Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2021
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2016 - 2021 Giảng viên hướng dẫn: ThS Trần Nhật Thắng
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hướng tới thành công của mỗi con người ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân thì không thể không nhắc đến sự giúp đỡ, hỗ trợ của mọi người xung quanh Hiện tại em cũng đã kết thúc đợt thực tập tốt nghiệp của bản thân tại trang trại Đỗ Đức Thuận, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể thầy, cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y đã giúp đỡ, chỉ bảo em trong suốt thời gian qua
Em xin cảm ơn Ban lãnh đạo trang trại Đỗ Đức Thuận, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ và chỉ bảo nhiều kiến thức thực tế giúp em hoàn thành tốt quá trình thực tập
Đặc biệt, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS Trần Nhật Thắng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành báo cáo tốt
nghiệp này Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện về vật chất, tinh thần giúp em hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Do kiến thức thực tế của em chưa nhiều, nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn bè để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 04 năm 2021
Sinh viên
Đặng Văn Phú
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Khẩu phần ăn của lợn nái mang thai tại trại 27
Bảng 3.2 Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn nái hậu bị và lợn nái mang thai tại trại 28
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại trong 3 năm 2018 - 2020 30
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh tại cơ sở 34
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại 35
Bảng 4.4 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái hậu bị và lợn nái mang thai tại trại 37
Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái mang thai tại trại theo tháng 38
Bảng 4.6 Kết quả điều trị một số bệnh trên đàn lợn nái mang thai tại trại 40
Bảng 4.7 Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại 41
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
FSH : Follicular Stimulating Hormone
LMLM : Lở mồm long móng
Kst : Ký sinh trùng
PRRS : Porcine Reproductive and Respiratory syndrome
TT : Thể trọng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của chuyên đề 2
1.3 Yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Đỗ Đức Thuận 3
2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại Đỗ Đức Thuận 4
2.1.3 Thuận lợi và khó khăn 5
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến khóa luận 6
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái 6
2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái 9
2.3 Chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý lợn nái trong giai đoạn mang thai 15
2.3.1 Sự mang thai 15
2.3.2 Công tác quản lý và chăm sóc lợn nái trong giai đoạn mang thai 16
2.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái giai đoạn mang thai 17
2.4 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái mang thai 20
2.4.1 Viêm tử cung 20
2.4.2 Bỏ ăn không rõ nguyên nhân 20
2.5 Một số loại thuốc được sử dụng trong khóa luận 21
2.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22
2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 22
Trang 72.6.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 24
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 26
3.1 Đối tượng 26
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26
3.3 Nội dung thực hiện 26
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 26
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 26
3.4.2 Phương pháp thực hiện 26
3.4.3 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 29
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 29
Phần 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 30
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Đỗ Đức Thuận trong 3 năm gần đây 30
4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng tại cơ sở 31
4.2.1 Công tác chăn nuôi 31
4.2.2 Chăm sóc nuôi dưỡng 32
4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh tại cơ sở 33
4.3.1 Công tác phòng bệnh 33
4.3.2 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng chuồng trại tại cơ sở 35
4.3.3 Kết quả tiêm vắc xin cho đàn lợn nái mang thai và lợn nái hậu bị tại trại 36
4.3.4 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái mang thai tại trại theo tháng 38
4.3.5 Kết quả điều trị một số bệnh trên đàn lợn nái mang thai tại trại 39
4.4 Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại 41
