1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN mới NHẤT) rèn luyện một số kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua dạy học giải bài tập phần bất đẳng thức ở lớp 10 trường THPT

22 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 4,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì những lí do nêu trên tôi quyết định chọn đề tài SKKN là: “Rèn luyện một số kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua dạy học giải bài tập phần bất đẳng thức ở lớp 10 trường THP

Trang 1

MỤC LỤC

I MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Đối tượng nghiên cứu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 1

II NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2

2.2 Thực trạng của vấn đề 7

2.3 Một số phương pháp nhằm rèn luyện kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua dạy học giải bài tập toán phần Bất đẳng thức ở trường THPT 7

2.3.1 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng dự đoán 7

2.3.2 Rèn luyện cho học sinh thói quen làm rõ phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể sau khi đã giải quyết vấn đề đó 11

2.3.3 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng biến đổi bài toán về dạng thuận lợi cho việc tìm liên hệ với kiến thức đã có của học sinh và điều kiện đã cho của bài toán 12

2.3.4 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng nhìn nhận bài toán dưới nhiều góc độ khác nhau từ đó tìm nhiều cách giải 14

2.3.5 Rèn luyện cho học sinh thói quen không suy nghĩ cứng nhắc theo những quy tắc đã học trước đó, không máy móc áp dụng những mô hình đã gặp để ứng xử trước những tình huống mới 17

2.3.6 Rèn luyện cho học sinh thói quen khai thác, đào sâu kết quả bài toán 18

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 19

III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 20

3.1 Kết luận 20

3.2 Kiến nghị 20

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 2

I MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tinh thần của phương pháp giảng dạy mới là phát huy tính chủ động sángtạo và suy ngẫm của học sinh, chú ý tới sự hoạt động tích cực của học sinh trênlớp, cho học sinh trực tiếp tham gia vào bài giảng của thầy; dưới sự hướng dẫncủa thầy, học sinh có thể phát hiện ra vấn đề và suy nghĩ tìm cách giải quyết vấnđề…”

Ở trường phổ thông, dạy toán là dạy hoạt động toán học Học sinh phảihoạt động tích cực để tự chiếm lĩnh tri thức cho bản thân Cơ sở để học sinh hoạtđộng chính là những tri thức và kinh nghiệm đã có Đứng trước một vấn đề đặt

ra trong vốn tri thức mà bản thân đã có, đã tích luỹ được việc lựa chọn tri thứcnào, sử dụng ra làm sao luôn luôn là những câu hỏi lớn, mà việc trả lời đượcnhững câu hỏi đó là mấu chốt trong việc giải quyết vấn đề

Trong quá trình dạy học môn Toán ở trường phổ thông, việc dạy học giảibài tập toán học có một vị trí quan trọng hàng đầu, giúp học sinh nắm vững trithức, phát triển tư duy, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, ứng dụng toán học vào thựctiễn… Bài tập toán phần bất đẳng thức ở trường THPT là rất đa dạng và phongphú và có thể nói là khó; được sử dụng nhiều trong kì thi chọn học sinh giỏiTỉnh, học sinh giỏi Quốc gia, Quốc tế Vì thế thông qua dạy học giải bài tậptoán phần bất đẳng thức ở trường phổ thông ta có thể rèn luyện cho học sinhmột số kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề

Vì những lí do nêu trên tôi quyết định chọn đề tài SKKN là: “Rèn luyện một số kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua dạy học giải bài tập phần bất đẳng thức ở lớp 10 trường THPT’’

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề và xác định một số

kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề Từ đó đề xuất các phương thức nhằmrèn luyện một số kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua dạy học giảibài tập toán phần bất đẳng thức ở trường THPT

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là tập trung tìm hiểu về giải pháp đểnâng cao chất lượng dạy học giải bài tập toán phần bất đẳng thức ở trườngTHPT (lớp 10) đồng thời đề ra được các phương thức để rèn luyện các kỹ năng

đó thì sẽ góp phần triển khai đổi mới phương pháp dạy học toán ở trường phổthông

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu các tài liệu về lí luận và giảng dạy bộ môn Toán làm cơ sở đểxác định một số kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề Từ đó đề ra được cácphương thức để rèn luyện các kỹ năng đó thông qua dạy học giải bài tập toánphần bất đẳng thức ở trường THPT

