(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN DIỆU LINH
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN DIỆU LINH
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật hiến pháp và luật hành chính
Mã số: 9380102
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Thúy Lâm
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Nội dung cũng như các số liệu trình bày trong Luận án hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của Luận án chưa được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Diệu Linh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8
1.1 Tình hình nghiên cứu đề tài luận án 81.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 201.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu về đề tài luận án 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24 Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI 25
2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người 252.2 Tiêu chí đánh giá trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người 452.3 Điều chỉnh pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người 562.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 77 Chương 3: THỰC TRẠNG TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 78
3.1 Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực lao động 78
Trang 53.2 Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực môi trường 923.3 Đánh giá chung về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam 104
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 120 Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 121
4.1 Quan điểm tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay 1214.2 Giải pháp tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay 124
KẾT LUẬN 141 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN 143 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 TNXH của DN Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
4 DN CVĐTNN Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
9 ISO 26000 Tiêu chuẩn 26000 của Tổ chức quốc tế
10 OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
11 SA8000 Trách nhiệm giải trình xã hội 8000
13 UNGC Hiệp ước toàn cầu của Liên Hợp quốc
14 VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
15 WRAP Tổ chức công nhận trách nhiệm xã hội trong
sản xuất toàn cầu
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Bảng 1.1 Nội dung thực hiện TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN
trong lĩnh vực lao động 63Bảng 1.2 Nội dung thực hiện TNXH của DN đối với môi trường 66 Hình 1 Mô hình TNXH của DN của Caroll Archie (1999) 29
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, TNXH của DN là lĩnh vực đang thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội và nhà quản lý Bởi lẽ, trong thực tế, xuất hiện khá nhiều những hiện tượng liên quan đến hình ảnh tiêu cực của các doanh nghiệp trong hoạt động, từ các thông tin về việc sử dụng thực phẩm bẩn, với hàng tấn cá chết được vận chuyển vào miền nam làm nước mắm, các xe khách chở đầy thịt bẩn tuồn vào các nhà hàng, các cửa hàng chế biến thức ăn sẵn,… đến sự việc các công ty không xử lý chất thải nhà máy gây ô nhiễm, các vụ vi phạm lao động, an toàn lao động, sử dụng lao động trẻ em trái phép… Liệu điều này có tiếp tục diễn ra nếu như các doanh nghiệp, công ty ý thức được trách nhiệm và vai trò của mình đối với xã hội, đối với cộng đồng và từng khách hàng sử dụng sản phẩm? Tuy nhiên, TNXH của DN vẫn chưa thực sự được quan tâm thỏa đáng ở Việt Nam,
cả về quan điểm, nội dung và cách thức thực hiện Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam chưa có nhận thức đầy đủ về TNXH của DN cũng như vai trò của nó đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp mình, thậm chí một số còn coi TNXH của DN là gánh nặng chi phí Vì vậy, cần phải sớm tạo lập được nhận thức lý luận đầy đủ về TNXH của DN, đặc biệt phần trách nhiệm có liên quan đến vấn đề QCN nhằm tuyên truyền, phổ biến về TNXH của