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44 PHỤ LỤC
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta, là nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và cung cấp các sản phẩm phụ như da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến
Trong năm 2019, ngành chăn nuôi lợn đã phải đối mặt với bệnh dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện và lan rộng Sau khi ổ dịch đầu tiên được phát hiện tại miền Bắc từ tháng 2 đến tháng 9 dịch bệnh đã lan rộng khắp 63 tỉnh, thành phố Theo Tổng cục Thống kê, tổng đàn lợn cả nước đang sụt giảm mạnh, do
đó sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng trong năm 2019 cũng giảm sâu so với năm 2018
Với vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang được Đảng
và Nhà nước ta hết sức quan tâm và hướng đến phát triển bền vững Bên cạnh
đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, quy mô chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn với chất lượng cao, các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành thực
hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái giai đoạn mang thai tại trang trại Đỗ Đức Thuận, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”
Trang 91.2 Mục tiêu của chuyên đề
- Thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái mang thai
- Phát hiện và chẩn đoán các bệnh thường hay xảy ra trên đàn lợn nái
mang thai và áp dụng thuốc điều trị bệnh hiệu quả
1.3 Yêu cầu của chuyên đề
- Biết được tình hình chăn nuôi tại trại lợn Đỗ Đức Thuận, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
- Biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái giai đoạn mang thai tại trại đạt hiệu quả cao
- Chẩn đoán được bệnh trên đàn lợn nái mang thai tại trại
- Điều trị được một số bệnh phổ biến trên đàn lợn nái mang thai tại trại
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Đỗ Đức Thuận
2.1.1.1 Quá trình thành lập
Trại lợn Đỗ Đức Thuận là một trại tư nhân lớn, trang trại được thành lập năm 2010, do ông Đỗ Đức Thuận làm chủ trang trại Trang trại nằm trên địa bàn thị trấn Tây Đằng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Hướng chăn nuôi của trại là chăn nuôi lợn nái sinh sản kết hợp với chăn nuôi lợn thịt, nuôi cá và trồng cây ăn quả Phương thức chăn nuôi là chăn nuôi tập trung công nghiệp với hệ thống chuồng khép kín
Thị trấn Tây Đằng là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của huyện Ba
Vì, có chợ, bến sông, quốc lộ 32A, tỉnh lộ 413 chạy qua, có nhiều cơ quan đơn vị đóng trên địa bàn Phía Đông giáp xã Chu Minh, phía Tây giáp xã Vật Lại, phía Nam giáp xã Tiên Phong, phía Bắc giáp xã Phú Châu Toàn thị trấn
có tổng diện tích đất tự nhiên: 1.208,17 ha
Toàn thị trấn có 14 thôn, gồm các thôn: Đông, Nam, Đoài, Bắc, Hưng Đạo, Cao Nhang, Cầu Bã, Vân Trai, Lai Bồ, Vân Hồng, Chợ Chàng, Cửa Đình, Phú Mỹ, Đài Hoa
Nhìn chung trại được đặt ở vị trí khá thuận lợi để phát triển do cách xa khu công nghiệp, khu dân cư, bệnh viện, trường học Vì trại cách xa trục đường quốc
lộ chính 32km nên giao thông cũng chưa được thuận tiện cho giao thương trao đổi sản phẩm chăn nuôi nhưng lại đạt hiệu quả cao trong quá trình sản xuất
2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu
Tây Đằng là một thị trấn thuộc huyện Ba Vì trong khu vực trung du, miền núi phía Bắc, chịu ảnh hưởng rõ rệt của khí hậu nhiệt đới gió mùa Nóng
Trang 11ẩm mưa nhiều, cho nên trại chăn nuôi và trồng trọt tổng hợp Đỗ Đức Thuận
cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu này
- Mùa mưa: nóng ẩm mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9), nhiệt độ trung bình từ 25 - 27oC, độ ẩm trung bình đạt 83%, tổng lượng mưa đạt 1.726mm
- Mùa khô: thời tiết khô, rét ít mưa (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau), nhiệt
độ trung bình từ 17 - 19oC, độ ẩm trung bình từ 80,8%, tổng lượng mưa là 299,2
mm Với điều kiện thời tiết như vậy rất thuận lợi cho trồng trọt, nhưng gây nhiều bất lợi cho chăn nuôi nói chung và nuôi lợn nuôi lợn nói riêng
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Trại lợn gồm có 5 người trong đó có:
+ Chủ trang trại: 2 người
+ Quản lý trang trại: 1 người
+ 2 sinh viên thực tập
2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại Đỗ Đức Thuận
- Trang trại có tổng diện tích 5 ha, trong đó khu chăn nuôi và khu nhà ở công nhân, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả, chiếm diện tích 2 ha Còn lại diện tích ao hồ chiếm 3 ha
- Khu chăn nuôi chia làm ba khu riêng biệt gồm: 2 khu chăn nuôi lợn nái sinh sản và 2 khu chăn nuôi lợn thịt Trong đó khu chăn nuôi lợn nái sinh sản được bố trí xây dựng chuồng trại cho hơn 110 lợn nái và lợn đực với các giống sản xuất chính như: Duroc được mua ở trại heo giống cao sản Bành Tỷ về