Trang 3

Thực hiện việc trao đổi với giáo viên và học sinh, tham khảo các tài liệu

để đề ra các phương thức để rèn luyện các kỹ năng đó thông qua dạy học giải bàitập toán phần bất đẳng thức ở trường THPT

II NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

2.1.1 Cơ sở thực tiễn

Trong thực tế dạy học, học sinh thường gặp khó khăn khi vận dụng kiếnthức (khái niệm, cách thức, phương pháp ) vào giải quyết các bài tập cụ thể.Học sinh thường khó tách ra những chi tiết thứ yếu, không bản chất ra khỏi đốitượng nhận thức, không phát hiện những thuộc tính, mối quan hệ vốn có giữakiến thức và đối tượng Sở dĩ như vậy là do kiến thức không chắc chắn, kháiniệm trở nên chết cứng, không gắn liền cơ sở của kỹ năng

Sự dễ dàng hay khó khăn khi vận dụng kiến thức (hình thành kỹ năng) tùythuộc vào khả năng nhận dạng kiểu bài toán, phát hiện, nhìn thấy trong các dữliệu đã cho của bài toán, có những thuộc tính và những quan hệ là bản chất đểthực hiện giải bài toán đã cho Để minh họa ta xét ví dụ sau:

Bài toán 1 Tìm giá trị nhỏ nhất của hàm số

Có thể thấy rằng tri thức phản ánh trong sự vật thể hiện qua bài toán này

có rất nhiều: tổng của hai căn bậc hai, các tam thức bậc hai, Để tiến hành hoạtđộng giải toán ta phải lựa chọn tri thức phù hợp với mục tiêu là tìm giá trị nhỏ

nhất của hàm số y

, khi đó bài toán tìm giá trị nhỏ nhất của hàm số có thể được giải quyết(mục tiêu) và do đó ta có thể lựa chọn phép biến đổi:

và Như vậy hành động biến đổi sẽ nhằm đạt được mục tiêu:

Từ đó dễ dàng suy ra giá trị nhỏ nhất của hàm số đã cho bằng 2

Bài toán 2 Cho các số thực Chứng minh rằng:

Ta có thể biến đổi giả thiết như sau

Trang 4

(Vì nên ).

Đồng thời việc chứng minh tương đương với việc chứng minhphương trình bậc hai có hai nghiệm thực phân biệt

Từ đó việc giải bài toán này quy về giải bài toán đơn giản hơn

Kỹ năng chỉ được hình thành thông qua hoạt động trí tuệ, thông qua quátrình tư duy để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra Khi tiến hành tư duy sự vật thìchủ thể thường biến đổi, phân tích đối tượng để tách ra những khía cạnh, nhữngthuộc tính mới Quá trình tư duy diễn ra nhờ các thao tác phân tích - tổng hợp,trừu tượng hóa - khái quát hóa cho tới khi hình thành được mô hình về một mặtnào đó của đối tượng có ý nghĩa bản chất đối với việc giải bài toán đã cho.Chẳng hạn, xét bài toán:

Bài toán Cho hai số thực x và y Chứng minh rằng:

Tiến hành phân tích đối tượng ta nhận thấy đối tượng tư duy liên quan là mộttam thức bậc hai ẩn ( là tham số):

Để chứng minh tam thức bậc hai ẩn ( là tham số) ở vế trái luôn không âm

với mọi ta cần chứng minh:

Đó chính là sự diễn đạt lại bài toán 1 và tiếp theo chủ thể lại phải diễn đạt bàitoán theo khía cạnh mới

Cũng không loại trừ có chủ thể diễn đạt lại bài toán 1 như sau:

2.1.2 Kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề

a) Kỹ năng dùng dự đoán để phát hiện và giải quyết vấn đề.

