1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN mới NHẤT) một số biện pháp rèn luyện kỹ năng mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận cho học sinh THPT

17 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 205,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều học sinh không biết mở bài cần làm gì, kết bài cần làm gì, không biết nên dẫn dắt thế nào, giới thiệu vấn đề cần nghị luận ra sao, làm sao để khép lại được vấn đề cần nghị luận và

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

2.3.1.Các biện pháp rèn luyện kỹ năng viết phần mở bài 5

2.3.1.3 Đoán định luận đề được giới thiệu trong đoạn văn mở bài 7

2.3.1.4 Chữa lỗi để hoàn chỉnh đoạn văn mở bài 7

2.3.1.5 Hướng dẫn học sinh tự viết phần mở bài 8 2.3.2 Các biện pháp rèn luyện kỹ năng viết phần kết bài 9

2.3.2.3 Đoán định luận đề được triển khai trong đoạn văn kết bài 10

2.3.2.5 Hướng dẫn học sinh tự viết phần kết bài 11

Trang 2

I MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Có thể nói, văn nghị luận là loại văn phổ biến và có vai trò quan trọng nhất đối với học sinh trong trường phổ thông hiện nay Phần mở bài, kết bài trong một bài văn nói chung, văn nghị luận nói riêng tuy ngắn và chỉ chiếm một

số điểm khá khiêm tốn nhưng nếu thiếu một trong hai phần này thì bài viết đó chưa thể xem là một bài văn Vì nó chưa hoàn chỉnh và chưa đảm bảo được bố

cục, yêu cầu của một bài văn Cha ông ta thường nói: "Vạn sự khởi đầu nan", M Goor-ki lại cho rằng: "Khó hơn cả là phần mở đầu, cụ thể là câu đầu…" điều

này hoàn toàn đúng Không ít bạn học sinh cảm thấy "cứng tay" và mất rất nhiều thời gian cho phần mở bài Viết được phần mở bài các bạn mới thông mạch cảm xúc để viết được bài văn nghị luận đó Lại rất nhiều bạn học sinh "buông tay" khi viết phần kết bài vì cho rằng bài làm như thế là "ok", là "xong" rồi mình chỉ cần viết thêm đôi ba câu thế nào cũng được Thật vậy, để viết được một mở bài, kết bài đúng trong bài văn nghị luận đã khó và để có một mở bài, kết bài hay, sáng tạo, ấn tượng lại còn khó hơn Chính vì thế, việc giúp các em có cách viết

mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận vừa đúng, vừa hay là việc làm luôn cần thiết

Hiện nay, kỹ năng làm văn, đặc biệt là kỹ năng làm văn nghị luận của các

em học sinh còn rất kém Nhiều học sinh không biết mở bài cần làm gì, kết bài cần làm gì, không biết nên dẫn dắt thế nào, giới thiệu vấn đề cần nghị luận ra sao, làm sao để khép lại được vấn đề cần nghị luận và lưu lại cảm xúc trong lòng người đọc Và thực tế nhiều bài viết của các em trở thành nực cười, vớ vẩn, tào lao…

Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn đã nhiều năm, lại hàng ngày, hàng giờ phải chứng kiến thực trạng đó tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: "

Một số biện pháp rèn kỹ năng mở bài, kết bài trong bài văn Nghị luận cho học sinh THPT" làm vấn đề nghiên với mong muốn góp thêm một số kinh nghiệm

nhỏ của bản thân để nâng cao kỹ năng viết đoạn mở bài, kết bài cho học sinh trong quá trình viết bài văn nghị luận

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Khi quyết định lựa chọn đề tài này, mục đích nghiên cứu của tôi là nhằm rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết đúng, đủ và tiến tới viết hay phần mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận, tránh được những lỗi đáng tiếc trong quá trình làm bài và mục đích cuối cùng là để cải thiện, nâng cao kỹ năng làm văn, nâng cao chất lượng bộ môn

Bản chất cần làm rõ trong đề tài này là từ chỗ nhận thức đúng được vai trò, tầm quan trọng phần mở bài, kết bài trong bài văn, giáo viên phải giúp các

em hình thành được kỹ năng, nếp suy nghĩ về cách mở bài, kết bài vừa “đúng” vừa “hay” và các em phải biết viết được những phần mở bài, kết bài “đúng” –

“hay” như thế (nghĩa là chúng ta không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà phải gắn liền

lý thuyết với thực hành, học sinh phải tự mình làm được dựa trên những kinh

Trang 3

nghiệm giáo viên đã cung cấp) Giáo viên dạy cho học sinh nắm được cả kiến thức lẫn kỹ năng làm bài

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài này nhằm nghiên cứu về một số biện pháp rèn luyện kỹ năng mở bài, kết bài trong bài văn nghị luận cho học sinh THPT.

Đề tài nghiên cứu này có thể áp dụng cho cả phần nghị luận văn học và nghị luận xã hội của phân môn Làm văn trong chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn THPT

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Để làm sáng rõ đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp phân loại

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp thực nghiệm, đối chứng

- Phương pháp tổng hợp

Trang 4

II NỘI DUNG 2.1.Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm đoạn văn

Về hình thức: Đoạn văn là một phần của văn bản, nó bao gồm nhiều câu liên kết chặt chẽ với nhau Nó được tính từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến chấm qua hàng

Về nội dung: Mỗi đoạn văn triển khai một ý hoặc một nội dung tương đối trọn vẹn

Yêu cầu của một đoạn văn: một đoạn văn cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

“Tập trung làm rõ một ý chung, một chủ đề chung thống nhất và duy nhất

Liên kết chặt chẽ với đoạn văn đứng trước và sau nó

Diễn đạt chính xác, trong sáng, gợi cảm, hùng hồn” [2; tr 62]

2.1.2 Đoạn văn mở bài

2.1.2.1 Nhiệm vụ của đoạn văn mở bài

Mở bài có nhiệm vụ “giới thiệu vấn đề sẽ được bàn luận trong bài văn, đồng thời khơi gợi, lôi cuốn sự chú ý của người đọc đối với vấn đề đó” [1; tr24]

2.1.2.2 Nguyên tắc mở bài

Mở bài cần giới thiệu chính xác, ngắn gọn vấn đề cần nghị luận “Nếu đề bài yêu cầu giải thích, chứng minh, phân tích hay bình luận một ý kiến thì phần

mở bài phải dẫn lại nguyên văn ý kiến ấy” [1; tr 24]

“Mở bài chỉ nêu ý khái quát Học sinh không được lấn sang phần thân bài, không giải thích, minh họa, hay nhận xét ý kiến nêu trong đề bài” [1; tr 24]

2.1.2.3 Cách viết mở bài

Có hai cách mở bài:

Mở bài trực tiếp:

Cha ông ta thường nói "khai môn kiến sơn" - Mở cửa sổ thấy núi Cách này là cách vào thẳng vấn đề, nó thường ngắn gọn, dễ làm nhưng đôi khi kém phần hấp dẫn nên thường dành cho đối tượng học sinh yếu, kém, trung bình

Mở bài gián tiếp: Đi từ xa đến gần, giới thiệu ý dẫn nhập vào đề, cách

làm này tạo cho bài viết không khí tự nhiên, đậm chất Văn Mở bài gián tiếp lại

có các cách sau: diễn dịch, quy nạp, tương liên (tương đồng), tương phản (đối lập)

2.1.2.4 Điều kiện để có một mở bài hay

Mở bài muốn “hay” trước hết phải “đúng” Viết “hay” trước hết là viết cho “đúng” : Đúng yêu cầu, đúng kiến thức, đúng kiểu bài, đúng lập trường,…

Từ viết “đúng” đến viết “hay” Học sinh cần có cách mở bài độc đáo, lôi cuốn sự chú ý của người đọc với vấn đề mình sẽ viết Bên cạnh đó, học sinh phải vào bài một cách tự nhiên Tránh làm văn một cách vụng về, gượng ép gây cho người đọc cảm giác khó chịu bởi sự giả tạo

Trang 5

2.1.3 Đoạn văn kết bài

2.1.3.1 Nhiệm vụ của đoạn văn kết bài

Kết bài có nhiệm vụ “kết thúc vấn đề đặt ra ở phần mở bài và đã giải quyết ở phần thân bài” [1; tr 27]

2.1.3.2 Nguyên tắc kết bài

Kết bài phải thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở phần thân bài