- Trại lợn được chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất Khu điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại và nơi ăn, ở của sinh viên thực tập, quản lý trang trại
- Khu sản xuất gồm: 1 chuồng đẻ, 1 chuồng hậu bị và 2 chuồng thịt Chuồng được xây dựng theo hướng Đông – Tây, Nam – Bắc, đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp vào mùa đông, chuồng xây dựng theo kiểu 2 mái gồm 4
Trang 12dãy chuồng chạy dài Chuồng lợn thiết kế theo kiểu cũi sắt, các chuồng được trang bị thiết bị chiếu sáng, hệ thống uống nước tự động ở mỗi ô nái, mùa hè
có hệ thống quạt thông gió và dàn mát Mùa đông có hệ thống làm ấm bằng bóng đèn hồng ngoại
- Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, kho thuốc, phòng tinh, phòng sát trùng
- Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại phục vụ cho chăn nuôi như: kính hiển vi, nồi hấp cách thủy, tủ sấy và các dụng cụ khác
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được
đổ bê tông và có hố sát trùng Khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi công nhân trong trại cho đến khách đều phải thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dụng và phải đi qua hệ thống sát trùng
- Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm
- Xung quanh trang trại còn trồng rau xanh, cây ăn quả, bưởi những hồ sinh học tạo môi trường thông thoáng
2.1.3 Thuận lợi và khó khăn
2.1.3.1 Thuận lợi
- Trại được sự quan tâm của các ngành, các cấp như Ủy ban nhân dân thị trấn Tây Đằng, Trạm thú y huyện Ba Vì về điều kiện, về cơ sở vật chất, môi trường và chính sách hỗ trợ
- Trại được Công ty cổ phần CP Việt Nam cung cấp về con giống, thức
ăn và đảm bảo khâu kỹ thuật
- Trại có vị trí thuận lợi, đường đi, địa hình khá thuận tiện cho việc vận chuyển con giống cũng như thức ăn chăn nuôi
- Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của sinh viên thực tập
Trang 13- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,
áp dụng quy trình chăn nuôi tiên tiến hiện nay, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp
2.1.3.2 Khó khăn
- Khí hậu không ổn định, nóng ẩm, lạnh, khô thất thường, bệnh dịch diễn biến phức tạp nên ảnh hưởng lớn đến sức đề kháng, tình hình bệnh tật và năng suất chăn nuôi
- Giá thức ăn chăn nuôi không ổn định, có xu hướng tăng liên tục khiến chi phí thức ăn tăng cao, gây bất lợi tới kết quả chăn nuôi
- Sự bùng phát của một số dịch bệnh như đợt dịch tả lợn châu phi năm
2019 gây ra gây thiệt hại lớn về kinh tế cho trang trại và nguy cơ bùng phát các dịch bệnh khác
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến khóa luận
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái
Cơ quan sinh dục của lợn cái cấu tạo gồm bộ phận sinh dục bên trong và
bộ phận sinh dục bên ngoài
Bộ phận sinh dục bên ngoài: âm môn, âm vật, tiền đình
Bộ phận sinh dục bên trong: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung và âm đạo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [3] cho biết, đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục lợn cái như sau:
* Bộ phận sinh dục bên ngoài
- Âm môn (Vulva): Hay còn gọi là âm hộ Nằm ở dưới hậu môn Phía
ngoài âm môn có 2 môi Nối liền 2 môi là 2 mép Trên 2 môi âm môn có sắc
tố đen và nhiều tuyến tiết Tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi
- Âm vật (Clitoris): Cấu tạo cũng có thể hổng như con đực Trên âm vật
có nếp da tạo mũ âm vật, 1/2 âm vật bẻ gấp xuống dưới Âm vật được phủ bởi một lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm giác, do đó trong thực
tế sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, người thụ tinh thường xoa bóp nhẹ vào âm
Trang 14vật kích thích con cái hưng phấn để cổ tử cung co thắt và con vật trở lại trạng thái bình thường
- Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogentalis): Là giới hạn giữa âm
môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước màng trinh là âm đạo, phía sau là âm môn, sau màng trinh là lỗ niệu đạo Tiền đình có một số
tuyến hướng quay về âm vật
* Bộ phận sinh dục bên trong
- Âm đạo (Vagina): Phía trước âm đạo là cổ tử cung, phía sau là tiền đình
có màng trinh che lỗ âm đạo Âm đạo là lỗ tròn để chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối Đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình đẻ, kích thước âm đạo của lợn là 10 - 12 cm
- Tử cung (Uterus): Tử cung là nơi làm tổ, cung cấp chất dinh dưỡng cho
sự phát triển của bào thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái Tử cung gồm 3 phần: sừng, thân, cổ tử cung