Bài toán 1 Cho ba số thực dương thỏa mãn Chứng minh rằng

Để giải bài toán này trước hết chúng ta dự đoán dấu bằng ở bất đẳng thức trênxảy ra khi (Do vai trò của là như nhau, do đó ta áp dụng bấtđẳng thức Cauchy, như sau

(Để đảm bảo khi thì dấu bằng ở bất đẳng thức này xảy ra)

Tương tự:

Trang 5

Vậy giá trị nhỏ nhất của biểu thức bằng 4.

b) Kỹ năng dùng suy luận diễn dịch để phát hiện và giải quyết vấn đề

Bài toán 1 Cho các số thực thỏa mãn

Chứng minh rằng:

Ta có thể dùng các suy luận sau để giải bài toán này: “Vì vai trò của và trong bài toán bình đẳng; đồng thời vai trò của và trong bài toán bình

đẳng nên ta dự đoán dấu bằng ở xảy ra khi ;

Do đó ta biến đổi vế trái của (1) như sau:

Trang 6

Từ đó ta có điều phải chứng minh.

c) Kỹ năng biến đổi bài toán về dạng thuận lợi cho việc tìm liên hệ với kiến thức

đã có của học sinh và điều kiện đã cho của bài toán.

Bài toán Cho ba số thực Chứng minh rằng

Khi gặp bài toán này nếu ta biết biến đổi vế trái

và nghĩ đến bất đẳng thức

thì ta có thể giải được bài toán như sau

Trong mặt phẳng với hệ tọa độ xét vectơ

.Suy ra

Hay

Trang 7

d) Kỹ năng nhìn nhận vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau từ đó tìm nhiều cách giải quyết vấn đề đó

Bài toán Cho là ba số dương và

Từ đó suy ra điều phải chứng minh

+) Áp dụng bất đẳng thức Bunyakovsky ta có thể giải bài toán như sau:

Trang 8

Từ đó suy ra điều phải chứng minh.

Dựa trên những phân tích về kỹ năng và sự hình thành kỹ năng SKKN đãxác định được một số kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, phân tích và minhhọa các kỹ năng đó Từ đó, khẳng định việc rèn luyện cho học sinh một số kỹnăng phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua dạy học giải bài tập phần bất đẳngthức lớp 10 THPT là cần thiết và có thể thực hiện được

2.2 Thực trạng của vấn đề

Đối với đa số các em học sinh khi nói đến Bất đẳng thức các em luôn cho

đó là vấn đề khó, thường không đầu tư thời gian vào học tập và nghiên cứu thậmchí nhiều em còn bỏ qua phần này; Hơn nữa để dạy phần này có hiệu quả giáoviên cần phải đầu tư nhiều công sức thời gian để sưu tầm biên soạn các bài toántheo chủ đề theo dạng; Hơn nữa có quá nhiều dạng, mỗi bài còn có những cáchbiến đổi khác nhau; đó là chưa kể khi giảng dạy, chính giáo viên cũng khôngnhớ cách biến đổi, mà có nhớ thì học sinh sẽ tiếp thu một cách thụ động

Khi chứng minh bất đẳng thức, tìm giá trị lớn nhất nhỏ nhất của biểu thức,theo phương pháp cũ, học sinh bị thụ động bởi cách giải, những biến đổi quáphức tạp, phải nhớ rất nhiều các bất đẳng thức và áp dụng chúng thật khéo mới

có thể làm được bài toán yêu cầu

2.3 Một số phương pháp nhằm rèn luyện kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua dạy học giải bài tập toán phần Bất đẳng thức ở trường THPT

2.3.1 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng dự đoán.[1]

Tác dụng của phương thức này là nhắc nhở học sinh luôn quan tâm tới các

dự đoán có cơ sở khi giải một số bài toán về bất đẳng thức

Trong quá trình dạy học môn Toán, nhiều lúc người giáo viên thể hiện sự áp đặt

về mặt kiến thức Sở dĩ họ áp đặt về mặt kiến thức vì họ không tài nào lí giải chohọc sinh hiểu tại sao ta lại tiến hành biến đổi bài toán theo cách ta đang làm,chẳng hạn như đối với bài toán sau:

Bài toán 1 Cho hai số thực dương và thỏa mãn Tìm giá trị nhỏnhất của biểu thức

Đa số giáo viên chỉ dừng lại ở việc đưa ra lời giải:

Trang 9

a) Dự đoán bằng khái quát hóa.[2]