DN một cách mạnh mẽ hơn với phạm vi và đối tượng rộng hơn
TNXH của DN trong việc bảo đảm TNXH của DN có liên quan đến cả nhận thức và hành động của doanh nghiệp, cả vai trò và trách nhiệm của nhà nước Về phía
doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần phải tôn trọng TNXH của DN và chủ động trong việc bảo đảm TNXH của DN trong hoạt động kinh doanh của mình Về phía nhà nước,
cần có sự giám sát, quản lý của nhà nước để xử lý các vi phạm về QCN do doanh nghiệp gây ra Theo đó, cần phân tích rõ vai trò, trách nhiệm của nhà nước, nhận diện rõ trách nhiệm của doanh nghiệp để thúc đẩy việc bảo đảm QCN tối đa nhất
Các doanh nghiệp và các bên liên quan cần nhận thức một cách tích cực về TNXH của DN, nhất là trong bối cảnh hội nhập ngày càng rộng và sâu hơn Cùng với
sự phát triển không ngừng của các tập đoàn xuyên quốc gia, đa quốc gia, hoạt động
Trang 9của các doanh nghiệp đã vượt ra ngoài biên giới quản lý của quốc gia Ngoài vai trò tích cực trong kinh tế quốc tế và mang lại phúc lợi kinh tế và xã hội tại các quốc gia nơi doanh nghiệp hoạt động, quá trình sản xuất kinh doanh của các tập đoàn kinh tế cũng làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực như: khuyến khích việc bán phá giá, gián tiếp vi phạm tiêu chuẩn lao động, khai thác tài nguyên thiên nhiên tại các nước đang phát triển Bên cạnh đó, do đặc thù hoạt động kinh doanh của tập đoàn diễn
ra ở nhiều quốc gia khác nhau, dẫn đến có sự xung đột pháp luật, hoặc các tiêu chuẩn pháp lý quốc gia mà các công ty con hoạt động không bảo đảm được QCN
Do đó, vai trò của TNXH của DN, bản chất pháp lý và các công cụ TNXH của DN
có thể trở thành một khuôn khổ quan trọng để bảo đảm QCN trong luật pháp quốc
tế và quốc gia Đồng thời, TNXH của DN cũng là một cánh cửa dẫn các doanh nghiệp trong nước hội nhập quốc tế và góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh, đem lại lợi nhuận và sự phát triển bền vững cho các doanh nghiệp
Ở Việt Nam hiện nay, xét cả trên phương diện nhận thức lý luận và hành động thực tiễn vẫn đang tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập liên quan đếnTNXH của
DN trong việc bảo đảm QCN Các doanh nghiệp hầu như vẫn xem trách nhiệm trong bảo đảm QCN thực chất chỉ đơn thuần là trách nhiệm đạo đức, khía cạnh pháp lý chưa được chú ý đúng mức Hệ quả rõ ràng là QCN trong mối quan hệ với hoạt động của doanh nghiệp chưa được quan tâm thoả đáng, nhiều trường hợp QCN bị xâm hại từ phía các doanh nghiệp trong quá trình doanh nghiệp triển khai các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong bối cảnh đó, việc làm rõ các khía cạnh lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp pháp lý nhằm tăng cường TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN là một nhiệm vụ quan trọng và thời sự hiện nay của khoa học pháp lý Việt Nam Trong khi đó, đặt trong tương quan với tình hình nghiên cứu về vấn đề này, hiện vẫn còn nhiều khoảng trống
Yêu cầu và bối cảnh nói trên là lý do và động lực thúc đẩy NCS lựa chọn đề
tài “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở
Việt Nam hiện nay” để triển khai nghiên cứu trong quy mô luận án tiến sĩ luật học,
với mong muốn tập trung làm rõ các khía cạnh lý luận cơ bản về TNXH của DN, đánh giá một cách toàn diện thực trạng hoạt động và tác động của quá trình sản
Trang 10xuất kinh doanh của doanh nghiệp tới QCN, xác định những hạn chế, bất cập và đề xuất đổi mới nhận thức cũng như cơ chế pháp lý về TNXN của DN trong bảo đảm QCN ở nước ta hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án có mục đích tổng quát là xây dựng cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN ở Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu làm sáng tỏ những khía cạnh lý luận cơ bản liên quan đến
khái niệm, đặc điểm, vai trò TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN
Thứ hai, nghiên cứu làm rõ nội dung, tiêu chí nhận diện TNXH của DN
trong việc bảo đảm QCN Từ đó, xác định khung pháp lý điều chỉnh TNXH của