+ Ngoài cùng là lớp tương mạc được nối với dây chằng rộng Lớp cơ: cơ trơn rất phát triển dày, khỏe có cấu tạo với chức năng chứa thai phát triển và đẩy thai khi đẻ Cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong Cơ vòng phát triển mạnh ở
cổ tử cung tạo thành cơ thắt Lớp niêm mạc trong cùng có màu hồng nhạt có nhiều nếp gấp, trong niêm mạc có nhiều tuyến tiết ra chất nhờn Niêm mạc đến cổ tử cung thì thắt tùy thuộc vào từng loại gia súc
+ Mạch quản thần kinh: Động mạch đến từ động mạch tử cung - buồng trứng và động mạch tử cung Thần kinh đến từ đám rối treo đằng sau và đám rối hạ vị Sừng tử cung của lợn ngoằn ngoèo như ruột non dài từ 0,5 - 1m Dây chằng rộng dài nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra ngoài được + Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp nhăn nheo theo chiều dọc Thai làm tổ ở sừng tử cung Cổ tử cung không có nếp gấp hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau
Trang 15- Buồng trứng (Ovarium): Có hai buồng trứng treo ở cạnh trước dây
chằng rộng và nằm trong xoang chậu Bên ngoài là một màng liên kết sợi chắc như màng bao dịch hoàn Bên trong buồng trứng chia làm hai miền: miền vỏ và miền tủy, được cấu tạo bởi lớp mô liên kết sợi xốp tạo cho buồng trứng một chất đệm
+ Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với chức năng sinh dục, đảm bảo quá trình phát triển của trứng cho đến khi trứng chín và rụng
+ Miền tủy: nằm ở giữa gồm nhiều mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo vệ trứng Buồng trứng như một tuyến nội tiết của gia súc cái Buồng trứng có hai chức năng: Nội tiết (tiết ra hormone sinh dục cái oestrogen) và ngoại tiết (bài noãn) Các hormone sinh dục cái: oestrogen, progesteron và inhibin tham gia vào việc điều khiển chu kì sinh sản của lợn cái Oestrogen cần thiết cho sự phát triển của tử cung và hệ thống dẫn của tuyến vú Progesteron do thể vàng tiết ra kích thích sự phân tiết của tử cung để nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú Oxytocin được tiết ra chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên và cũng được tiết bởi thể vàng của buồng trứng khi con vật gần sinh, nó làm co thắt cơ tử cung trong lúc sinh đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa Relaxin do thể vàng tiết ra gây dãn nở xương chậu, làm dãn và mềm cổ tử cung, do đó mở rộng đường sinh dục khi lợn sắp sinh Inhibin có tác dụng ức chế sự phân tiết kích tố noãn (FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển noãn nang theo chu kì
Khi noãn nang bào thành thục thì màng liên kết buồng trứng sẽ tách ra
Tế bào trứng rời khỏi buồng trứng đi vào loa kèn, noãn nang bào rách ra sẽ liền ngay Các tế bào phân chia nhanh thành một khối tế bào lớn để lấp kín xoang noãn bào và trở thành thể vàng Nếu tế bào trứng được thụ tinh thì thể vàng tồn tại và tiết ra hormone progesterone có tác dụng an thai và ngược lại
Trang 16- Ống dẫn trứng (Oviductus): Là một ống nhỏ ngoằn ngoèo nằm ở màng
treo buồng trứng
Cấu tạo gồm 3 phần: ngoài cùng là sợi liên kết được kéo dài từ màng treo buồng trứng Giữa là lớp cơ trơn, trong cùng là niêm mạc được cấu tạo bằng tế bào hình trụ, hình vuông làm nhiệm vụ tiết dịch Bề ngoài niêm mạc được phủ một lớp nhung mao, luôn rung động để đẩy tế bào trứng hoặc hợp
tử xuống tử cung làm tổ
Ống dẫn trứng có chức năng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo hướng ngược chiều nhau Bộ phận giống như tua diềm vận chuyển trứng đã rụng từ bề mặt buồng trứng đến phễu Trứng được chuyển qua những lớp nhầy đi đến ống dẫn trứng, nơi xảy ra sự thụ tinh và được lưu lại trong ống dẫn trứng khoảng 3 ngày trước khi chúng được chuyển đến tử cung Thời gian trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày Ống dẫn trứng cung cấp điều kiện thuận lợi cho sự hợp nhất của các giao tử và cho sự phát triển ban
đầu của phôi (Nguyễn Văn Thanh, 2014) [13]
2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái
Theo Nguyễn Văn Trí (2008) [17], tuổi động dục đầu tiên ở lợn nái ngoại Yorkshire, Landrace là 6 - 7 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 65 - 70kg và lợn nái lai F1 là 6 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 50 - 55kg
Trang 17Thời điểm động dục của lợn cái khác nhau trên cùng một giống lợn Con vật được chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ thành thục sớm hơn những con ít được chăm sóc Sự kích thích của con đực làm lợn cái nhanh động dục hơn so với những con không được tiếp xúc với lợn đực Kết quả nghiên cứu của Hughes
P và James T (1996) [22] cho thấy, việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng
cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn cái được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu
tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị Nếu cái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn cái hậu bị không tiếp xúc với lợn đực giống Theo Hughes P và James T (1996) [22], lợn cái hậu
bị ngoài 90 kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn cái hậu bị động dục lần đầu Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [15] thì sự thành thục về tính dục ngoài việc phụ thuộc vào sự điều hòa của thần kinh, thể dịch còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh khác như: giống, dinh dưỡng, khí hậu, mùa
vụ, sự tiếp xúc giữa con đực và con cái… Các giống lợn nội thành thục sớm hơn lợn ngoại, lợn lai Gia súc nhiệt đới thành thục sớm hơn gia súc ôn đới Một cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể phát triển căn bản đã hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố (các phản xạ về sinh dục) Khi có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng
* Sự thành thục về thể vóc
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [5] sự thành thục về thể vóc là sự phát triển hoàn toàn về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc
ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường muộn hơn sự thành thục về tính
Sự thành thục về tính được đánh dấu khi xuất hiện dấu hiệu động dục lần đầu, nhưng sự sinh trưởng và phát dục về cơ thể vẫn tiếp tục Nếu cho phối giống ngay ở giai đoạn thành thục về tính này sẽ không tốt cho lợn nái Lợn mẹ vẫn
Trang 18thụ thai nhưng không đảm bảo bào thai phát triển tốt, chất lượng đàn con kém, đồng thời cơ quan sinh dục chưa phát triển hoàn thiện, xương chậu hẹp gây ra hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này, do đó không nên phối giống khi lợn chưa thành thục về thể vóc Đối với lợn nội ta chỉ nên phối giống khi lợn được 7 - 8 tháng tuổi, đạt 40-50kg TT, lợn nái ngoại nên phối khi lợn được 8 - 9 tháng tuổi và đạt 100-120kg TT
Chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể
đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, não bao thành thục, trứng chín và thải trứng (Văn Lệ Hằng và cs., 2009) [4] Lợn nái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu biểu hiện động dục, lần thứ nhất biểu hiện không rõ ràng, cách sau đó 15 - 16 ngày động dục trở lại, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ (Trần Thanh Vân và cs., 2017) [20]
Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [3]: Sau khi thành thục tính dục, gia súc cái bắt đầu có hoạt động sinh sản Dưới sự điều hòa của hormone tuyến yên, nang trứng tăng trưởng, thành thục (chín) và rụng Kèm theo quá trình này là hàng loạt biến đổi toàn thân và cơ quan sinh dục được biểu hiện
bởi các triệu chứng đặc biệt, gọi là triệu chứng động dục
Ở lợn thường động dục không theo mùa, chu kì động dục trung bình là
21 ngày, giao động trong khoảng từ 18 - 22 ngày Thời gian xuất hiện động dục sau khi đẻ liên quan đến vấn đề cho con bú Thời gian lợn động dục sau khi cai sữa lợn con là từ 3 - 5 ngày Nếu không cho con bú thì sau đẻ 3 - 5 ngày lợn động dục trở lại vì thể vàng ở lợn teo đi rất nhanh
Trang 19Thời gian động dục lần thứ hai sau 20 - 22 ngày, quá trình động dục kéo dài cao độ trong khoảng 24 - 72 giờ, thời điểm rụng trứng là ngày thứ 2 sau động dục
Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [15] cho biết: Chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn trước động dục: Là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục, lúc này buồng trứng to hơn bình thường
Giai đoạn này các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng,
số lượng lông nhung tăng lên, đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều Nhưng tính hưng phấn chưa cao Khi noãn bao chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh,
cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục
+ Giai đoạn động dục: Lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục có biểu hiện hàng loạt những biến đổi sinh lý Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu, rống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Giai đoạn này tế bào trứng
ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại Gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện + Giai đoạn sau động dục: Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn
+ Giai đoạn nghỉ ngơi: Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý
Trang 20 Phát hiện động dục
- Tiến hành thử lợn bằng cách cho lợn nái đi qua ô chuồng nhốt lợn đực, nếu đến chu kỳ động dục thì lợn nái có biểu hiện kích thích thần kinh tai vểnh lên và đứng ì lại