Ví dụ 1 Từ bất đẳng thức Cauchy đối với hai số không âm: “Với mọi ta

có Đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi ” và bất đẳng thứcCauchy đối với ba số không âm: “Với mọi ta có .Đẳng thức xảy ra khi và chỉ khi ”, bằng khái quát hóa ta có dự đoán:

Ví dụ 2 Để giải bài toán: “Chứng minh rằng với mọi tam giác , ta có

”, ta có thể nghĩ đến việc giải bài toán tổngquát hơn: “Cho ba số thực dương Chứng minh rằng với mọi tam giác

bài toán tổng quát này như sau: “Bất đẳng thức cần chứng minh tương đươngvới

Bài toán ban đầu là một trường hợp cụ thể của bài toán tổng quát

, nhưng việc tìm lời giải bài toán ban đầu là khó hơn rấtnhiều so với việc tìm lời giải bài toán tổng quát

b) Dự đoán bằng đặc biệt hoá.[3]

Bài toán Cho số nguyên Giả sử số dương thỏa mãn bất

minh trực tiếp điều này là rất khó vì thế ta thử chứng minh bài toán khi :

Trang 10

Như vậy việc chứng minh bài toán khi là thực hiện được Nhưngđiều quan trọng nhất là dựa vào kết quả của bài toán khi , ta có thể giảiđược bài toán như sau:

Với bài toán đã được chứng minh

Với , và số dương thỏa mãn điều kiện bài toán Lấy ba số bất

kì trong số đó Vì vai trò các số là bình đẳng nên không mấttính tổng quát ta có thể coi rằng ba số lấy ra là

Theo điều kiện bài toán và theo bất đẳng thức Bunyakovsky, ta có

Theo trường hợp , ta có là độ dài các cạnh của một tam giác

c) Dự đoán bằng tương tự hóa.[2]

Chẳng hạn khi gặp bài toán: “Cho số nguyên dương Giả sử

là các số dương sao cho:

Chứng minh rằng là độ dài ba cạnh của một tam giác với mọi và

”, Chúng ta nghĩ ngay tới bài toán tương tự ở 2.3.1.2 Vậy liệu ta cóthể giải bài toán này tương tự như với bài toán đó hay không?

Câu trả lời là có thể, và sau đây là lời giải:

Với , bất đẳng thức trên có dạng

Vì vai trò các số bình đẳng nên không mất tính tổng quát ta có thể giả sử

Khi đó ta chỉ cần chứng minh

Ta sẽ chứng minh điều này bằng phương pháp phản chứng

Thật vậy: giả sử , khi đó áp dụng bất đẳng thức Cauchy ta có

Trang 11

5 5

5 4

2

3

1 1 3

1 1 1

5

3

2 1

3 5

4

2 1

3 3

2 1 2

1

3 3

2 1

2 1

3 3

2 1 2

1 1

2 3

2 1

t t

t

t t

t t t

t

t t

t

t

t t

t t

t t t

t t

t t

t t

Theo điều kiện bài toán và theo bất đẳng thức Bunyakovsky, ta có

Trang 12

Suy ra:

Hay

Vì vậy theo trường hợp , ta có là độ dài ba cạnh của một tam giác

2.3.2 Rèn luyện cho học sinh thói quen làm rõ phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể sau khi đã giải quyết vấn đề đó.

Mục đích của phương thức này là nhấn mạnh tri thức phương pháp tronghoạt động phát hiện và giải quyết vấn đề

Ví dụ 1 Cho là các số thực dương Chứng minh rằng ta luôn có bất đẳngthức

Thật vậy:

Dễ thấy: “Trong 3 số bất kỳ luôn tồn tại hai số

Từ nhận xét này và vai trò trong bài toán bình đẳng nên không mất tínhtổng quát ta có thể giả sử hoặc Khi đó ta có

Dựa vào bổ đề: “Trong 3 số bất kỳ luôn tồn tại hai số

sao cho hoặc ” ( là số thực bất kỳ)”

Sau đó chứng minh Từ đó suy ra

Vận dụng phương pháp này ta có thể giải được rất nhiều bài toán, chẳng hạn:

Ví dụ 2 Cho là các số thực không âm thoả mãn

Chứng minh rằng:

Chứng minh

Trang 13

Do vai trò trong bài toán trên là bình đẳng nên không mất tính tổng quát ta

có thể giả sử hoặc Khi đó ta có:

Khi giải một bài toán, một phương pháp tổng quát là tìm cách đưa bàitoán phải giải về một bài toán đơn giản hơn, sao cho nếu giải được bài toán nàythì sẽ giải được bài toán đã cho (nhờ áp dụng kết quả hoặc phương pháp giải bàitoán đơn giản đó)

Chẳng hạn:

Trang 14

Bài toán 1 Cho và là hai số thỏa mãn điều kiện

+) Để giải bài toán này học sinh có thể viết lại giả thiết dưới dạng:

; Đồng thời biến đổi bất đẳng thức cần chứng minh tương đương với:

Bài toán 2 Cho ba số thực Chứng minh rằng

Để giải bài toán này ta có thể nghĩ đến việc biến đổi bất đẳng thức cần chứngminh tương đương với

Xem vế trái của bất đẳng thức này là tam thức bậc hai ẩn

Như vậy ta cần chứng minh với mọi

Để chứng minh điều này ta có thể nghĩ đến việc biến đổi  z về dạng

xem là tam thức bậc hai ẩn

Từ đó suy ra

Bài toán 3 Cho là các số thực thay đổi Tìm giá trị nhỏ nhất của biểu thức

Trang 15

Để giải bài toán này ta phải biến đổi bài toán về dạng thuận lợi hơn, chẳng hạnchứng minh với là một biểu thức chỉ chứa một biến:

Trong mặt phẳng với hệ tọa độ , xét

Ta có

Do đó

(Dấu bằng ở bất đẳng thức này xảy ra khi là số t là số thực bất kì)

Như vậy bài toán giải được khi ta giải được bài toán: “Tìm giá trị nhỏ nhất củahàm số ” Bài toán này đơn giản hơn bài toán ban đầu,

ta tìm được giá trị nhỏ nhất của hàm số tại

Vậy giá trị nhỏ nhất của là 2  3

2.3.4 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng nhìn nhận bài toán dưới nhiều góc độ khác nhau từ đó tìm nhiều cách giải.

Bài toán 1 Chứng minh rằng, nếu và thì

Để giải bài toán này học sinh có thể định hướng theo một trong các cách sau:

Định hướng 1 Để chứng minh một bất đẳng thức thì định hướng đầu tiên ta có

thể nghĩ đến là biến đổi bất đẳng thức đó tương đương với một bất đẳng thứcđúng có dạng tích của các số không âm luôn không âm hoặc tổng của các sốkhông âm luôn không âm từ đó ta có thể chứng minh theo các cách sau:

Cách 2 Vì vai trò của a và b trong bài toán bình đẳng nên không mất tính tổng

quát ta có thể giả sử: Khi đó

)

Định hướng 2 Để chứng minh một bất đẳng thức thì định hướng thứ hai ta có

thể nghĩ đến là dựa vào các bất đẳng thức đúng suy ra bất đẳng thức cần chứngminh

+) Dựa vào giả thiết của bài toán ( và ) và bất đẳng thức cần chứngminh ta nghĩ ngay đến bất đẳng thức Cauchy Tùy thuộc vào khả năng vận dụngkhéo léo bất đẳng thức Cauchy của học sinh mà các em có thể chứng minh theo các sau:

Cách 4 Áp dụng bất đẳng thức Cauchy, ta có

Ngày đăng: 29/03/2022, 19:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sự dễ dàng hay khĩ khăn khi vận dụng kiến thức (hình thành kỹ năng) tùy thuộc vào khả năng nhận dạng kiểu bài tốn, phát hiện, nhìn thấy trong các dữ liệu đã cho của bài tốn, cĩ những thuộc tính và những quan hệ là bản chất để thực hiện giải bài tốn đã cho - (SKKN mới NHẤT) rèn luyện một số kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua dạy học giải bài tập phần bất đẳng thức ở lớp 10 trường THPT
d ễ dàng hay khĩ khăn khi vận dụng kiến thức (hình thành kỹ năng) tùy thuộc vào khả năng nhận dạng kiểu bài tốn, phát hiện, nhìn thấy trong các dữ liệu đã cho của bài tốn, cĩ những thuộc tính và những quan hệ là bản chất để thực hiện giải bài tốn đã cho (Trang 3)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w