích họ gìn giữ, bảo vệ tài nguyên rừng Vì vậy, chủ thể nào được giao quản lý, bảo vệ, phát triển rừng cũng tìm cách nhanh chóng khai thác tài nguyên rừng Để giải bài toán này, chúng ta cần nghiên cứu xây dựng pháp luật QL&BVTNR phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, nền kinh tế thị trường, hội
nhập kinh tế quốc tế cũng như các yếu tố truyền thống, văn hóa Vì vậy, đề tài nghiên cứu hoàn
thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa thiết thực
cả về mặt lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Các công trình nghiên cứu về pháp luật bảo vệ rừng và quản lý nhà nước về bảo vệ rừng không nhiều, ở trong nước có một số công trình như: luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ của một số tác giả như: Nguyễn Hải Âu, Nguyễn Thanh Huyền, Hà Công Tuấn Ở nước ngoài có luận án tiến sĩ của Sofia Hirakuri “Can Law Save the Forests? Lesson from Finland and Brazil” và nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2007 “Forest law and sustainable development –
Addressing Contemporary Challenges Through Legal Reform”
Mặc dù vậy, các công trình này không nghiên cứu cụ thể về pháp luật QL&BVTNR ở Việt Nam hiện nay để đưa ra các khuyến nghị thích hợp, đồng thời, các công trình này chưa tập trung vào các vấn đề lý luận pháp luật liên quan đến pháp luật về QL&BVTNR ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên c ứu lý luận và thực tiễn pháp luật về QL&BVTNR ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp luật
về QL&BVTNR Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luâ ̣n và sự điều chỉnh c ủa pháp luật về QL&BVTNR ở Việt Nam hiện nay , nêu bật các yêu cầu đă ̣t ra , cũng như xây dựng hệ thống các nguyên tắc đối với pháp luật QL&BVTNR Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật QL&BVTNR ở nước ta
- Nghiên cứ u, đánh giá thực trạng của pháp luật QL&BVTNR hiện hành của Việt Nam chỉ
ra những ưu điểm và những mă ̣t còn ha ̣n chế, bất câ ̣p cần được khắc phu ̣c
- Trên cơ sở các vấn đề lý luâ ̣n và thực tr ạng pháp luật nêu trên, luâ ̣n án xác định các đi ̣nh hướng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật QL&BVTNR của nước ta hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 3Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về QL &BVTNR trong
hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào pháp luật về QL&BVTNR
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên phương pháp luận Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật và sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp; thống kê; so sánh; lịch sử và phương pháp chuyên gia
6 Những đóng góp mới của luận án
Luâ ̣n án là công trình chuyên khảo cấp tiến sĩ đầu tiên nghiên cứu pháp luâ ̣t về
QL&BVTNR ở Viê ̣t Nam Với mong muốn góp phần hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t về QL &BVTNR, luâ ̣n án có một số đóng góp mới sau đây:
- Luận án đã luâ ̣n giải nô ̣i hàm khái niê ̣m “rừng” , các tiêu xác định rừng theo quy định của Viê ̣t Nam và so sánh các tiêu chí đó với các quy đi ̣nh của các công ước quốc tế và các tổ chức quốc tế khác Nêu và phân tích khái niê ̣m, đă ̣c điểm tài nguyên rừng; khái niệm, đặc điểm QL&BVTNR Nêu lên vai trò của tài nguyên rừng, trên cơ sở đó làm nổi bâ ̣t tính cấp thiết của viê ̣c QL&BVTNR
- Đánh giá các vai trò của pháp luâ ̣t đối với viê ̣c QL &BVTNR Pháp luật c hính là cơ sở pháp lý cho hoạt động QL &BVTNR; xác định thẩm quyền của các chủ thể trong việc
QL&BVTNR; pháp luật là cơ sở cho việc quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng
- Xác định các yêu cầu đối với pháp luật QL&BVTNR
- Luận án đã xây dựng các nguyên tắc của pháp luâ ̣t QL&BVTNR Đây được xem là cơ sở
để ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này
- Luận án đưa ra các định hướng hoàn thiện pháp luật QL&BVTNR như: Quan điểm, đường lối của Đảng về hoàn thiện pháp luật QL&BVTNR; Bảo đảm quản lý của nhà nước đối với tài nguyên rừng;
- Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t về quản lý nhà nước đối với tài
nguyên rừng; hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm minh ba ̣ch hóa các quyền tài sản liên quan đến rừng và đất rừng; pháp luật về chủ rừng; pháp luật về bảo vệ thực vật, đô ̣ng vâ ̣t hoang dã; pháp luâ ̣t về ưu đãi bảo vê ̣ tài nguyên rừng; pháp luật về xử lý vi phạm trong QL&BVTNR và xây dựng