DN trong bảo đảm QCN
Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN
ở Việt Nam, trong đó điểm nhấn là thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về TNXH của DN trong bảo đảm QCN ở Việt Nam hiện nay
Thứ tư, xây dựng định hướng và đề xuất các giải pháp tăng cường TNXH
của DN trong việc bảo đảm QCN ở Việt Nam, trong đó đặc biệt chú ý các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các quan điểm khoa học liên quan đến TNXH của DN, QCN, TNXH của
DN trong việc bảo đảm QCN;
- Hệ thống các quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến TNXH của DN trong bảo đảm QCN thuộc hai lĩnh vực: lao động và môi trường;
- Thực trạng thực hiện TNXH của DN ở Việt Nam trong bảo đảm QCN trong hai lĩnh vực: lao động và môi trường;
Trang 11- Pháp luật quốc tế và thực tiễn thực hiện TNXH của DN ở một số quốc gia trên thế giới
Luận án “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền
con người ở Việt Nam hiện nay” tiếp cận nghiên cứu từ góc độ của khoa học pháp
lý, lĩnh vực chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, do vậy, trên cơ sở làm rõ các khía cạnh lý luận cơ bản về TNXH của DN, luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến điều chỉnh pháp luật về TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN ở Việt Nam hiện nay Nhóm lĩnh vực được lựa chọn để đánh giá thực trạng TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN ở Việt Nam bao gồm lĩnh vực lao động và môi trường với các QCN có liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, chịu tác động mạnh mẽ từ thái
độ trách nhiệm của doanh nghiệp Các lĩnh vực khác và TNXH của DN trong việc bảo đảm các nhóm quyền khác sẽ được đề cập ở mức độ khái quát, mang tính chất
so sánh để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu chủ đạo của luận án
Trang 12nhận diện các tiêu chí xác định TNXH của DN và gợi mở một số kinh nghiệm cho điều chỉnh và thực thi pháp luật ở Việt Nam hiện nay
- Phạm vi thời gian
Luận án nghiên cứu TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN ở Việt Nam từ khi bắt đầu đổi mới đất nước Tuy nhiên, liên quan đến giới hạn về nội dung, luận án tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2012 đến nay, gắn với việc ban hành các Luật Đầu tư 2020, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Bảo vệ môi trường 2014, Bộ Luật Lao động 2012 và 2019, Luật BVMT năm 2020 …
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án được thực hiện bằng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin;
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật và trách nhiệm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển đất nước, về vai trò và trách nhiệm của doanh nghiệp, về bảo đảm QCN trong giai đoạn hiện nay
Cơ sở lý thuyết của luận án là học thuyết về quản trị quốc gia, học thuyết phúc lợi chung, học thuyết kinh tế phát triển, học thuyết quyền con người…
Luận án tiếp cận nghiên cứu từ góc độ khoa học pháp lý, đồng thời sử dụng cách tiếp cận dựa trên quyền
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích được sử dụng khi đánh giá, bình luận các học thuyết, quy
định pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ở nước ta hiện nay trong mối tương quan, liên hệ với QCN
Phương pháp tổng hợp được sử dụng khi đánh giá nhằm rút ra những kết
luận tổng quan, những quan điểm, các đề xuất, kiến nghị
Phương pháp so sánh được sử dụng khi phân tích, đánh giá về tính pháp lý trách
nhiệm xã hội doanh nghiệp trong mối tương quan với QCN, xu thế nhìn nhận tính pháp
lý của TNXH của DN của các nước trên thế giới nhằm làm sáng tỏ những điểm chung,
sự khác biệt trong hệ thống pháp luật và quản lý nhà nước về TNXH của DN
Trang 13Phương pháp phân tích logic quy phạm được sử dụng khi đánh giá thực
trạng, xem xét về tính thống nhất, phát hiện mâu thuẫn trong nội dung quy định về
về TNXH của DN và bảo đảm QCN
Phương pháp trao đổi với chuyên gia được sử dụng khi xây dựng đề xuất và
xây dựng chính sách (bộ nguyên tắc ứng xử chung) về TNXH của DN ở nước ta