- Lợn có biểu hiện bồn chồn hay đứng lên ngồi xuống, thường quan sát được vào khoảng 10 - 11 giờ trưa
- Cơ quan sinh dục có biểu hiện: âm hộ sung huyết, sưng, mẩy đỏ, có dịch trong chảy ra, loãng và ít, sau dần chuyển sang đặc dính
Sau khi phát hiện động dục thì ta tiến hành cho phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo
Thời điểm phối giống thích hợp
Quá trình chăn nuôi lợn nái sinh sản, người chăn nuôi phải biết chính xác chu kỳ và các giai đoạn của quá trình động dục để chủ động điều chỉnh thời điểm phối giống, sinh đẻ của lợn nái cho thuận lợi nhất, đem lại hiệu quả kinh tế cao
và hạn chế được rủi ro tới mức thấp nhất Đồng thời có thể cân bằng được chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc sao cho phù hợp nhất Có thể phối giống kịp thời, đúng thời điểm, vừa tăng số lượng lợn con/lứa vừa không bỏ lỡ mất chu kì phối giống, tăng số lần phối/năm, nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái
Theo Lê Hồng Mận (2002) [9], tinh trùng tồn tại trong tử cung 2 - 3 giờ, tinh trùng có thể sống trong âm đạo từ 30 - 48 giờ Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai tính từ lúc bắt đầu động dục cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4 Đối với lợn nái nội thì sớm hơn một ngày, vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục
ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai
và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém, nên cho thụ tinh nhân tạo vào thời điểm thích hợp nhất
Trang 21Theo Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế Côi (2005) [12], một trong những yếu tố quan trọng là xác định thời điểm phối giống thích hợp Nếu phối giống hay dẫn tinh quá sớm hoặc quá muộn tỷ lệ thụ thai sẽ kém và nếu có thụ thai thì lợn nái sẽ đẻ ít con
Chỉ nên phối giống cho nái hậu bị từ lần động dục thứ 2 khi đạt 6 - 7 tháng tuổi, nặng trên 50 kg đối với lợn nội, 7 - 8 tháng tuổi và nặng 60 - 70 kg đối với lợn lai (nội x ngoại), 9 - 10 tháng tuổi nặng trên 80 - 90 kg đối với lợn
ngoại và lợn lai (ngoại x ngoại)
Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái gồm các bước:
Bước 1: Xác định thời điểm động dục, thời điểm chịu đực chính xác
(thường sau 24 - 29 giờ)
Bước 2: Chuẩn bị dụng cụ: dẫn tinh quản, bình xịt nước muối sinh lí, gel
bôi trơn, bông thấm
Bước 3: Chuẩn bị tinh dịch đảm bảo về thể tích (mỗi liều khoảng 80 -
100ml), tỉ lệ tinh trùng tiến thẳng trong một liều tinh, tinh dịch đã được pha chế và kiểm tra hoạt lực
Bước 4: Vệ sinh lợn nái, vệ sinh phía ngoài của bộ phận sinh dục, mông,
chân bằng nước sạch, sau đó rửa lại cơ quan sinh dục bên ngoài bằng nước muối sinh lý, lau khô bằng khăn sạch
Bước 5: Tiến hành phối giống:
Kích thích lợn cái bằng cách cưỡi lên trên lưng lợn hoặc sử dụng đai đặt lên trên phần lưng hông của lợn trong khoảng 5 phút
Bôi trơn đầu mút của dẫn tinh quản bằng gel bôi trơn
Đưa ống dẫn tinh quản vào cơ quan sinh dục cái, xoay nhẹ theo chiều kim đồng hồ, khi kịch thì rút nhẹ ra khoảng 2cm, nắm liều tinh đã chuẩn bị vào đầu dẫn tinh quản, khi hết tinh thì rút liều tinh ra, lưu lại ống dẫn tinh quản trong đường sinh dục cái khoảng 5 phút
Trang 22 Rút nhẹ ống dẫn tinh quản theo chiều kim đồng hồ, vỗ mạnh vào lưng lợn một cách đột ngột để lợn đóng cổ tử cung lại
Bước 6: Sau khi dẫn tinh xong thì vệ sinh dụng cụ sạch sẽ, số lần thụ
tinh trong một chu kì là 2 - 3 liều tinh, được ghi lại trên thẻ của từng nái Sau khi thụ tinh 21 - 25 ngày tiếp tục quan sát hiệu quả thụ thai, phát hiện kịp thời lợn nái động dục trở lại để tiến hành thụ tinh lại Kết quả thụ thai của thời kỳ động dục nào sẽ ghi ở vào kết quả thụ thai của thời kỳ đó
2.3 Chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý lợn nái trong giai đoạn mang thai
2.3.1 Sự mang thai
Trần Thanh Vân và cs (2017) [20] cho biết, sau khi phối giống 21 ngày
mà lợn nái không thấy có dấu hiệu động dục lại thì lợn nái đã đậu thai Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng (noãn hoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể
mẹ trong thời gian có chửa như sau: progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh, cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi giảm xuống ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục, 1 -
2 ngày trước khi đẻ progesterone giảm đột ngột Oestrogen trong suốt thời kỳ
có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian mang thai của lợn nái có thể kéo dài trong khoảng là 115 - 118 ngày
Thời gian mang thai được tính từ khi phối giống lần cuối cùng, thời gian mang thai cũng phụ thuộc vào một số yếu tố và điều kiện khác nhau Thời gian mang thai dài hay ngắn phụ thuộc vào loài, giống gia súc, tuổi gia súc, lứa sinh sản, tình trạng dinh dưỡng, tình trạng sức khỏe, số lượng bào thai, trạng thái của cơ quan sinh sản