mô ̣t số văn bản pháp luâ ̣t mới trong lĩnh vực QL&BVTNR
- Luận án đề xuất các giải pháp nâng cao hiê ̣u quả thực hiê ̣n pháp luâ ̣t QL &BVTNR như: đổi mới quản lý nhà nước đối với tài nguyên r ừng; tăng cường công tác kiểm tra , giám sát việc
Trang 4thực hiê ̣n pháp luâ ̣t QL&BVTNR; tuyên truyền, phổ biến giáo du ̣c pháp luâ ̣t và tăng cường cơ sở
vâ ̣t chất cho hoa ̣t đô ̣ng QL&BVTNR
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Những kết q uả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo cho các cơ quan hữu quan trong quá trình hoa ̣ch đi ̣nh chính sách , xây dựng và hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t về QL &BVTNR ở Viê ̣t Nam Bên cạnh đó , luâ ̣n án cũng giúp những người hoa ̣t đô ̣ng trong lĩnh vực QL &BVTNR, các chủ rừng những kiến thức cần thiết trong quá trình thực thi pháp luật về QL &BVTNR ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay
Luâ ̣n án có thể được sử du ̣ng như nguồn tài liê ̣u tham khảo trong công tác nghiên cứu và giảng da ̣y khoa ho ̣c luâ ̣t môi trường , luâ ̣t lâm nghiê ̣p trong các trường chuyên luâ ̣t và các trường giảng dạy pháp luật lâm nghiệp
8 Kết cấu của luận án
Luận án được kết cấu gồm: Mở đầu, Phần I Tổng quan tình hình nghiên cứu; Phần II Nội dung luận án gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận của pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng Chương 2 Thực trạng pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay
Kết luận và kiến nghị nghiên cứu tiếp theo
Danh mục các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án của tác giả
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Phần I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Nội dung này, tác giả phân tích tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và ở nước ngoài có liên quan đến pháp luật bảo vệ, quản lý rừng và đưa ra nhận xét các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về QL&BVTNR vẫn chưa được các tác giả nghiên cứu và làm rõ như:
1) Rừng là gì ? Tài nguyên rừng là gì ? Quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng là gì ? Tại sao phải QL& BVTNR ?
Trang 52) Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về QL&BVTNR? Nội dung điều chỉnh? Nguyên tắc điều chỉnh? Vai trò của pháp luật trong việc QL&BVTNR? Các yêu cầu đối với pháp luật về QL&BVTNR ?
3) Phân tích một cách có hệ thống pháp luật về QL&BVTNR và chỉ ra những điểm còn chưa phù hợp?
4) Các định hướng và giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về QL&BVTRN chưa được đề cập một cách có hệ thống ?
Với những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về QL&BVTNR chưa được nghiên cứu nêu trên, tác giả khẳng định đề tài luận án tiến sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay” là một đề tài mới, chưa có một bài viết hay một công trình nghiên cứu nào tương tự
PHẦN II NỘI DUNG LUẬN ÁN
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT
QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG 1.1 Khái quát về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng 1.1.1 Khái niệm quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng
1.1.1.1 Khái niệm rừng
Rừng được phân tích theo quy định của pháp luật Việt Nam và so sánh với các quy định
của các tổ chức quốc tế “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật
rừng, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm: rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng” [58, Điều 3
khoản 1]
1.1.1.2 Khái niệm tài nguyên rừng
“Tài nguyên rừng là một loại tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo, là bộ phận quan
trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng trên đất lâm nghiệp, gồm có thực vật rừng, động vật rừng và những yếu tố tự nhiên có liên quan đến rừng (gọi chung là quần xã sinh vật)”
1.1.1.3 Khái niệm quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng
“Quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng là tổng hợp các hoạt động của các chủ thể có thẩm
quyền nhằm sắp xếp, tổ chức để giữ gìn và phát triển bền vững tài nguyên rừng”
Trang 61.1.2 Vai trò của quản lý và bảo vệ tài ngu yên rừng
Quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ và phát triển nguồn tài nguyên này Vai trò của hoạt động này nhằm bảo đảm giá trị phòng hộ và cân bằng sinh thái của tài nguyên rừng ; bảo đảm giá trị nhằm bảo tồn đa dạng sinh học ; bảo đảm giá trị kinh tế của tài nguyên rừng
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng 1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng
Pháp luật qua ̉n lý và bảo vê ̣ tài nguyên rừng là m ột lĩnh vực pháp luật bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội pha ́ t sinh có liên quan đến hoạt động quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng
Đối tượng điều chỉnh của lĩnh vực pháp luật về QL &BVTNR gồm các nhóm quan hê ̣ xã
hô ̣i liên quan đến hoa ̣t đô ̣ng quản lý tài ngu yên rừng của các chủ thể trong xã hô ̣i
Nhà nước - với tư cách là chủ thể đă ̣c biê ̣t thực hiê ̣n viê ̣c quản lý tài nguyên rừng bằng viê ̣c ban hành các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t để điều chỉnh các quan hê ̣ xã hô ̣i liên quan đến quản lý , bảo
vê ̣, sử du ̣ng và phát triển nguồn tài nguyên rừng ; tổ chức thực hiê ̣n các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t và bảo đảm cho các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t đó được thực thi hiê ̣u quả Các chủ thể khác được nhà nước giao, cho thuê tài nguyên rừng để thực hiê ̣n hoa ̣t đô ̣ng quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng
Phương pháp điều chỉnh pháp luâ ̣t trong lĩnh vực quản lý và bảo vê ̣ tài nguyên rừng là s ự kết hợp giữa các phương pháp mệnh lệnh, phương pháp thoả thuận và phương pháp hướng dẫn
1.2.2 Nô ̣i dung điều chỉnh pháp luâ ̣t đối với quản lý và bảo vê ̣ tài nguyên rƣ̀ng
1.2.2.1 Nhóm quy định pháp luật về quản lý tài nguyên rừng
Nhóm các quy phạm pháp luật về quản lý tài nguyên rừng gồm các quy định pháp luật sau : i) Các quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với tài nguyên rừng ii) Các quy định pháp luật về quản lý của chủ rừng đối với tài nguyên rừng
1.2.2.2 Nhóm quy định pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng
Nhóm này gồm: i) Quy định pháp luâ ̣t về bảo vê ̣ thực vâ ̣t , đô ̣ng vâ ̣t hoang dã ii) Quy đi ̣nh pháp luật về ưu đãi của nhà nước đối với chủ thể bảo vê ̣ tài nguyên rừng iii) Quy định pháp luật về vi phạm và xử lý vi pha ̣m các hà nh vi xâm ha ̣i tài nguyên rừng
1.2.3 Nguyên tắc điều chi ̉nh pháp luâ ̣t đối với quản lý và bảo vê ̣ tài nguyên rƣ̀ng
QL&BVTNR phải dựa trên các nguyên tắc sau: nguyên tắc phát triển bền vững tài nguyên rừng; nguyên tắc xác đi ̣nh rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước ; nguyên tắc kỹ thuật;
Trang 7nguyên tắc bình đẳng giữa người chăm sóc rừng và người thụ hưởng các giá trị từ rừng; nguyên tắc pháp chế
1.2.4 Vai tro ̀ của pháp luâ ̣t đối với quản lý và bảo vê ̣ tài nguyên rừng
Pháp luật là cơ sở pháp lý cho hoạt động QL&BVTNR; cho việc xác đi ̣nh thẩm quyền của các chủ thể QL&BVTNR; cho viê ̣c quản lý rừng bền vững và là cơ s ở cho viê ̣c cấp chứng chỉ rừng
1.2.5 Yêu cầu đối vơ ́ i pháp luâ ̣t về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng
1.2.5.1 Yêu cầu cu ̉ a kinh tế thi ̣ trường đối với pháp luâ ̣t về quản lý và bảo vê ̣ tài nguyên rừng
Kinh tế thị trường có cả tác động tích cực và tác động tiêu cực đến mọi hoạt động của đời sống
xã hội, trong đó có hoạt động QL&BVTNR Vì vậy, yêu cầu của nền kinh tế thị trường đặt ra với pháp luật QL&BVTNR cần khắc phục được những nhược điểm và phát huy được những giá trị tích cực để phát triển tài nguyên rừng bền vững
1.2.5.2 Yêu cầu cu ̉ a hô ̣i nhâ ̣p kinh tế đố i với pháp luâ ̣t về quản lý và bảo vê ̣ tài nguyên rừng
QL&BVTNR bền vững là mục tiêu của cả nhân loại Khi hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia các công ước quốc tế về bảo vệ tài nguyên rừng Vì vậy, yêu cầu này đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế về bảo vệ tài nguyên rừng
1.2.5.3 Yêu cầu qua ̉ n lý rừng bền vững đối với pháp luâ ̣t về quản lý và bảo vê ̣ tài nguyên rừng
Quản lý rừng bền vững đã trở thành một nguyên tắc đối với quản lý kinh doanh rừng đồng thời cũng là một tiêu chuẩn mà quản lý kinh doanh rừng phải đạt tới Công cụ hữu hiệu để quản
lý rừng bền vững chính là chứng chỉ rừng Các diện tích rừng khai thác phải được xác nhận là không ảnh hưởng đến việc bảo tồn tài nguyên rừng
1.2.5.4 Yêu cầu kế tục truyền thống văn hóa , luâ ̣t tu ̣c đối với pháp luâ ̣t về quản lý và bảo
vê ̣ tài nguyên rừng
Các yếu tố văn hóa, luật tục đối với việc QL&BVTNR cần được phát huy, chứ không nên coi pháp luật là công cụ duy nhất để quản lý và bảo vệ rừng
1.3 Quá trình phát triển của pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam 1.3.1 Pháp luật v ề quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng trước khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời
Nội dung này phân tích sự phát triển của pháp luật QL&BVTNR qua hai thời kỳ sau đây:
Trang 8i) Thời kỳ phong kiến, hầu hết các triều đại đều có các quy định về việc bảo vệ tài nguyên rừng từ triều vua Lý Thái Tổ đã định ra thuế sản vật núi rừng, triều Hậu Lê vấn đề bảo vệ rừng, xác định quyền sở hữu đối với tài nguyên rừng được quy định trong Quốc triều Hình luật, triều đại Nhà Nguyễn quy định chế độ thuế đối với lâm thổ sản và quy định việc trồng cây tại các lăng tẩm, cửa sông, cửa biển
ii) Thời kỳ thuộc Pháp
Nhà cầm quyền ban hành nhiều quy định về việc thu thuế đối với tài nguyên rừng và quy định chế độ khai thác đối với gỗ và các loại lâm sản khác Đặc biệt, chính quyền thực dân đã ra quyết định về việc xác lập các khu rừng cấm nhằm bảo vệ tài nguyên rừng
1.3.2 Pháp luật về quản ly ́ và bảo vê ̣ tài nguyên rừng của Nhà nước Viê ̣t Nam từ 1945 đến nay
Nội dung này phân tích sự phát triển của pháp luật QL&BVTNR qua hai giai đoạn i) Giai đoạn 1: Trước khi có Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng năm 1991
Thời kỳ này lĩnh vực QL&BVTNR chủ yếu được điều chỉnh bởi các quyết định, nghị định của chính phủ và các cơ quan nhà nước quản lý đối với tài nguyên rừng cũng thay đổi thường xuyên Đặc biệt, năm 1972, Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng được ban hành Năm 1976, Bộ Lâm nghiệp được thành lập
ii) Giai đoạn 2: Sau khi co ́ Luật Bảo vê ̣ và Phát triển Rừng
Quốc hội ban hành Luật BV&PTR năm 1991 thay thế Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng năm 1972 Năm 1995, Bộ NN&PTNT được thành lập và năm 2004, Luật BV&PTR mới được ban hành thay thế Luật BV&PTR năm 1991
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về QL&BVTNR, tôi rút ra một số kết luận như sau:
Thứ nhất, rừng là một hệ sinh thái có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển của con người, có thể xem rừng như là cái nôi nuôi dưỡng sự sống, không còn rừng nghĩa là sự sống trên hành tinh của chúng ta chấm dứt Vai trò của rừng không chỉ đối với từng cộng đồng, từng địa phương hay từng quốc gia mà nó phải được quan tâm, bảo vệ trên phạm vi toàn cầu Bảo vệ rừng
là trách nhiệm của tất cả chúng ta Chính vì vậy, chúng ta cần có cách thức phù hợp để QL&BVTR mà pháp luật đóng vai trò quan trọng, là công cụ hữu hiệu nhất để quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên này
Trang 9Thứ hai, pháp luật QL &BVTNR phải được điều chỉnh d ựa trên hệ thống các nguyên tắc phù hợp và xác định rõ nội dung điều chỉnh làm cơ sở để phân tích thực trạng pháp luật, đưa ra các đánh giá phù hợp trong chương 2 và đề xuất các giải pháp hoàn thiện trong chương 3
Thứ ba, pháp luật QL&BVTNR của Việt Nam hiện nay chịu ảnh hưởng rất nhiều từ yếu tố kinh tế thị trường, yếu tố hội nhập kinh tế, yếu tố quản lý rừng bền vững và yếu tố truyền thống, văn hóa Vì vậy, chúng ta cần chỉ ra được những tác động tích cực cũng như những tác động tiêu cực đến việc QL&BVTNR của các yếu tố đó Trên cơ sở đó, chúng ta ban hành những quy định pháp luật phù hợp nhằm phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của các yếu tố đó vào việc QL&BVTNR
Thứ tư, nghiên cứu sự phát triển của pháp luật QL&BVTNR trong lịch sử để tìm ra những bài học bổ ích và khắc phục những nhược điểm mà chúng ta đã mắc phải để quản lý và bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên này
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN
RỪNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Các quy định của pháp luật về quản lý tài nguyên rừng
2.1.1 Các quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với tài nguyên rừng
2.1.1.1 Quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về bô ̣ máy nhà nước quản lý tài nguyên rừng
Nội dung này phân tích các quy định pháp luật về bộ máy quản lý nhà nước đối với tài nguyên rừng gồm hệ thống các cơ quan quản lý thẩm quyền chung và cơ quan thẩm quyền chuyên môn
Cơ quan thẩm quyền chung bao gồm: chính phủ, UBND cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Cơ quan thẩm quyền chuyên môn là Cục Kiểm lâm trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT).Trên
cơ sở đó, tác giả đưa ra các đánh giá đối với các quy định pháp luật về bộ máy quản lý nhà nước về tài nguyên rừng
Quản lý tài nguyên rừng của nước ta mới chỉ dừng lại ở việc phân công phân nhiệm cho các cấp chứ chưa thể hiện sự phân quyền mạnh mẽ cho các cơ quan chức năng và địa phương các cấp Việc phân cấp giữa các bộ lại không được quy định và hướng dẫn cụ thể Bộ NN&PTNT thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên rừng còn Bộ TN&MT thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên đất Vì vậy, khi tiến hành giao, cho thuê rừng và đất rừng cho các đối tượng có nhu cầu cần có sự phối hợp rất chặt chẽ giữa Bộ TN&MT và Bộ NN&PTNT Hiện nay, chưa có một thông tư liên bộ nào về việc xác định cụ thể trách nhiệm của các bộ liên quan trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tài nguyên rừng như trách nhiệm
Trang 10giữa Bộ NN&PTNT với Bộ TNMT; giữa Bộ NN&PTNT với Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch…trong việc xác định các khu rừng có gắn với di tích lịch sử… ; giữa Bộ NN&PTNT với Bộ TN&MT và Bộ Quốc phòng trong việc xác định các diện tích đất rừng thuộc vào khu vực trọng yếu về an ninh quốc phòng
Việc trao quyền cho cơ quan kiểm lâm còn nhiều hạn chế Chúng ta vẫn chưa tìm ra cơ chế hữu hiệu nhất để lực lượng chuyên trách về bảo vệ rừng này phát huy đúng vai trò của mình
2.1.1.2 Quản lý nhà nước về quy hoạch, kế hoa ̣ch bảo vê ̣ rừng
Nội dung này phân tích thẩm quyền, trình tự duyệt quy hoạch, kế hoạch bảo vê ̣ rừng c ủa các
cơ quan nhà nước và chỉ ra những nội dung còn chưa hợp lý như việc thay đổi quy hoạch bảo vệ rừng tùy tiện vì mục tiêu phát triển kinh tế của các địa phương Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch rừng và đất rừng được xem là nòng cốt, xương sống của việc BV&PTR Nhìn và quy hoạch rừng và đất rừng, chúng ta có thể thấy được tổng thể lâm phận quốc gia, diện tích rừng hiện có và diện tích đất quy hoạch cho phát triển lâm nghiệp Một nền lâm nghiệp bền vững thì trước hết yêu cầu lâm phận quốc gia phải ổn định
2.1.1.3 Quản lý nhà nươ ́ c về phòng cháy, chữa cháy rừng
Trách nhiệm phòng cháy, chữa cháy rừng được quy định cho từng cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương và sự phối hợp tham gia của lực lượng cảnh sát và quân đội khi xảy ra cháy rừng nghiêm trọng Tuy nhiên, nhiều quy định về phòng cháy chữa cháy rừng còn chưa phù hợp, được tác giả đề cập như: việc xây dựng và duyệt phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; kinh phí đầu tư cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng còn chưa hợp lý
2.1.1.4 Quản lý nhà nước về giao rư ̀ ng, cho thuê rừng thu hồi rừng và chuyển mục đích sử dụng rừng
Nội dung này trình bày các quy định của pháp luật về giao, cho thuê rừng, thu hồi rừng và chuyển mục đích sử dụng rừng như: chủ thể được giao rừng, được thuê rừng; thẩm quyền giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi, chuyển mục đích và thủ tục giao, cho thuê rừng
2.1.2 Các quy định pháp luật về quản lý của chủ rừng đối với tài nguyên rừng
2.1.2.1 Quản lý tài nguyên rừng của hộ gia đình, cá nhân
Đối với từng loại rừng được giao, được thuê khác nhau mà chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân có các quyền và nghĩa vụ khác nhau Pháp luật quy định hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê nhiều loại rừng khác nhau, nhưng thực tế chủ thể này chủ yếu được giao loại rừng nghèo kiệt hoặc đất trống đồi núi trọc để trồng rừng còn rừng sản xuất là rừng tự nhiên thường được nhà nước giao cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nhà nước quản lý và khai thác Quyền
Trang 11hưởng lợi của hộ gia đình, cá nhân đối với loại rừng được giao, được thuê trong nhiều năm qua chưa được đảm bảo nên hiệu quả BV&PTR do chủ thể này mang lại vẫn còn khá khiêm tốn và
họ cũng chính là đối tượng vi phạm pháp luật lâm nghiệp nhiều nhất trong những năm vừa qua Năm 2010, đối tượng vi phạm lâm luật là hộ gia đình cá nhân là 19.701, năm 2011 là 14.825 và 8 tháng đầu năm 2012 số hộ gia đình, cá nhân vi phạm là 9.886 [90]
2.1.2.2 Quản lý tài nguyên rừng của tổ chức
Chủ rừng là các Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, các tổ chức nghiên cứu, đào tạo nghề về lâm nghiệp, các đơn vị lực lượng vũ trang được nhà nước giao rừng không thu tiền sử dụng rừng để thực hiện nhiệm vụ công ích Các chủ rừng là tổ chức kinh tế được nhà nước giao, cho thuê rừng để thực hiện nhiệm vụ kinh doanh và phát triển rừng Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được giao hoặc thuê rừng sản xuất là rừng trồng, đất trồng rừng sản xuất Các tổ chức, cá nhân nước ngoài được nhà nước cho thuê rừng sản xuất là rừng trồng, đất trồng rừng sản xuất Tác giả đã đánh giá những điểm hợp lý và chưa hợp lý đối với quy định về giao rừng, cho thuê rừng đối với từng chủ thể, đặc biệt là tổ chức kinh tế trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài Các quyền tài sản đối với từng chủ thể
2.2 Các quy định pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng
2.2.1 Quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về bảo vệ thực vật, đô ̣ng vâ ̣t hoang dã
Nội dung này, tác giả trình bày và đánh giá các quy định pháp luật về bảo vệ đa dạng loài; các quy định về xuất khẩu, nhập khẩu động vật hoang dã; quy định của pháp luật về quá cảnh thực vật, động vật hoang dã còn sống; quy định pháp luật về gây nuôi thực vật, động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm
Qua nghiên cứu cho thấy, cơ sở để đưa các loài thực vật, động vật vào hoặc ra khỏi danh mục là mức độ quý và hiếm của chúng không có hướng dẫn cụ thể Việc đưa các loài đã tuyệt chủng trong thiên nhiên vào danh mục bảo vệ là chưa hợp lý và không cần thiết Quy định pháp luật về gây nuôi thực vật, động vật hoang dã còn ít quan tâm đến việc khuyến khích một cách thực sự việc phát triển gây nuôi thực vật, động vật hoang dã Việc kiểm soát sự lan truyền các loài động vật, thực vật làm giống kể cả các loài lạ trong các khu vực khác trong lãnh thổ Việt Nam chưa được quan tâm nhiều Những quy định pháp luật về bảo vệ đa dạng nguồn gen nhưng chưa có quy định cụ thể về giống cây thuốc, trong khi cây thuốc lại có giá trị đặc biệt về dược học và ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo sức khoẻ cho con người
2.2.2 Quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về ưu đãi của nhà nước đối với chủ thể bảo vê ̣ tài nguyên rừng
Trang 12Nội dung này phân tích và đánh giá các quy định pháp luật khuyến khích bảo vệ tài nguyên rừng như: quy định về ưu đãi đầu tư, ưu đãi thuế, hưởng lợi của các chủ rừng
Về ưu đãi đầu tư hiện nay quá thấp nên khó có thể khuyến khích được các chủ thể bảo vệ rừng Nên chăng, nhà nước cần hỗ trợ đầu tư một cách có trọng điểm ở những địa phương có khả năng phát triển rừng sản xuất để phát triển kinh tế Như vậy, chúng ta sẽ thấy rõ được hiệu quả đầu tư chứ không nhất thiết phải đầu tư ít, dàn trải trong cả nước
Về ưu đãi thuế trong lĩnh vực lâm nghiệp được quy định ở nhiều sắc thuế như thuế tài nguyên, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất nông nghiệp
Về chính sách hưởng lợi, chính sách hưởng lợi dành cho ch ủ rừng là mô ̣t điểm tiến bô ̣ trong hê ̣ thống các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về QL &BVTNR Tuy nhiên, quyền hưởng lợi của các chủ rừng khi được nhà nước giao, cho thuê rừng, nhận khoán bảo vệ rừng chưa thực sự hấp dẫn chủ rừng
2.2.3 Quy định pháp luật về vi phạm, xử lý vi pha ̣m và giải quyết tranh chấp các hành vi xâm ha ̣i tài nguyên rừng
Phân tích các tội xâm phạm tài nguyên rừng được quy định trong Bộ luật hình sự và chỉ ra các các điểm bất cập trong việc xác định thiệt hại tài nguyên rừng để định tội Nêu các hình thức xử phạt và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi xâm hại tài nguyên rừng Nêu các cách thức giải quyết tranh chấp đối với rừng và đất trồng rừng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Nội dung pháp luật về QL&BVTNR ở Việt Nam hiện nay được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, trước tiên phải kể đến Luật BV&PTR, sau đó là hàng loạt các luật liên quan và các văn bản hướng dẫn dưới luật Tuy nhiên, nội dung điều chỉnh còn chưa hoàn thiện
và công tác tổ chức thực hiện pháp luật QL&BVTNR còn nhiều bất cập Qua việc phân tích những nội dung các quy định pháp luật QL&BVTNR, tác giả rút ra một số kết luận sau:
Một là, hệ thống pháp luật QL&BVTNR của Việt Nam khá đồ sộ và đầy đủ Tuy nhiên, các quy định liên quan đến quyền tài sản về rừng và đất rừng; quy định về bảo vệ và gây nuôi các loài thực vật, động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm; những quy định về phân cấp, phân quyền trong QL&BVTNR còn chưa phù hợp; các quy định về ưu đãi phát triển rừng và việc áp dụng các chế tài xử phạt vi phạm, giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực QL&BVTNR còn nhiều hạn chế
Trang 13Hai là, Các quy định pháp luật cũng chưa xác định rõ được trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước và trách nhiệm của các chủ rừng trong việc QL&BVTNR Vì vậy, trong thực tế các cơ quan quản lý vẫn đổ trách nhiệm cho nhau khi có các sai phạm xảy ra Đối với các chủ rừng cũng chỉ quy định một cách chung chung tại Điều 37 Luật BV&PTR năm 2004 mà chưa có các quy định cụ thể cho các chủ rừng khác nhau đối với các loại rừng khác nhau nên tình trạng rừng bị cháy, bị chặt phá vẫn diễn ra thường xuyên
Ba là, Các quy định pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu của việc quản lý rừng bền vững vẫn chưa đáp ứng được và bộ tiêu chuẩn chứng chỉ rừng Việt Nam vẫn chưa được thông qua nên không chỉ khó khăn trong quản lý bền vững các diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ mà còn khó khăn cả trong việc quản lý bền vững rừng sản xuất
Bốn là, Mặc dù chúng ta đã tham gia nhiều công ước quốc tế liên quan trực tiếp đến việc QL&BVTNR và nhiều văn bản luật cũng đã thể hiện được các cam kết này Tuy nhiên, việc thực hiện các cam kết quốc tế đó vẫn chưa đạt kết quả cao
Tóm lại, chương 2 của luận án đã phân tích sâu sắc các nội dung của pháp luật QL&BVTNR và đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của lĩnh vực pháp luật này Đây là cơ sở
để tác giả đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật QL&BVTNR ở chương 3 của luận án
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng
3.1.1 Cơ sơ ̉ hình thành các đi ̣nh hướng hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t về quản lý và bảo vê ̣ tài nguyên rừng
Định hướng hoàn thiện pháp luật QL&BVTNR dựa trên các cơ sở sau :
- Dựa trên nền tảng kinh tế - xã hội, pháp luật cần phải phản chiếu được thực tại của cơ sở kinh tế - xã hội và tạo được định hướng cho nền kinh tế, xã hội phát triển Dựa trên những tác động tích cực và tiêu cực đó của nền kinh tế thị trường mà nhà làm luật cần xây dựng pháp luật QL&BVTNR một mặt vừa đảm bảo được lợi ích kinh tế của các chủ rừng, vừa đảm bảo được mục tiêu quản lý rừng bền vững mà nhà nước đặt ra
- Dựa trên nền tảng văn hóa, truyền thống, chúng ta cần nhận thức đầy đủ về vai trò của các giá trị văn hóa và truyền thống ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện pháp luật nói chung và
Trang 14pháp luật về QL&BVTNR nói riêng Việt Nam chỉ thừa nhận một nguồn pháp luật duy nhất là văn bản quy phạm pháp luật mà không thừa nhận tập quán pháp hay luật tục Đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu bởi nhiều ngành khoa học xã hội, trong đó có ngành luật để có các đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về QL&BVTNR nói riêng Hiện nay, Luật BV&PTR năm 2004 đã công nhận cộng đồng dân cư là một trong số các chủ rừng nhưng các luật tục của các đồng bào lại chưa được phát huy, hơn nữa trong khi giao đất, giao rừng thì
có sự đan xen diện tích của nhiều chủ rừng khác nhau như rừng do các Ban quản lý rừng phòng
hộ, rừng đặc dụng, rừng do các công ty lâm nghiệp quản lý nên nhiều thôn bản có “Hương ước mới” về bảo vệ rừng nhưng chưa phát huy được là bao
- Dựa trên các hoạt động hợp tác quốc tế, để hoàn thiện pháp luật về QL&BVTNR chúng ta cần nghiên cứu kỹ các cam kết quốc tế mà chúng ta đã ký kết để việc thực thi các cam kết quốc tế đạt được kết quả cao nhất
3.1.2 Các định hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng
3.1.2.1 Quan điểm, đường lối của Đảng về hoàn thiện pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI của Đảng đã đánh giá thành quả bảo vệ rừng đó là: “Công tác bảo tồn thiên
nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học có tiến bộ Chương trình quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu bước đầu được triển khai” [34, tr.3] Đảng ta cũng nhận định những mặt hạn chế trong công
tác quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả chưa cao, còn lãng phí Tình trạng khai thác rừng, khai thác khoáng sản bất hợp pháp vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi, nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu, ngăn chặn kịp thời [34, tr.7] Đảng đề xuất quan điểm, đường lối phát triển lâm nghiệp toàn diện, bền vững, trong đó chú trọng cả rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng; tăng diện tích trồng rừng và độ che phủ rừng trên cơ sở khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư Có cơ chế, chính sách hỗ trợ để người dân có thể sống, làm giàu từ trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng
3.1.2.2 Bảo đảm quản lý nhà nước đối vơ ́ i tài nguyên rừng
Ngày nay, QL&BVTNR cần có nhận thức mới và quy định mới cho phù hợp, làm sao vừa bảo vệ được nguồn tài nguyên này một cách bền vững, vừa thúc đẩy được kinh tế phát triển và đảm bảo lợi ích hợp pháp cho các chủ thể tham gia quản lý, BV&PTR Để làm được như vậy, chúng ta cần có phương hướng hoàn thiện pháp luật về QL&BVTNR phù hợp ở những khía cạnh như: thực hiện tốt vai trò quản lý nhà nước đối với nguồn tài nguyên rừng Định hướng này cần
Trang 15được quy định rõ và thực hiện trong thực tế bằng việc quy định trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan chức năng cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan này Bên cạnh đó, cần mạnh dạn trao quyền cho lực lượng kiểm lâm để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng
3.1.2.3 Xây dư ̣ng mô ̣t số văn bản pháp luâ ̣t mới trong lĩnh vực quản lý và bảo vê ̣ tài nguyên rừng
Một là, ban hành bộ tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng Việt Nam
Đây là một trong những chính sách quan trọng vì hiện nay, việc xuất khẩu các sản phẩm từ gỗ và rừng nói chung của chúng ta đang chiếm một tỷ trọng quan trọng trong các mặt hàng xuất khẩu nhưng chúng ta lại phải nhập khẩu tới 80% nguyên liệu Trong khi đó, hầu hết các nước nhập khẩu các sản phẩm này đều đòi hỏi xuất xứ của sản phẩm phải có nguồn gốc rõ ràng, gỗ phải được khai thác một cách hợp pháp
Hai là, xây dựng Luật bảo tồn và phát triển thực vật, động vật hoang dã Hiện nay, hoạt
động quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển nguồn lợi thực vật, động vật hoang dã do nhiều cấp quản lý và căn cứ vào nhiều luật khác nhau để ban hành văn bản hướng dẫn như Luật Đa dạng Sinh học, Luật BV&PTR, Luật Bảo vệ Môi trường, các quy định pháp luật về thủy sản Vì vậy, trong thực tế hoạt động bảo tồn và phát triển nguồn lợi thực vật và động vật hoang dã còn gặp nhiều khó khăn, khó khăn từ gây nuôi, khó khăn trong khâu bảo tồn và khó khăn khi cấp giấy chứng nhận nguồn gốc Với những hạn chế đó, chúng ta cần hướng tới xây dựng Luật Bảo tồn và Phát triển thực vật, động vật hoang dã như các quốc gia khác đã từng làm Ví dụ: Trung Quốc đã ban hành Luật bảo vệ thực vật, động vật hoang dã (China’s Law on the Protection of Wildlife)
3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về qua ̉ n lý và bảo vê ̣ tài nguyên rừng
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với tài nguyên rừng
Tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với tài nguyên rừng ở các khía cạnh sau:
- Quy hoạch đất đai và quy hoạch bảo vệ rừng toàn quốc đồng bộ và ổn định Đây được xem là điều kiện để phát triển một ngành lâm nghiệp ổn định và bền vững Quy hoạch lâm phận không chỉ là diện tích đất trồng rừng mà yêu cầu các diện tích đất trồng rừng đó không được phép thay đổi chỉ vì mục tiêu phát triển kinh tế như việc chuyển đất trồng rừng phòng hộ thành đất trồng rừng sản xuất, đất trồng rừng sản xuất thành đất trồng cây công nghiệp