Phương pháp liên ngành và đa ngành khoa học xã hội được sử dụng trong
toàn bộ luận án nhằm làm sáng tỏ các mối quan hệ chủ đạo giữa phát triển kinh tế
và bảo đảm QCN
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Là công trình chuyên khảo về TNXH của DN trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, luận án có những điểm mới chủ yếu sau:
- Luận án tiếp tục phát triển nhận thức lý luận về TNXH của DN, về QCN trong mối liên quan với sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp, về trách nhiệm của doanh nghiệp trong bảo đảm QCN Khái niệm và đặc điểm TNXH của DN trong bảo đảm QCN, nội dung điều chỉnh pháp luật liên quan đến nghĩa vụ của doanh nghiệp và của nhà nước trong quản lý doanh nghiệp nhằm bảo đảm QCN, các yếu tố ảnh hưởng đến TNXH của DN trong bảo đảm QCN là những khía cạnh lý luận mang tính mới của luận án
- Luận án xây dựng được bức tranh tương đối đầy đủ về TNXH của DN trong việc bảo đảm QCN ở Việt Nam thuộc hai lĩnh vực chủ đạo: lao động và môi trường Luận án chỉ ra những ưu điểm và hạn chế cũng như nguyên nhân của thực trạng điều chỉnh và thực thi pháp luật về TNXH của DN trong bảo đảm QCN thuộc hai lĩnh vực nói trên chính là phát hiện mới, có ý nghĩa thực tiễn quan trọng của luận án
- Luận án xác định rõ định hướng thực hiện TNXH của DN trong bảo đảm QCN một cách hiệu quả, mang lại những lợi ích lâu dài, bền vững cho doanh nghiệp và sự phát triển chung của toàn xã hội Luận án đề xuất được các giải pháp tương đối toàn diện để hiện thực hoá các định hướng Các giải pháp có tính mới, được luận giải sâu sắc hơn, có tính khả thi chính là đóng góp quan trọng, thể hiện mục đích tổng quát của luận án
Trang 146 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận cơ bản trong khoa học pháp lý và khoa học nhân quyền về trách nhiệm của các chủ thể trong bảo đảm QCN, trước hết là quyền của người lao động, quyền con người với môi trường
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể ứng dụng trong xây dựng các phương
án lập pháp và thực tiễn quản lý nhà nước, quản lý điều hành doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và đào tạo luật học và nhân quyền Luận án cũng có thể là tài liệu tham khảo cho bất cứ ai quan tâm đến bảo đảm QCN, vai trò và khả năng nâng cao TNXH của DN trong bảo đảm QCN ở Việt Nam hiện nay
7 Cấu trúc của Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài luận án
Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người
Chương 3: Thực trạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam
Chương 4: Định hướng và giải pháp tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Trang 15Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Tình hình nghiên cứu đề tài luận án
1.1.1.1 Nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Thuật ngữ Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - TNXH của DN
(Corporate Social Responsibility) được biết đến rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hiện
nay Theo hiểu biết chung, các doanh nghiệp hiện đại có trách nhiệm với xã hội vượt quá nghĩa vụ của họ đối với cổ đông hoặc nhà đầu tư trong công ty để thiết lập một định nghĩa rõ ràng đã thỏa thuận Mặc dù nó không phải là một khái niệm mới, TNXH của DN vẫn là một ý tưởng mới, khó nắm bắt đối với các học giả, và là vấn
đề gây tranh cãi cho các nhà quản lý doanh nghiệp và các bên liên quan của họ do phạm vi của các định nghĩa rất rộng và cách sử dụng thuật ngữ khác nhau
Đề cập nhiều đến khái niệm về TNXH của DN phải kể đến một số tác giả
sau: Freeman [64]; Crane và Matten [56]; Welford [103]; Habisch và Jonker [65]
Tuy nhiên, khái niệm về TNXH của DN được xem là xuất hiện lần đầu tiên vào
những năm 1950 (Carroll [52]; Freeman [64]; Carroll và Beiler [50]; Sturdivant [95]) “Social Responsibilities of the Businessman” (1953) (Trách nhiệm xã hội của doanh nhân) của Bowen, H.R là cuốn sách mà trong đó Bowen lần đầu tiên đưa
ra khái niệm về trách nhiệm xã hội nhằm mục đích tuyên truyền người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác và kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội Định nghĩa của Bowen tạo ra một cuộc thảo luận sâu sắc về TNXH của DN trong
nửa đầu thế kỷ 20 Trong cuốn A Three Dimensional Conceptual Model of
Corporate Performance (1979) - (Mô hình khái niệm ba chiều về hiệu suất xã hội
doanh nghiệp) của Carroll, A.B đưa ra mô hình khái niệm trong đó mô tả toàn diện
các khía cạnh thiết yếu của hoạt động xã hội của doanh nghiệp, đồng thời, giải đáp các câu hỏi: (1) TNXH của DN bao gồm những thành phần nào? (2) Tổ chức phải giải quyết các vấn đề xã hội như thế nào (3) Mô hình của tổ chức đáp ứng xã hội là
gì? Trong cuốn Measuring Corporate Social Responsibility: A Scale Development
Study (Đo lường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Nghiên cứu quy mô phát
triển) (2008), Duygu Turker phân tích nguồn gốc, giá trị, và sự đo lường đáng tin
Trang 36hành vi và hoạt động mà các thành viên của tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi
từ phía các doanh nghiệp dù cho chúng không được viết thành luật
Khía cạnh đạo đức của một doanh nghiệp thường được thể hiện thông qua
những nguyên tắc, giá trị đạo đức được tôn trọng trình bày trong bản sứ mệnh và
chiến lược của công ty Thông qua các công bố này, nguyên tắc và giá trị đạo đức
trở thành kim chỉ nam cho sự phối hợp hành động của mỗi thành viên trong công ty
và với các bên hữu quan
Khía cạnh từ thiện
Trách nhiệm từ thiện là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài sự
trông đợi của xã hội, đóng góp cho các dự án của xã hội ngay cả khi họ không liên
quan tới một doanh nghiệp cụ thể như quyên góp ủng hộ cho người nghèo, tài trợ
học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng… Điểm khác biệt giữa trách nhiệm từ
thiện và trách nhiệm đạo đức so với các trách nhiệm khác là doanh nghiệp hoàn
toàn tự nguyện Nếu họ không thực hiện TNXH của DN mức độ này, họ vẫn được
coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội trông đợi
Các khía cạnh trên dựa trên mô hình kim tự tháp về TNXH của DN của
Archie Carroll và được sử dụng rộng rãi hơn cả Theo lý thuyết của Caroll, các yếu
tố này hình thành nên mô hình “kim tự tháp TNXH của DN với các nghĩa vụ nằm
ở các tầng khác nhau và thứ tự ưu tiên thực hiện sẽ lần lượt từ dưới đáy lên đỉnh
Theo đó, bất kể các câu hỏi khác nhau về cách hành động thích hợp, TNXH của
DN đều yêu cầu mọi doanh nghiệp phải nắm giữ bốn loại nghĩa vụ và phải đáp
ứng chúng theo thứ tự: kinh tế, pháp lý, đạo đức và cuối cùng là từ thiện
Hình 1 Mô hình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
của Caroll Archie (1999) [51]
Trang 37Từ cách phân tích nói trên, một cách chung nhất, có thể hiểu TNXH của DN
là sự cam k t và hành động thực t của doanh nghiệp đ ng g p cho việc phát triển kinh t bền v ng, thông qua việc nâng cao chất lượng đời sống cho người lao động
và các thành viên trong gia đ nh họ; cho cộng đ ng và cho toàn xã hội theo cách
c lợi cho cả doanh nghiệp c ng như phát triển chung của xã hội
2.1.1.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo đảm quyền con người
Quyền con người và nhu cầu bảo đảm quyền con người
QCN (human rights)1 là một phạm trù đa diện Theo cách hiểu của Văn
phòng Cao ủy Liên hợp quốc về QCN (Office of High Commissioner for Human
Rights – OHCHR)thì “quyền con người là nh ng bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) c tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nh m chống lại
nh ng hành động (actions) hoặc sự b mặc (omissions) mà làm tổn hại đ n nhân phẩm, nh ng sự được ph p (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người” [86, tr.1] Bên cạnh đó, một cách hiểu khác cũng mang tính phổ
biến cho rằng, quyền con người là nh ng sự được ph p (entitlements) mà tất cả
thành viên của cộng đ ng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội ; đều c ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ v họ là con người [6,
tr.37]
Như vậy, về bản chất, QCN là quyền vốn có của tất cả mọi người, bất kể quốc tịch, nơi cư trú, giới tính, nguồn gốc quốc gia hay dân tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ hoặc bất kỳ địa vị nào khác Tất cả chúng ta đều được hưởng QCN như nhau mà không bị phân biệt đối xử Những quyền này đều liên quan đến nhau, phụ thuộc lẫn nhau và không thể chia cắt Chúng không bao giờ có thể bị lấy đi, mặc dù đôi khi chúng có thể bị hạn chế Những quyền cơ bản này dựa trên các giá trị như nhân phẩm, sự công bằng, bình đẳng, tôn trọng và độc lập Những giá trị này được xác định và bảo vệ bởi pháp luật, dưới các hình thức điều ước quốc tế, luật quốc tế thông thường, các nguyên tắc chung và các nguồn khác của luật quốc tế
1 Liên quan đến khái niệm QCN, cần lưu ý rằng thuật ngữ human rights trong tiếng Anh có thể được dịch là QCN (theo tiếng thuần Việt) hoặc nhân quyền (theo Hán – Việt) Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền chính là “quyền con người [37, tr 1239] Như vậy, xét về mặt ngôn ngữ học, đây là hai từ đồng nghĩa, do đó, hoàn toàn có thể sử dụng cả hai từ này trong nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tiễn về quyền con người
Trang 38QCN luôn cần phải được bảo đảm để thực thi trong thực tế Trên cơ sở nhận
thức chung của gia đình nhân loại, vào năm 1948, Tuyên ngôn quốc t về quyền con
người (UDHR) nói chung được thừa nhận là nền tảng của luật nhân quyền quốc tế
Đây là sự ràng buộc pháp lý ở cấp độ quốc tế đối với chính phủ của các quốc gia nhằm bảo đảm QCN, theo đó, các quyền cơ bản và quyền tự do cơ bản là vốn có của tất cả mọi người, không thể thay đổi và áp dụng như nhau đối với mọi người,
và mỗi người trong chúng ta được sinh ra tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền, bất kể quốc tịch, nơi cư trú, giới tính, nguồn gốc quốc gia hay dân tộc, màu
da, tôn giáo, ngôn ngữ hay bất kỳ địa vị nào khác Tuyên ngôn khẳng định QCN là
"một tiêu chuẩn thành tựu chung cho mọi dân tộc và quốc gia", nêu rõ các quyền dân sự, chính trị, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa mà tất cả con người được hưởng, cung cấp các chuẩn mực cơ bản về quyền con người mà mọi người nên tôn trọng và bảo vệ
UDHR đã tạo ra cảm hứng để hình thành và phát triển Luật nhân quyền quốc
tế hiện đại UDHR, cùng với Công ước quốc t về các quyền dân sự và chính trị
(ICCPR) và hai Nghị định thư không bắt buộc và Công ước quốc t về các quyền kinh t , xã hội và văn h a (ICESCR), tạo thành Bộ luật nhân quyền quốc tế Từ
năm 1945, một loạt các điều ước quốc tế về QCN và các công cụ khác đã được thông qua, tạo ra hình thức pháp lý về QCN2
Ngoài ra, còn có nhiều công cụ phổ quát khác liên quan đến QCN hướng tới mục đích chung là tạo khung khổ pháp lý quốc tế để thúc đẩy và bảo vệ QCN ở cấp độ quốc tế và tại các quốc gia
2 Có thể liệt kê một số Công ước chính như:
(ICRMW);
Trang 39Như vậy, QCN đòi hỏi cả quyền và nghĩa vụ Các quốc gia thực hiện theo luật pháp quốc tế để tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thực hiện các QCN Nghĩa vụ tôn trọng có nghĩa là các quốc gia phải kiềm chế không can thiệp hoặc cắt giảm việc hưởng thụ QCN Nghĩa vụ bảo đảm là việc tạo ra các tiền đề, điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để cá nhân, công dân, các tổ chức của công dân thực hiện được các quyền, tự do, lợi ích chính đáng của họ đã được pháp luật ghi nhận Nghĩa vụ bảo vệ đòi hỏi các quốc gia phải bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại các vi phạm nhân quyền Nghĩa vụ phải thực hiện có nghĩa là các quốc gia phải có hành động tích cực để tạo điều kiện thuận lợi cho việc hưởng các quyền cơ bản của con người Ở cấp độ cá nhân, trong khi chúng ta được hưởng QCN, chúng ta cũng nên tôn trọng QCN của người khác
Các chủ thể thực hiện việc bảo đảm quyền con người
a) Chủ thể nhà nước
Quan niệm về bảo đảm QCN đặt ra yêu cầu bắt buộc các chủ thể trong xã hội có trách nhiệm bảo đảm QCN, trước hết và chủ yếu là nhà nước, thực hiện các biện pháp về thể chế lập pháp, hành pháp, tư pháp, và về quản lý chính trị, kinh tế,
xã hội, văn hóa để hiện thực hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn về QCN trong hoạt động của nhà nước và các hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, đặc biệt trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nhằm thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy QCN trong thực tế Hiện nay, vấn đề toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đến công tác bảo đảm QCN, con người không chỉ được bảo đảm ở cấp độ quốc gia mà còn ở cấp độ quốc tế
Các Nguyên tắc Hướng dẫn của LHQ quy định rằng việc bảo vệ QCN của
nhà nước bao gồm trách nhiệm bảo vệ chống lại các hành vi lạm dụng do các bên thứ ba thực hiện trong lãnh thổ Các bên thứ ba đó bao gồm các doanh nghiệp kinh doanh Các bước thích hợp để bảo vệ bao gồm phòng ngừa, điều tra, trừng phạt và khắc phục thông qua các chính sách, pháp luật, quy định và xét xử hiệu quả Cụ thể hơn, điều này có nghĩa là các quốc gia phải thực thi và định kỳ đánh giá tính đầy đủ của các luật nhằm yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh tôn trọng QCN; đảm bảo rằng các lĩnh vực pháp luật khác không hạn chế, nhưng cho phép doanh nghiệp tôn trọng nhân quyền; cung cấp hướng dẫn hiệu quả cho các doanh nghiệp kinh doanh
về cách tôn trọng QCN trong suốt quá trình hoạt động; và khuyến khích, hoặc khi thích hợp, yêu cầu các công ty thông báo cách họ giải quyết các tác động nhân
Trang 40quyền trong hoạt động của họ Ngoài việc đảm bảo sự nhất quán giữa các cơ quan pháp luật khác nhau về sự tôn trọng của doanh nghiệp đối với QCN, các quốc gia cũng nên đảm bảo sự nhất quán về chính sách chung theo cách mà các bộ ban ngành, cơ quan liên quan của chính phủ và các tổ chức khác dựa trên nhà nước hành động theo nhiệm vụ của họ
Theo đoạn thứ hai của các nguyên tắc hướng dẫn, các quốc gia cần nêu rõ kỳ
vọng rằng “tất cả các doanh nghiệp kinh doanh cư trú trên lãnh thổ và / hoặc
quyền tài phán của họ tôn trọng quyền con người trong suốt quá tr nh hoạt động của họ” [98] Trong phần bình luận của đoạn này, các nguyên tắc hướng dẫn thừa
nhận rằng các quốc gia hiện tại không bị bắt buộc theo luật quốc tế để điều chỉnh các hoạt động ngoài lãnh thổ của các công ty cư trú trong lãnh thổ và /hoặc khu vực pháp lý của họ Tuy nhiên, bài bình luận tiếp tục nói rằng có những lý do chính sách mạnh mẽ để các quốc gia trong nước đặt ra rõ ràng kỳ vọng rằng doanh nghiệp tôn trọng nhân quyền ở nước ngoài, đặc biệt là chính quốc gia đó cũng tham gia vào hoạt động kinh doanh Vì vậy, các quốc gia có trách nhiệm khi bản thân họ là chủ sở hữu hoặc khách hàng của các tập đoàn; hoặc bất cứ khi nào các tập đoàn được kiểm soát, hỗ trợ hoặc phục vụ bởi các cơ quan và tổ chức nhà nước
b) Các chủ thể phi nhà nước
Ngoài nhà nước, nhận thức phổ biến của cộng đồng quốc tế cũng cho rằng các tổ chức, thể chế quốc tế, các đảng phải chính trị, các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế, các nhóm chính thức hoặc không chính thức, các cộng đồng, các gia đình, các bậc cha mẹ và các cá nhân, tuỳ theo vị thế của mình cũng có trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và góp phần thúc đẩy các QCN
Những chủ thể này được gọi chung là các chủ thể phi nhà nước (non-state actors)
[6, tr.35] Các chủ thể này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy QCN, có nghĩa
vụ tôn trọng và không vi phạm các QCN Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả sẽ tập trung phân tích chủ thể doanh nghiệp nhằm xác định vai trò, vị trí của doanh nghiệp trong việc bảo đảm QCN
c) Chủ thể doanh nghiệp
QCN có liên quan đến các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường của hoạt động doanh nghiệp Ví dụ, quyền lao động đòi hỏi các công ty phải trả tiền công hợp lý ảnh hưởng đến khía cạnh kinh tế Các QCN như quyền không phân biệt đối
xử có liên quan đến khía cạnh xã hội Và các khía cạnh môi trường của hoạt động