Trang 23Nguyễn Văn Trí (2008) [17] cho rằng: thời gian chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (113 – 116 ngày), được chia làm hai thời kì:
+ Thời kỳ chửa kỳ I: là thời gian lợn có chửa từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 84 + Thời kỳ chửa kỳ II: là thời gian lợn chửa từ ngày 85 đến ngày đẻ dự kiến
2.3.2 Công tác quản lý và chăm sóc lợn nái trong giai đoạn mang thai
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2015) [14], công tác quan trọng nhất trong chăm sóc, quản lý lợn nái mang thai đó là phòng ngừa sảy thai, nghĩa là công tác bảo vệ bào thai để thai sinh trưởng, phát dục bình thường, tránh các tác động từ ngoại lực gây đẻ non, sảy thai, nhất là trong giai đoạn mang thai thứ II
Nguyên nhân sảy thai chủ yếu do nền chuồng hay sân chơi mấp mô, gồ ghề làm cho lợn trượt ngã, cửa ra vào nhỏ lợn phải chen lấn, xô đẩy nhau, đánh đập lợn, tắm nước lạnh đột ngột,…
Vận động
Trong điều kiện chăn nuôi có bãi chăn thả thì đối với lợn nái mang thai trong giai đoạn I cần chú ý cho vận động nhất là đối với lợn nái có thể trạng béo Đối với những cơ sở chăn nuôi có điều kiện tài chính khó khăn, tiêu chuẩn và khẩu phần ăn cho lợn nái còn thấp nhưng cho chăn thả, vận động hợp lý kết hợp với thức ăn mà lợn kiếm được từ chăn thả thì lợn nái vẫn khỏe mạnh, thai sinh trưởng, phát dục tốt, lợn con có sức sống cao
Thời gian vận động trong khoảng 1 - 2 lần/ngày, mỗi lần 60 - 90 phút/lần Lợn nái mang thai kỳ II hạn chế cho vận động, lúc gần đẻ một tuần thì chỉ cho đi lại quanh sân
Chú ý: Khi thời tiết xấu hay nơi chăn thả không bằng phẳng, có nhiều
rãnh thì không cho vận động Trước khi cho vận động thì cho uống đủ nước
để lợn nái không uống nước bẩn bên ngoài
Trang 24 Tắm chải
Tắm chải cho lợn nái là rất cần thiết, vệ sinh sạch sẽ lông da của lợn, giúp tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, lợn nái cảm thấy thoải mái, kích thích thèm ăn, phòng các loại bệnh ngoài da Việc tắm chải cho lợn nái nên thực hiện đặc biệt là trong mùa hè, ngoài loại bỏ kí sinh trùng thì còn chống nóng cho lợn nái
* Chuồng trại
Chuồng trại khi xây dựng phải đảm bảo đúng quy định để nuôi lợn nái mang thai Có chế độ nuôi nhốt phù hợp theo từng giai đoạn, tại trại quy mô công nghiệp thì ngay từ khi nhập lợn hậu bị người ta đã tiến hành nhốt mỗi con một ô để có thể dễ dàng chăm sóc, theo dõi trong từng giai đoạn mang thai của lợn, lợn nái sẽ được nuôi theo từng khu theo từng giai đoạn mang thai Chuồng nuôi phải luôn được vệ sinh sạch sẽ, nhiệt độ phù hợp theo từng mùa, khô ráo thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông Trước khi lợn đẻ theo lịch dự kiến một 1 tuần thì cho lợn nái sang ô đẻ
Chuồng nuôi phải đảm bảo yên tĩnh, thoải mái cho lợn nái trong giai đoạn thai kỳ, tránh tạo ra những tiếng động mạnh, đột ngột, ảnh hưởng không tốt tới lợn nái
Mỗi nái mang thai đều được gắn thẻ mang mã số riêng từng con và thẻ ghi thông tin về ngày phối, ngày đẻ dự kiến, ngày đẻ thực tế, lứa đẻ, số con đẻ
ra, số con chết, số con hiện nuôi, số con cai sữa hay sự cố sảy ra như sảy thai, không đậu thai, chết thai,… để có biện pháp xử lý đề phòng
2.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái giai đoạn mang thai
Đối với lợn nái hậu bị hay lợn nái vừa cai sữa, khẩu phần ăn phù hợp rất cần thiết Lợn hậu bị trước khi đến thời điểm phối cần có khối lượng cơ thể cân đối cùng với sức khỏe đảm bảo không mắc bệnh, quá gầy, ảnh hưởng đến thời gian động dục, khả năng đậu thai Lợn nái sau khi cai sữa xong thường
Trang 25giảm khối lượng cơ thể, có nhiều con sức khỏe giảm, gầy yếu, việc cung cấp khẩu phần ăn đầy đủ về dinh dưỡng là để bù đắp lại khối lượng cơ thể để chu
kỳ động dục xuất hiện nhanh và tỷ lệ đậu thai cao Lợn đực có khẩu phần ăn vừa đủ để không quá béo, không quá gầy Việc nuôi dưỡng, cung cấp khẩu phần ăn phù hợp cho lợn đực là rất quan trọng, để đảm bảo chất lượng tinh trùng Lợn đực cũng có chế độ khai thác phù hợp, khai thác khi lợn đực không
quá non, không quá già, khai thác không quá dày đặc khiến lợn đực quá sức
Theo Nguyễn Văn Thắng và Nguyễn Thị Xuân (2016) [16], cần cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho lợn nái sinh sản giai đoạn mang thai để đảm bảo nhu cầu cho sự phát triển của thai, nhu cầu duy trì cơ thể và tích lũy trong giai đoạn tiết sữa nuôi con sau này Đối với lợn nái hậu bị, mang thai lần đầu thì lượng dinh dưỡng cần cao hơn để lợn nái hậu bị tiếp tục phát triển hoàn thiện.