“Phần kết bài chỉ nêu những ý khái quát, thiên về tổng kết, đánh giá Không lan man hay lặp lại cụ thể những gì đã trình bày ở thân bài hoặc lặp lại nguyên văn lời lẽ của phần mở bài” [1; tr 27]

2.1.3.3 Cách viết kết bài

Có nhiều cách viết kết bài khác nhau, nhưng nếu đặt nó trong thế chiếu ứng với phần mở bài, ta có 2 cách kết bài: kết khép và kết mở

Kết khép: là kiểu kết bài khép lại vấn đề bằng cách tóm lược và nhấn

mạnh những ý quan trọng nhất đã bàn luận trong bài

Kết mở : là kiểu kết bài nhằm bàn luận, mở rộng, nâng cao vấn đề và gợi

ra trường liên tưởng, suy nghĩ ở người đọc, người nghe Kết bài mở lại chia thành 3 kiểu: phát triển, vận dụng, liên tưởng

2.1.3.4 Điều kiện để có một kết bài hay

Cũng như phần mở bài, một kết bài hay trước hết kết bài đó phải “đúng”: đúng nguyên tắc, đúng cách

Cho nên, để có một kết bài hay học sinh phải từ nền cơ bản "đúng" ấy mà

đi lên "hay"

2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

Thực tế cho thấy, hiện nay kỹ năng diễn đạt của một số bộ phận không nhỏ học sinh ở trường phổ thông còn khá yếu Nhiều học sinh lơ là, xem nhẹ việc việc rèn luyện kỹ năng làm văn (trong đó có kỹ năng viết đoạn mở bài, kết bài) dẫn đến hệ quả tất yếu là chất lượng bài làm văn thấp và có xu hướng giảm sút Biểu hiện rõ nét của đa số học sinh trước một đề văn là thường tỏ ra lúng túng, lúng túng ngay ở kỹ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý, huy động kiến thức, ngôn ngữ,… Nhiều học sinh lại bỏ qua tất cả các khâu đó, cứ cầm được đề là bắt tay vào viết, nghĩ sao viết vậy, vừa viết vừa nghĩ, mò mẫm làm bài mà không hề định hướng bài viết của mình sẽ viết gì, viết như thế nào? Lắp ghép câu chữ một cách tùy tiện, lộn xộn, cố "nặn" ra chữ để viết và đến lúc không nghĩ ra gì thì kết thúc bài viết, mà không biết rằng kết thúc bài viết mình phải làm được gì

Trong khi đó, thời lượng dành cho một tiết học chỉ có 45 phút ,trong một tiết, giáo viên còn phải cung cấp kiến thức lí thuyết Vì vậy, để có thể giúp các

em có được kỹ năng viết đoạn mở bài, kết bài, kỹ năng làm một bài văn hoàn chỉnh là rất khó Hơn nữa, ngay từ lớp 10 (thậm chí từ bậc THCS) các em đã phải làm rất nhiều bài văn nghị luận nhưng kỹ năng làm các bài này thì đến lớp

12 các em mới được học một cách bài bản

Với xu hướng thi cử hiện nay, chỉ còn môn Ngữ văn là thi theo hình thức

tự luận nên việc học môn Văn cũng đòi hỏi học sinh phải đầu tư thời gian nhiều

Trang 6

hơn Phải chăng đây cũng là lí do khiến học sinh vốn đã không mấy hứng thú với môn văn giờ lại càng ngại học văn, chán học văn hơn? Từ đó dẫn đến kết quả làm bài chưa cao

Đó vẫn là những trở ngại lớn đang đặt ra, đòi hỏi chúng ta phải chung tay giải quyết

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trọng việc rèn luyện kỹ năng viết đoạn mở bài, kết bài cho học sinh nhưng kết quả vẫn chưa được như mong đợi Vậy, làm thế nào để rèn luyện và nâng cao kỹ năng viết đoạn mở bài, kết bài nói riêng và

kỹ năng làm văn nghị luận nói chung của học sinh ? Đây có lẽ vẫn là một câu hỏi khiến nhiều giáo viên còn băn khoăn, trăn trở

2.3 Các biện pháp cụ thể

2.3.1 Các biện pháp rèn luyện kỹ năng viết phần mở bài

2.3.1.1 Nhận diện đoạn văn mở bài: Trước khi viết đoạn văn mở bài, học sinh

phải nhận diện được nó

Ví dụ: Trong bốn đoạn văn sau, đoạn nào có chức năng mở bài? vì sao?

Đoạn 1: Tục ngữ được xem là túi khôn của nhân loại Tục ngữ thường là

những câu nói đúc rút những kinh nghiệm quý báu trong thực tiễn của cha ông

ta qua bao đời nay với những triết lý sâu sắc Bàn về mối quan hệ giữa bản chất

bên trong với bản chất bên ngoài của sự vật hiện tượng ông cha ta có câu: "Tốt

gỗ hơn tốt nước sơn".

Đoạn 2: Thơ ca sinh ra từ tâm hồn con người nhưng làm cho con người

phải ngạc nhiên vì nó Thơ đẹp quá song cũng giản dị quá Nhà thơ và cuộc sống gắn bó hữu cơ với nhau, không thể có cái này mà thiếu cái kia Hãy trả cho thơ vào cuộc sống sau khi đã chắt lọc thơ từ cuộc sống, Phôn-tan đã nói:

Bạn ơi hãy học suy nghĩ bằng trái tim

Và hãy học cảm xúc bằng lý trí.

Thơ là thế đó, không phải chỉ là "sự im lặng giữa các từ", là "tiếng lòng"

mà còn là sự tỉnh táo trong cảm xúc

Đoạn 3: Đại văn hào Nga Huy-gô từng viết: "Có một cảnh tượng lớn hơn

biển ấy là trời, có một cảnh tượng lớn hơn trời ấy là thế giới bên trong của con người" đọc bài thơ này, mới đầu ta tưởng là một bài thơ vịnh cảnh rất quen

thuộc trong cổ thi nhưng cuối cùng ta bắt gặp một nghị lực phi thường, một thế

giới mênh mông như thể tâm hồn Bác Đúng là "Lên đỉnh cao của sự vĩ đại ta gặp sự giản dị" (L.Tônxtôi).

Đoạn 4: Nhắc đến Nam Cao là nhắc đến nhà văn hiện thực xuất sắc nhất

của dòng văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, ông cũng là nhà văn lớn của văn học Việt Nam thế kỷ XX Trước cách mạng, Nam Cao tập trung vào hai đề tài chính: Người nông dân nghèo và người trí thức nghèo Ở đề tài người nông

dân ta không thể không nhắc đến kiệt tác "Chí Phèo, tác phẩm chính thức đánh

dấu tên tuổi của Nam Cao giữa làng văn Việt Nam Với tác phẩm này, Nam Cao

không đi sâu vào vấn đề "đói cơm rách áo" như các nhà văn hiện thực cùng thời

mà ông đi vào vấn đề còn nóng bỏng hơn: hậu quả của đói cơm rách áo, là tha

Trang 7

hóa, lưu manh hóa ở con người Chí Phèo, nhân vật chính trong tác phẩm là hiện thân của nỗi thống khổ ấy

Yêu cầu họ sinh căn cứ vào cấu tạo, chức năng của đoạn văn mở bài để thấy được trong 4 đoạn văn trên, đoạn 1 + 4 là đoạn văn mở bài, đoạn 2 + 3 không phải là đoạn văn mở bài vì:

- Đoạn 1: Câu 1, 2: dẫn dắt vấn đề: tác dụng, vai trò, ý nghĩa của tục ngữ Câu 3 giới thiệu vấn đề cần nghị luận và giới hạn vấn đề: giới thiệu câu tục ngữ cần bàn luận

- Đoạn 4: Câu 1 -> 4 giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, vị trí của Nam Cao, các đề tài chính, nội dung cốt lõi trong đề tài người nông dân và tác phẩm

Chí Phèo

Câu 5: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận và giới hạn vấn đề

- Đoạn 2: Là đoạn văn đi bàn bạc về mối quan hệ thơ - cuộc sống

- Đoạn 3: Đoạn văn ở phần cuối của thân bài trong phân tích bài thơ

Chiều tối - Hồ Chí Minh.

2.3.1.2 Đánh giá đoạn văn mở bài

Muốn viết được phần mở bài, hs cũng phải đánh giá được nó Trên cơ sở

đó mà học tập hay rút kinh nghiệm cho mình khi viết

Ví dụ: Phân tích giá trị nghệ thuật của tình huống truyện trong tác phẩm

Vợ nhặt của Kim Lân.

Mở bài 1: “Kim Lân sinh năm 1920, tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài,

quê ở Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Kim Lân bắt đầu

viết truyện ngắn từ năm 1941 Tác phẩm của ông được đăng trên các báo Tiểu thuyết thứ Bảy và Trung Bắc chủ nhật Ông là tác giả của các tập truyện ngắn: Nên vợ nên chồng (1955), Con chó xấu xí (1962) Truyện ngắn Vợ nhặt lúc đầu

có tên gọi là Xóm ngụ cư Tác phẩm được viết ngay sau khi Cách mạng tháng

Tám thành công Sau khi hòa bình lập lại, nhà văn dựa vào một cốt truyện cũ và

viết lại tác phẩm này Vợ nhặt được in trong tập Con chó xấu xí Đây là tác

phẩm có tình huống truyện đặc sắc” [3; tr 112]

Mở bài 2: Truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân được viết ngay sau

khi Cách mạng tháng Tám thành công Cái tên mà tác giả chọn đặt cho truyện ngắn này đã cho thấy một tình huống rất "có vấn đề" của câu chuyện được kể

Từ truyện "nhặt được vợ" của Tràng - nhân vật chính trong tác phẩm - đúng vào

những ngày đói thê thảm của năm Ất Dậu (1945), nhà văn đã thâu tóm trong đó không chỉ cái bi kịch và khát vọng sống của một con người mà còn phản ánh trọn vẹn tấn bi kịch lịch sử và khát vọng sống, xu thế tất yếu của dân tộc Tình

huống "nhặt được vợ" (như nhan đề của truyện ngắn đã nêu rõ) có vai trò quyết

định đối với toàn bộ giá trị nghệ thuật và nội dung của tác phẩm [3; tr 112]

Mở bài 3: “Đọc Vợ nhặt của Kim Lân, cái ấn tượng đậm nét nhất mà

truyện ngắn để lại trong tâm trí người đọc là hình ảnh Tràng dắt về "người vợ theo" trong cái cảnh "tối sầm lại vì đói khát" của năm Ất Dậu Sự lựa chọn đầy tao bạo của con người trong tình huống trớ trêu ấy cũng là sự lựa chọn của cả một cộng đồng: phải sống và làm người, phải vượt lên cái đói và cái chết Đó

Trang 8

cũng là tình huống của lịch sử Có thể nói, thành công của Vợ nhặt trước hết là

thành công của tình huống truyện” [3; tr 113]

Trong 3 cách mở bài trên, rõ ràng cách mở bài thứ 3 đúng và hay nhất, vì cách mở bài này dẫn dắt tự nhiên tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, lại nói rõ được vấn đề cần nghị luận và nhấn mạnh vào nó

Còn 2 cách mở bài 1 và 2 chưa đạt yêu cầu vì: mở bài 1 giới thiệu quá nhiều về tác giả trong khi đề bài yêu cầu phân tích giá trị tình huống truyện Mở bài 2 có giới thiệu tình huống truyện nhưng lại nhấn mạnh rằng nó có vai trò quyết định toàn bộ giá trị nghệ thuật và nội dung (nó sẽ làm người đọc lầm tưởng rằng đề bài đang đòi hỏi phân tích toàn bộ giá trị của tình huống truyện, trong khi đề bài chỉ yêu cầu giá trị nghệ thuật)

2.3.1.3 Đoán định luận đề được giới thiệu trong đoạn văn mở bài

Ví dụ: Xác định vấn đề được triển khai trong các đoạn văn mở bài sau.

Mở bài: Hỡi đồng bào cả nước,

" Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hành phúc"

Lời bất hủ ấy ở trong bản "Tuyên ngôn Độc lập" năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm

1791 cũng nói:

"Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được

tự do và bình đẳng về quyền lợi"

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được [3, tr 113]

Mở bài: “Năm thập kỷ trước đây, khi Nam Cao quyết định bắt tay vào

viết Cái lò gạch cũ - tên đầu tiên của Chí Phèo thì trong văn học hiện thực phê

phán, đề tài nông thôn đã qua mùa nở rộ, và những sáng tác thành công về nông dân của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng,… đã tồn tại sừng sững giữa văn đàn Tác phẩm của một cây bút hồi ấy còn chưa mấy ai biết đến tên tuổi như Nam Cao cầm chắc sẽ bị che khuất, sẽ bị rơi vào cõi lãng quên, nếu tác giả không tìm cho mình được một hướng khai thác riêng cho một đề tài đã thành quen thuộc Thử thách đó, Nam Cao đã lặng lẽ chấp nhận, và đã vượt qua, với một Chí Phèo thật sự sâu sắc và độc đáo” [3; tr 114]

- Mở bài 1: Bàn về quyền sống, quyền tự do, độc lập của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam

- Mở bài 2: Những khám phá độc đáo, sâu sắc của Nam Cao về đề tài

người nông dân trong tác phẩm Chí Phèo.

2.3.1.4 Chữa lỗi để hoàn chỉnh đoạn văn mở bài

Ví dụ: Cha ông ta thường nói "tốt gỗ hơn tốt nước sơn".

Anh chị suy nghĩ như thế nào về câu nói trên?

Với đề bài trên có học sinh mở bài như sau: “L.Tônxtôi từng nói "Người

ta đáng yêu không phải vì đẹp mà đẹp vì đáng yêu" ý của nhà văn muốn đề cao

Trang 9

phẩm chất, nhân cách bên trong của mỗi con người chúng ta Mỗi con người ai cũng có vẻ bên ngoài, bên trong và cái bên trong luôn quyết định cái bên ngoài

Câu tục ngữ "tốt gỗ hơn tốt nước sơn" cũng vậy”

Yêu cầu học sinh căn cứ vào cấu tạo, chức năng phần mở bài hướng học sinh nhận ra rằng: Mở bài này tuy có giới thiệu được vấn đề cần nghị luận nhưng diễn đạt dài dòng, trùng lặp, chưa chặt chẽ

Trên cơ sở bài làm của học sinh, giáo viên bổ sung và chữa lại như sau:

“L.Tônxtôi từng nói "Người ta đáng yêu không phải vì đẹp mà vì đáng yêu" ý nhà văn muốn đề cao phẩm chất con người Cùng quan điểm như vậy,

nhưng cách diễn đạt giàu hình ảnh và có thể hiểu rộng ra phạm vi đánh giá con

người, tục ngữ Việt Nam có câu "tốt gỗ hơn tốt nước sơn"”.

Ngoài cách sửa mà người viết đưa ra vẫn còn nhiều cách sửa khác nữa Tuy nhiên, người viết chỉ nêu ra một cách sửa đơn giản nhất trên cơ sở tôn trọng

và giữ lại bài viết của học sinh

2.3.1.5.Hướng dẫn học sinh tự viết phần mở bài

Mở bài theo kiểu trực tiếp:

Ví dụ : Phân tích hình tượng nhân vận Huấn Cao trong tác phẩm Chữ

người tử tù của Nguyễn Tuân.

Mở bài: Ai đã đọc tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân hẳn

không khỏi xúc động sâu sắc trước vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao Một hình tượng được xây dựng từ một nguyên mẫu có thật là Cao Chu Thần

-Cao Bá Quát Tác phẩm được rút trong tập Vang bóng một thời đó chính là

thành quả của hành trình tìm về với cái đẹp trong một thời quá vãng nay chỉ còn

"vang bóng"

Mở bài theo kiểu gián tiếp

Mở bài theo lối diễn dịch: Nên ý khái quát của vấn đề rồi dẫn vào đề.

Ví dụ: Phân tích hình tượng Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù

của Nguyễn Tuân?

Mở bài: Nhắc đến Nguyễn Tuân là nhắc đến một người nghệ sĩ suốt đời

đi tìm cái đẹp, với tâm niệm đó ông đã xây dựng được hình tượng đẹp về con người tài hoa, có nhân cách cao thượng Một trong những nhân vật để lại ấn

tượng sâu sắc nhất cho người đọc đó là Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử

tù Chữ người tử tù chính là tác phẩm hay nhất, đặc sắc nhất trong tập Vang bóng một thời (1940) Với tác phẩm này, nhà văn họ Nguyễn không chỉ tập

trung khắc họa vẻ đẹp hình tượng nhân vật Huấn Cao mà thông qua hình tượng

đó ông còn bộc lộ quan niệm về cái đẹp và tấm lòng yêu nước thầm kín của mình

Mở bài theo lối quy nạp: nêu lên những ý nhỏ hơn vấn đề đặt ra trong đề

bài rồi tổng hợp lại thành vấn đề cần nghi luận

Ví dụ: Phân tích hình tượng Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù

của Nguyễn Tuân?

Mở bài: “Trong cuộc sống cũng như trong văn học, có không ít nhân vật

tài cao khiến ta phải nghiêng mình thán phục Lại có những người được ngưỡng

Trang 10

mộ vì vẻ đẹp sáng ngời của tâm hồn Nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm chữ người tử tù của Nguyễn Tuân là một hình tượng đẹp theo cả hai nghĩa: đẹp ở sự

tài hoa và đẹp ở nhân cách cứng cỏi, cao thượng” [1; tr 26]

Mở bài theo lối tương liên: Nêu lên một ý kiến tương tự như đề bài rồi

bắt sang vấn đề cần nghị luận

Ví dụ: Phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam

Cao để làm nổi bật bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí

Mở bài: Tôi nhớ mãi câu nói của họa sĩ Hà Lan Van- gốc: "Không có gì

nghệ thuật hơn tình yêu thương con người" Đó là chân lý của cuộc sống, cũng

là chân lý muôn đời của thi ca Cho đến khi đọc những dòng văn thấm đượm

tình người, những câu văn nhỏ máu trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao tôi

mới càng thấm thía cái chân lý vĩnh cửu và xanh tươi ấy Có lẽ, để đạt được điều

đó bởi Nam Cao qua tác phẩm của mình đã xây dựng khá thành công nhân vật Chí Phèo, đặc biệt là khi ông đi sâu vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí

Mở bài theo lối đối lập: Nêu ý kiến trái ngược với ý trong đề bài rồi lấy

đó làm cớ để chuyển sang vấn đề nghị luận

Ví dụ: Phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà

văn Tô Hoài

Mở bài: Chúng ta đã gặp không ít những số phận người phụ nữ bi thương

trong các tác phẩm văn học Việt Nam, đó là một Mỵ Nương đầy oan khuất, một nàng Kiều đầy bi kịch, một chị Dậu đầy tuổi hờn Nhưng khi tiếp cận với dòng văn học hiện thực sau năm 1945, vẫn là những người phụ nữ ngày xưa ấy lại vùng lên mạnh mẽ, đứng dậy làm chủ cuộc đời mình Một trong những nhân vật

văn học nữ tiêu biểu ấy là Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô

Hoài

2.3.2 Các biện pháp rèn luyện kỹ năng viết phần kết bài

2.3.2.1 Nhận diện đoạn văn kết bài

Trong các đoạn văn sau, đoạn nào là đoạn văn kết bài? Vì sao?

Đoạn 1: Mọi vật đều sợ thời gian, bởi lớp bụi thời gian sẽ phủ mờ đi tất

cả Nhưng bản thân bụi thời gian lại sợ các vĩ bởi sự tồn tại của vĩ nhân là trường cửu Quỹ thời gian càng phủ dày lên bao nhiêu lại càng tôn lên cao hơn, rực rỡ hơn, rõ nét hơn những phẩm chất, cốt cách của con người bất hủ Đến với

bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh ta bắt gặp cùng cảm xúc ấy.

Đoạn 2: “Khi tác phẩm Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan và Tắt

đèn của Ngô Tất Tố ra đời thì ít ai có thể nghĩ rằng còn có nỗi khổ nào khổ hơn

nỗi khổ của chị Dậu, anh Pha Nhưng khi Chí Phèo ngật ngưởng trong cơn say bước ra từ trang sách của Nam Cao người đọc liền nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ nhất cho những gì gọi là thống khổ của người nông dân Việt Nam trước cách mạng Chị Dậu bán chó, bán con nhưng chị vẫn được là người, Chí Phèo phải bán cả linh hồn và thể xác cho quỷ giữ” [6; tr 243]

Đoạn 3: Nói tóm lại, truyện ngắn Hai đứa trẻ nổi bật lên hình ảnh nhân

vật Liên với những nét đẹp tâm hồn đáng quý Dù sống trong nơi bùn lầy, nước

Ngày đăng: 29/03/2022, 19:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w