Trong giai đoạn chửa kỳ I khẩu phần ăn của lợn phải có tỷ lệ protein là
13 - 14%, năng lượng trao đổi từ 2.800 - 2.900 Kcal Nhưng ở giai đoạn II tỷ
lệ protein trong khẩu phần ăn phải cao hơn từ 15 - 20% Ở giai đoạn I bào thai chưa phát triển mạnh, dinh dưỡng chủ yếu dành cho lợn nái để duy trì cơ thể, một phần nhỏ là để nuôi bào thai Giai đoạn II tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh, cần dinh dưỡng nhiều cho bào thai để lợn con khi sinh ra đạt yêu cầu về khối lượng theo từng giống Đối với lợn Landrace thì khối lượng lợn con sơ sinh trung bình đạt 1,4kg/con, lợn Yorkshire khối lượng lợn con sơ sinh là 1,3kg/con, lợn Móng Cái khoảng 0,5 – 0,7kg/con
Khi xác định được lượng thức ăn cho ăn trong một ngày cần phải chú ý đến thể trạng của lợn nái, sức khỏe, giống và khối lượng của lợn nái, giai đoạn thai kỳ của lợn nái mang thai, loại thức ăn, chất lượng, phẩm chất của thức ăn, nhiệt độ chuồng nuôi Ví dụ như lợn nái mang thai kì II cho ăn với khẩu phần ăn nhiều hơn giai đoạn I, gầy cho ăn nhiều hơn, lợn béo cho ăn ít hơn Mùa đông thì cho ăn với khẩu phần ăn tăng lên khoảng 0,3 - 0,5kg/nái,
Trang 26nhiệt độ chuồng phù hợp là nằm trong khoảng từ 25 - 30°C để tăng khả năng chống rét cho lợn
Đối với lợn nái mang thai lần đầu thì dinh dưỡng có thể tăng lên 10 - 15% vì ngoài dinh dưỡng nuôi bào thai thì lợn cần nhu cầu đáp ứng dinh dưỡng cho phát triển cơ thể con nái
Đối với lợn nái tách con thì cần phải cho ăn tăng lên để rụng nhiều trứng, tăng số con đẻ ra cho lứa sau Việc tăng, giảm khẩu phần ăn còn tùy thuộc
vào lợn nái béo hay gầy
Trong chăn nuôi công nghiệp người ta sử dụng thức ăn tinh, mùi thơm ngon, không bị ôi thiu, ẩm mốc, hàm lượng dinh dưỡng phù hợp với lợn nái trong từng giai đoạn mang thai
Gần đến ngày đẻ cần giảm lượng thức ăn xuống nhưng vẫn đảm bảo dinh dưỡng bằng cách cho ăn những loại cám có giá trị dinh dưỡng cao Không được cho lợn nái ăn thức ăn ôi thiu, nấm mốc, thức ăn có độc, các loại chất kích thích dễ gây sảy thai như lá thầu dầu, khô dầu bông hoặc bỗng bã rượu Không nên sử dụng thức ăn nhiều khô dầu cho lợn nái mang thai, sẽ làm cho mỡ và cơ bắp lợn con biến tính, lợn con đẻ ra yếu, tỷ lệ nuôi sống thấp Không cho lợn nái mang thai ăn quá nhiều thức ăn vào 35 ngày đầu sau phối giống có chửa
* Ảnh hưởng của khẩu phần ăn không phù hợp đối với lợn nái mang thai: Cho lợn nái ăn quá nhiều:
Về mặt kinh tế: Khẩu phần ăn phù hợp không bị lãng phí dư thừa cám giúp người chăn nuôi tiết kiệm tiền bạc, nâng cao lợi nhuận trong chăn nuôi Nếu cho ăn quá nhiều thì sẽ lãng phí thức ăn, giảm lợi nhuận chăn nuôi
Về mặt kỹ thuật: Lợn nái không bị thừa nhu cầu của giai đoạn chửa Nếu cho ăn quá nhiều thì lợn nái sẽ quá béo, tỷ lệ chết phôi cao, đặc biệt là giai đoạn sau 35 ngày Lợn nái quá béo làm cho chân yếu, dễ đè chết con trong
Trang 27giai đoạn nuôi con, tiết sữa kém do mỡ chèn ép lên tuyến sữa, làm cho nái khó đẻ, kéo dài thời gian đẻ
Cho lợn nái ăn quá ít:
Lợn nái trong quá trình mang thai cần nhiều dinh dưỡng để nuôi thai, nếu như khẩu phần ăn quá ít lợn nái sẽ bị gầy, thiếu dinh dưỡng để nuôi cơ thể và nuôi thai Sức đề kháng với bệnh tật yếu, sức rặn khi sinh yếu
Không đủ dinh dưỡng dự trữ cho kỳ tiết sữa, sản lượng sữa thấp, nuôi con kém, lợn con còi cọc, dễ mắc bệnh, tỷ lệ lợn con sống thấp
Thời gian động dục trở lại sau khi tách con kéo dài làm giảm số lứa trên năm và tăng thêm chi phí về thức ăn Tỷ lệ hao mòn lợn mẹ cao dẫn đến giảm thời gian khai thác do đó sớm bị loại thải
2.4 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái mang thai
- Phòng bệnh: Trong quá trình thụ tinh nhân tạo hay tự nhiên cần thực
hiện đúng quy định vệ sinh đầy đủ dụng cụ, tay chân Các dụng cụ sử dụng trong thụ tinh nhân tạo cần được vô trùng, không dùng dụng cụ quá cứng gây xây sát nhiễm trùng đường sinh dục Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, cẩn thận
2.4.2 Bỏ ăn không rõ nguyên nhân
Trong giai đoạn chăm sóc lợn nái mang thai ta thường gặp lợn nái mang thai bỏ ăn nhưng không có những biểu hiện sốt, mệt mỏi, hay đau đớn Trường hợp này thường sảy ra sau khi phối giống 1 - 2 tháng, có con đến tháng thứ 3 vẫn bỏ ăn Do một vài nguyên nhân gây ra như: