Lí do chọn đề tài Lựa chọn đề tài: “Hình tượng đất nước trong thơ Việt Nam giai đoạn 1945 -1975, tôi xuất phát từ những lí do sau: Thơ là một thể loại văn học nảy sinh từ rất sớm trong đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC Sư PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ THÚY LAN
HÌNH TƯỢNG ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1945 - 1975
Chuyên ngành: Lý Luận văn học
Mã số: 60220120
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Nam
HÀ NỘI, 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành nhờ sự chỉ bảo giúp đỡ tận tình của thầy giáo
TS Nguyễn Văn Nam, em xin gửi tới thầy lời cảm ơn chân thành, sâu sắc.
Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình làm luận văn này.
Hà Nội, Ngày 10 tháng 7 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Thúy Lan
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực
và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Luận văn này chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào Nếu những lời cam đoan trên là sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, Ngày 10 tháng 7 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Thúy Lan
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 7
Chương 1 Cảm hứng yêu nước trong thơ Việt Nam và thơ kháng chiến 7
1.1 Chủ nghĩa yêu nước 7
1.2 Hình tượng đất nước trong thơ Việt Nam qua các thời đại 11
1.3 Sự phát triển về chất của thơ Việt Nam giai đoạn kháng chiến 16
1.3.1 Chủ nghĩa yêu nước mới, vị trí mới của nghệ sĩ và văn chương trong chiến tranh cách mạng 16
1.3.2 Tư duy nghệ thuật mới 25
Chương 2 Vẻ đẹp của hình tượng đất nước trong thơ Việt Nam và thơ kháng chiến 32
2.1 Đất nước tươi đẹp và nhân ái 32
2.2 Đất nước đau thương 37
2.3 Đất nước của một dân tộc anh hung 41
2.4 Đất nước của những chiến công vĩ đại 46
2.5 Đất nước trong chiều sâu truyền thống và tầm cao hiện đại 51
2.5.1 Sự gắn kết với truyền thống lịch sử được nhận thức sâu và rộng chưa từng có 51
2.5.2 Tầm vóc lớn lao của đất nước chưa từng có trong hiện tại 57
2.5.3 Vị trí của đất nước trong lòng nhân loại 59
2.6 Nét độc đáo của hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến 63
Chương 3 Nghệ thuật biểu hiện hình tượng đất nước trong thơ Việt Nam kháng chiến 67
Trang 53.1 Tầm nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn 67
3.2 Biểu tượng thơ 71
3.3 Chất triết lí và chính luận 78
3.4 Không gian và thời gian nghệ thuật 82
3.5 Thể thơ 87
3.6 Ngôn từ và giọng điệu thơ 91
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Lựa chọn đề tài: “Hình tượng đất nước trong thơ Việt Nam giai đoạn 1945
-1975, tôi xuất phát từ những lí do sau:
Thơ là một thể loại văn học nảy sinh từ rất sớm trong đời sống con người, làmột thể loại văn học nằm trong phương thức trữ tình nhưng bản chất của thơ lại rất
đa dạng với những màu sắc phong phú Tác động đến người đọc bằng nhận thứccuộc sống, khả năng gợi cảm sâu sắc, vừa trực tiếp với những cảm xúc, suy nghĩ cụthể, vừa gián tiếp qua liên tưởng, vừa theo mạch cảm nghĩ, vừa bằng rung động củangôn từ giàu nhạc điệu Thơ gắn với cuộc sống khách quan và sự phong phú trongđời sống xã hội Thơ gắn với chiều sâu thế giới nội tâm của con người
Thơ là những rung động và cảm xúc của con người trước cuộc sống được bộc
lộ một cách chân tình, tự nhiên Tình cảm trong thơ nảy sinh từ những rung độngtrực tiếp của nhà thơ Lê Quý Đôn cho rằng “Thơ phát khởi từ trong lòng ta”, “Thơ
là bút kí trung thành của trái tim” (ĐuyBelây)
Cùng với tiến trình lịch sử văn học dân tộc không ngừng tiếp diễn, thơ ca nóichung và thơ ca viết về đất nước nói riêng trong những thời kì khác nhau vừa có sựtiếp nối vừa mang những đặc điểm khác nhau Xu hướng vận động, phát triển củahình tượng đất nước cần được nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan trên bìnhdiện những mặt tiến bộ đổi mới phát triển theo hướng tích cực
Có thể nói đề tài về đất nước ở thời kì nào cũng có Nó xuất hiện dưới nhiềucách thức biểu hiện khác nhau và ở mức độ khác nhau Từ xa xưa, đã có rất nhiềusáng tác hay về đất nước và điều này được tiếp nối trong thơ ca Việt Nam giai đoạn1945-1975 Thời kỳ này thơ về đất nước được phát triển một cách thực sự sâu rộngvới những tên tuổi như: Tố Hữu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn KhoaĐiềm, Hoàng Cầm Kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc, nhiều thế hệ ngườicầm bút luôn hướng về quê hương đất nước Vì thế khi đất nước có giặc ngoại xâm
họ đã hăng hái lên đường tham gia vào cuộc đấu tranh chung để giải phóng dân tộc
Là chiến sĩ đồng thời cũng là thi sĩ các nhà thơ quan niệm rằng: thơ ca là phải phục
Trang 7Chúng tôi lựa chọn sáng tác của các nhà thơ: Tố Hữu, Chế Lan Viên, HoàngCầm, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyên Hồng, Chính Hữu, Lê AnhXuân về hình tượng đất nước trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Việcnghiên cứu sự phát triển của hình tượng đất nước trong thơ Việt Nam giai đoạn1945-1975 không chỉ cung cấp thêm vốn tư liệu cần thiết cho quá trình giảng dạy
Trang 8mà còn giúp khám phá ra cái hay cái đẹp của hình tượng văn học, hiểu biết sâu sắchơn về đất nước con người Việt Nam trong những năm tháng đau thương mà rất đỗi
Trang 9hào hùng Qua đó, nó giúp người đọc bồi dưỡng tình yêu quê hương
tự hào dân tộc thêm sâu sắc
Trên bình diện lý luận, trong xu hướng nghiên cứu thi pháp học truyền thống
và thi pháp học hiện đại, vấn đề hình tượng nghệ thuật vẫn được các nhà nghiên cứuquan tâm tìm hiểu như là một phương thức độc đáo của nghệ thuật trong tái hiện vàtiếp cận đời sống là phương diện cơ bản làm nên đặc trưng thẩm mĩ nghệ thuật vớinhiều phát hiện mới mẻ Đây cũng là con đường đúng đắn để có thể tiếp cận các tácphẩm nghệ thuật, từ đó giúp các nhà nghiên cứu, phê bình, giảng dạy văn học tìm rađược những giá trị đích thực của tác phẩm Kế thừa và phát huy những thành tựuđáng kể của xu hướng nghiên cứu này, người viết đi sâu nghiên cứu về: Tố Hữu,Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hoàng Cầm, Hồng Nguyên, Nguyễn Khoa Điềm,Chế Lan Viên và hình tượng đất nước trong thơ họ, góp phần lí giải thế giới nghệthuật trong thơ, tạo cơ sở xác định vị trí và những đóng góp của một số nhà thơ giaiđoạn 1945 - 1975 nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung
Hình tượng đất nước là một trong những hình tượng nghệ thuật thu hút đượcrất nhiều sự chú ý mạnh mẽ của giới nghiên cứu, phê bình, sáng tác cũng như côngchúng yêu văn học trong và ngoài nước Tiêu biểu trong số đó là các bài viết củacác tác giả như:
Nguyễn Duy Bắc Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại (1945 1975), NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội 1998 Sách đã tập trung miêu tả hình tượng
-Tổ quốc qua các biểu trưng, mô típ được lặp lại và các hình ảnh tượng trưng khácvừa có tính chất truyền thống vừa có tính cách tân đổi mới
Vũ Duy Thông Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945 - 1975, NXBGiáo Dục, 1998 Tác giả cung cấp cho người đọc một cái nhìn khái quát về nhữngbiểu hiện của hình tượng đất nước trong thơ kháng chiến
Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) Lịch sử văn học Việt Nam tập 3 NXB Đại học
sư phạm, 2002 Mang đến cho người đọc cái nhìn toàn cảnh về diện mạo và quy luậtphát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác như:
Trang 10Có thể nói hầu hết các khía cạnh của hình tượng thơ về đất nước ít nhiều được
“đụng chạm” đến ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên mảng thơ viết về sự phát triểncủa hình tượng đất nước trong thơ Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 còn chưa đượctìm hiểu và nghiên cứu một cách đầy đủ có hệ thống Chọn đề tài này, chúng tôimong muốn nói rõ hơn về biểu hiện sự phát triển của hình tượng đất nước trong thơViệt Nam giai đoạn 1945 - 1975 cả về nội dung và hình thức
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thứ nhất, làm rõ cảm hứng yêu nước trong thơ Việt Nam và thơ Việt Nam
kháng chiến giai đoạn 1945 - 1975
- Thứ hai, làm rõ vẻ đẹp đa dạng của hình tượng đất nước trong thơ Việt
Nam kháng chiến giai đoạn 1945 - 1975
- Thứ ba, khảo sát vấn đề qua một số tác giả - tác phẩm tiêu biểu trong thời
Khám phá những biểu hiện về nội dung và nghệ thuật xây dựng hình tượngđất nước Qua đó khẳng định đóng góp của thơ ca Việt Nam giai đoạn 1945 -1975
Bổ sung kiến thức về thơ Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 Vận dụng kết quả
Trang 11nghiên cứu nhằm phục vụ nhu cầu học tập và giảng dạy
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu: Hình tượng đất nước trong thơ Việt Nam giai đoạn
1945 - 1975
b Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chi đi sâu nghiên cứu, phân tích sự phát triểncủa hình tượng đất nước của một số tác giả như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, ChínhHữu, Hoàng Cầm, Hồng Nguyên, Chế Lan Viên, Nguyễn Khoa Điềm, Lê AnhXuân trong một số tác phẩm thơ tiêu biểu giai đoạn 1945 - 1975
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát một số bài thơ tiêu biểu viết về hình tượngđất nước của các tác giả khác nhau trong giai đoạn 1945 - 1975 Luận văn tiến hànhphân tích những đặc trưng thơ tiêu biểu viết về hình tượng đất nước của các thinhân Đồng thời tổng hợp, khái quát hóa các kết quả phân tích để rút ra các kết luậncần thiết
5.2 Phương pháp so sánh
Luận văn sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu các sáng tác của các tácgiả: Tố Hữu, Chế Lan Viên, Hồng Nguyên qua các thời kì, sáng tác của một số nhàthơ thời kì kháng chiến chống Pháp với một số tác giả thời kì kháng chiến chống Mĩ
để thấy rõ nét độc đáo, đặc sắc và đóng góp của họ trong thơ ca dân tộc
5.3 Phương pháp hệ thống tư liệu
Trên cơ sở những tài liệu thu thập được, tiến hành phân loại sắp xếp nhữngtác phẩm thơ theo từng phạm vi biểu hiện của hình tượng đất nước Lựa chọn tácgiả, những bài, đoạn thơ hay phù hợp để làm dẫn chứng cho những nhận địnhnghiên cứu
Ngoài các phương pháp trên chúng tôi còn kết hợp một số phương pháp khácnhư: Phương pháp thi pháp học, phương pháp nghiên cứu văn hóa
6 Đóng góp của luận văn
Hình tượng đất nước rất quen thuộc trong thơ ca dân tộc Nhưng hình tượngnày được thơ ca kháng chiến thể hiện một cách tập trung với nhều nét mới Nó
Trang 137 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luậnvăn gồm 3 chương:
Chương 1 Cảm hứng yêu nước trong thơ Việt Nam và thơ kháng chiến 1945 - 1975 Chương 2 Vẻ đẹp của hình tượng đất nước trong thơ Việt Nam kháng chiến
Chương 3 Nghệ thuật biểu hiện hình tượng đất nước
Trang 14PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CẢM HỨNG YÊU NƯỚC TRONG THƠ VIỆT NAM
VÀ THƠ KHÁNG CHIẾN 1.1 Chủ nghĩa yêu nước
Tinh thần yêu nước là một giá trị văn hóa cao đẹp của dân tộc Việt Nam, làmột thành tố rất quan trọng có vai trò quyết định trong sức mạnh dựng nước và giữnước của nhân dân ta Tinh thần yêu nước là biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa yêunước Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại Chủ nghĩa yêu nước là sự phát triển ởtrình độ cao của tinh thần yêu nước, là sự kết hợp chặt chẽ giữa lí trí và tình cảm, làtinh thần yêu nước đã đạt tới trình độ tự giác và độ bền vững cao Giáo sư Trần VănGiàu viết: “Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam hẳn không phải là mộttruyền thuyết thâm viễn, cũng không phải là một tín ngưỡng huyền diệu, nó là một
hệ thống tư tưởng nhận thức và ứng xử đơn giản nhưng vừa đủ để cho dân tộc ViệtNam tồn tại và tồn tại trong danh dự”
Chủ nghĩa yêu nước là nội dung lớn, xuyên suốt quá trình phát triển của vănhọc Việt Nam Các cuộc kháng chiến thắng lợi của nhân dân ta chống các tập đoànphong kiến phương Bắc xâm lược hùng mạnh, hung hãn: Tống, Nguyên Mông,Minh đã tạo ra niềm phấn khởi và ý thức tự hào dân tộc Các nhà văn, nhà thơ ởthế kỉ XIII đến XV như Lí Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ, Nguyễn Trãiđều là những người đứng ở vị trí chỉ huy cuộc kháng chiến Họ vừa là những anhhùng, vừa là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc, tác giả những áng thơ văn yêu nướcchống xâm lược
Chủ nghĩa yêu nước trong văn học trung đại gắn liền với tư tưởng “trungquân ái quốc” Tuy nhiên, tư tưởng yêu nước có tính đặc thù này không tách rờitruyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước biểu hiện rấtphong phú, đa dạng: Đó là âm điệu hào hùng khi đất nước chống giặc ngoại xâm,giọng điệu thiết tha khi đất nước trong cảnh thái bình thịnh trị Nhìn chung, chủnghĩa yêu nước được thể hiện tập trung ở một số phương diện: Ý thức độc lập tựchủ, tự cường, tự hào dân tộc (Đại cáo bình Ngô), lòng căm thù giặc, tinh thần
Trang 15quyết chiến, quyết thắng kẻ thù (Hịch tướng sĩ), tự hào trước chiến
(Phò giá về kinh): Chương Dương cướp giáo giặc / Hàm Tử bắt quân thù /
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, chúng ta đã có ba bảntuyên ngôn độc lập Bài thơ thần tương truyền của Lý Thường Kiệt chính là bảntuyên ngôn độc lập thứ nhất của dân tộc Năm 1428, sau cuộc chiến tranh giảiphóng khỏi ách đô hộ của nhà Minh, Nguyễn Trãi đã viết “Đại cáo bình Ngô” - bảntuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc Bản tuyên ngôn độc lập lần thứ ba do Chủtịch Hồ Chí Minh tuyên bố ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộnghòa Tất cả các bản tuyên ngôn đều khẳng định quyền dân tộc tự quyết của ViệtNam, ý chí quyết tâm giữ độc lập dân tộc, giữ vững bản sắc văn hóa Việt Nam trong
sự nghiệp xây dựng đất nước ta độc lập, dân chủ và giàu mạnh Từ tình yêu quêhương xứ sở nâng lên thành ý thức bảo vệ non sông đất nước là bước trưởng thànhcủa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống Thế kỉ XV, Lê Thánh Tông đãkhẳng định: “Một thước núi, một tấc sông của ta không thể vất bỏ Ai dám đemmột thước núi, một tấc sông của vua Thái Tổ để lại làm mồi cho giặc thì tội phải trudi” Mỗi lần tổ quốc bị xâm lăng thì mọi tầng lớp nhân dân luôn đặt lợi ích đất nướclên trên hết và sẵn sàng gạt bỏ mọi lợi ích riêng, chấp nhận mọi gian nan thử thách,
hi sinh vì độc lập dân tộc Chính trên tinh thần đó về sau Chủ tịch Hồ Chí Minh đãkhái quát: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”
Cảm hứng yêu nước vẫn được tiếp nối và phát huy ở nền văn học thời cậnđại và hiện đại Con người Việt Nam, văn học Việt Nam luôn lấy tiêu chí yêu nướclàm đầu Nuôi chí diệt thù cứu nước ngay từ thửa ấu thơ, cậu bé Phan Văn San từngxúc động sâu sắc trước những chuyện “ông Trương Định vì Nam Kì mà tuẫn tiết,ông Nguyễn Tri Phương vì Hà Nội mà tuẫn tiết”, từng “vung tay đấm ngực tự thanthở cho mình thua sức hai ông đó” (Phan Bội Châu niên biểu) Càng lớn lên nỗi đau
Trang 16mất nước càng vò xé tâm can ông:
Trang 17Hồn cố quốc vẩn vơ vơ vẩn Khôn tìm đường dò nhắn hỏi han
Khói tuôn khí uất, sóng cồn trận đau
(Hải ngoại huyết thư - Phan Bội Châu)
Từ hiện thực đau thương, Phan Bội Châu kích động ý thức trách nhiệm củamỗi người dân “Xúm tay vào kéo lại non sông” Chữ trung quân giờ đây đã trở nên
vô nghĩa, bởi vua đã là “tượng gỗ”, còn quan thì “Suốt một lũ trong vòng cung thất /Của ăn chơi cao huyết muôn người” Phan Bội Châu khẳng định quyền làm chủ của
dân: Nghìn muôn ức triệu người trong nước / Xây dựng nên cơ nghiệp nước nhà / Người dân ta, của dân ta, / Dân là dân nước, nước là nước dân / Nếu không dân cũng là không có gì (Hải ngoại huyết thư - Phan Bội Châu) Phan Bội Châu đã lí
giải về lòng yêu nước theo cách của ông: “Nước còn thì nhà còn, nước mất thì nhàmất Nước vốn là đầu não của mình ta, nền tảng của nhà ta vậy Người biết cómình thì ắt yêu mình Yêu nước tức là cái hình ảnh yêu mình phóng đại ra vậy.Người đã có mình, có nhà thì đều có trách nhiệm yêu nước” Tầm nhìn mới mẻmang dấu ấn thời đại ấy quả đã có sức mạnh thôi thúc không nhỏ
Thơ mới cũng không nằm ngoài quy luật này Các nhà thơ mới trong hoàncảnh đất nước lầm than luôn trĩu nặng nỗi niềm ưu tư chua xót Khát vọng tự do đếnsớm với phong trào thơ mới qua “Những vần thơ” của Thế Lữ “Nhớ rừng” mangmột khát vọng đớn đau được trở về cội nguồn, trong ý nghĩa sâu xa, con hổ nhớrừng là biểu tượng của khát vọng tự do mang tâm sự yêu nước thầm kín của thinhân Gần gũi với hình ảnh trên là hình tượng “Con voi già” của Huy Thông “Convoi già là biểu tượng về cuộc đời cách mạng của Phan Bội Châu Huy Thông đãđem vào thơ một giọng thơ hùng tráng, một cảm hứng lịch sử hùng mạnh và thiết
tha: Có hay đâu gió xuyên sơn lừng lẫy / Đã than lại lời than đau đớn ấy / Đã khiến cho ở chốn mịt mùng xa / Tấm lòng ta thổn thức, hỡi voi già! (Huy Thông)
Ông muốn có đôi cánh vô ngần to rộng để ôm ghì cả vũ trụ vào lòng, muốnsống mạnh mẽ không chịu tự hủy hoại một cách tầm thường Cảm hứng ấy đượcnuôi dưỡng bằng tình yêu quê hương đất nước
Trang 18Trong thơ ca Xô viết Nghệ Tĩnh cũng thể hiện rất rõ khát vọng đấu tranh đểchặt đứt gông xiềng, giành lại non sông:
Đốt cho tiêu kiếp tù đày Cho bừng lửa hận biết tay anh hùn.
thể hiện sinh động cuộc đấu tranh phức tạp, gay go của những người cộng sản luônthắng địch và thắng cả chính mình để giữ vững lí tưởng, sự trong sáng của lươngtâm Thơ ca vô sản trong tù thời kì 1932 - 1935, thời kì 1940 - 1945 đã tiếp nối và
phát huy trên tầm cao tư tưởng mới những Đập đá ở Côn Lôn của Phan Châu Trinh, Cảm tác ở nhà ngục Quảng Đông của Phan Bội Châu ở thời kì trước.
Văn học Việt Nam 1945 - 1975 đã phát huy mạnh mẽ chủ nghĩa yêu nướctrong truyền thống lịch sử của văn học dân tộc Truyền thống yêu nước được khơidậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết và là nguồn cảm hứng lớn nhất của văn học dân tộc.Tình yêu quê hương đất nước là một nguồn thơ không bao giờ vơi cạn trong vănhọc nước ta Đó là cảm hứng chủ đạo của thơ kháng chiến chống Pháp Cảm hứng
ấy được nói đến thiết tha và sâu lắng trong nhiều bài thơ mà tiêu biểu là Bên kiasông Đuống của Hoàng Cầm và Việt Bắc của Tố Hữu, Đất nước của Nguyễn ĐìnhThi Chủ nghĩa yêu nước là một trong những nguồn cảm hứng lớn nhất của vănhọc dân tộc Chủ nghĩa yêu nước là một trong những yếu tố quan trọng giúp nhândân ta làm nên hai chiến thắng vĩ đại: Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) và đạithắng mùa xuân 1975 Và chủ nghĩa yêu nước mãi tồn tại bất diệt và được tiếp nốinâng cao qua mọi thế hệ Thơ kháng chiến chống Mỹ thực sự là vũ khí tinh thần có
Trang 19sức mạnh to lớn trong việc khơi dậy lòng yêu nước và chủ nghĩa
trường tham gia chiến đấu giải phóng miền Nam đã nảy nở nhiều tài
một niềm tự ý thức và tự biểu hiện của thế hệ trẻ Những trang thơ thời
thân mình cho đất nước được hồi sinh
1.2 Hình tượng đất nước trong thơ Việt Nam qua các thời đại
Có nhiều cách định nghĩa khái niệm hình tượng nghệ thuật song căn cứ vào
Từ điển thuật ngữ văn học do La Bá Hán chủ biên và 150 thuật ngữ văn học do LạiNguyên Ân chủ biên, ta có thể hiểu khái niệm hình tượng nghệ thuật “là sản phẩmcủa phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật của nghệthuật” [12, tr.122], “là phương thức chiếm lĩnh và tái tạo hiện thực riêng biệt, vốn
có và chỉ có ở nghệ thuật” [4, tr.141]
Như vậy, hình tượng nghệ thuật chính là khách thể đời sống được nghệ sỹ táitạo một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật Nó làm cho người ta có thểngắm nghía, thưởng ngoạn đó có thể một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên haymột hiện tượng xã hội được cảm nhận Nhưng nói về hình tượng nghệ thuật người
ta thường nghĩ tới hình tượng nhân vật bao gồm hình tượng một con người hoặc cảmột tập thể người (như hình tượng nhân dân hoặc hình tượng đất nước) với nhữngchi tiết biểu hiện cảm tính, phong phú Trong thơ Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975nổi bật là hình tượng đất nước
Trang 20Đặc trưng của hình tượng nghệ thuật thường được xác định trong quan hệvới hai lĩnh vực hiện thực và quá trình tư duy Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời
Trang 21sống nhưng không phải sao chép y nguyên những hiện tượng có
độc đáo không lặp lại của các hiện tượng
Vì những lẽ trên, cấu trúc của hình tượng nghệ thuật là phương thức chiếmlĩnh và tái tạo hiện thực riêng biệt vốn có và chỉ có ở nghệ thuật
Hình tượng nghệ thuật thể hiện bằng chất liệu ngôn từ nghệ thuật; cũng cóthẩ gọi đó là hình tượng ngôn từ Chất liệu của tác phẩm nghệ thuật ngôn từ khôngphải là thực thể vật thể mà là một hệ thống kí hiệu ngôn ngữ, hình tượng ngôn ngữ,
do đó ít tính biểu hiện thị giác so với hình tượng nghệ thuật tạo hình Ngay khi sửdụng đậm đặc các từ tạo hình cụ thể cái mà nhà thơ tạo ra không phải là một diệnmạo thị giác về sự vật mà chỉ là những liên hệ, liên tưởng về ngữ nghĩa gợi ra ảogiác về diện mạo ấy
Hình tượng ngôn từ có sự khúc xạ của một yếu tố này trong yếu tố khác, có
sự xuyên thấm lẫn nhau về ngữ nghĩa nhưng ở đó không có sự sáng rõ, độ phân giải
về nét như ở hội họa Do mang tính ước lệ, hình tượng ngôn từ không thể biếnthành kí hiệu, ngược lại nó khắc phục tính kí hiệu của bản thân ngôn từ Đặc điểmnổi bật của hình tượng văn học là sự thống nhất giữa khách thể và chủ thể sáng tạohình tượng, giữa hiện thực và lí tưởng, giữa khái quát và cụ thể Do đó hình tượngvăn học mang tính biểu cảm cao
Viết về đất nước là đề tài quen thuộc trong thơ ca Hình tượng đất nước xuấthiện rất sớm, gắn với sự thành bại của các vương triều qua nhiều thời kì dựng nước
Trang 22và giữ nước Trong mọi thời kì văn học, hình tượng đất nước là tượng đài cao đẹp,
Trang 23hùng vĩ nhất, luôn có vị trí đặc biệt trang trọng và thiêng liêng Đất
cùng tên tuổi các vị anh hùng dân tộc và để lại dấu ấn đặc biệt trên văn
Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
(Nguyễn Trãi)Cách viết của Lí Thường Kiệt cũng cho người đọc cảm nhận rất rõ về tìnhyêu nước, tinh thần tự hào dân tộc của ông Lí Thường Kiệt đã dùng từ Nam đếtrước cả Nguyễn Trãi Nhưng tới Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo, tư tưởng vềdân tộc trong mối quan hệ với các triều đại khác của Trung Hoa đã được thể hiện rõhơn, nhấn mạnh hơn Rằng: dân tộc chúng ta tuy nhỏ nhưng có các triều đại sánhngang với các triều đại của đất nước Trung Hoa rộng lớn Điều đó thể hiện quanniệm bình đẳng của người cầm bút về vấn đề dân tộc
Thơ ca cổ điển thường mang đến cho người đọc những cảnh vật mĩ lệ hoặcđơn sơ nhưng đẹp của nước non
Đầu thế kỉ XX, quan niệm về hình tượng đất nước có những đổi mới khá cănbản, hình tượng đất nước được đặt lên hàng đầu trong thơ của nhiều sĩ phu Phan
Trang 24Bội Châu đặt Tổ quốc trong sự gắn bó sâu sắc giữa dân với nước.
trông / Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày (Thề non nước - Tản Đà)
Hình ảnh Tổ quốc đã xuất hiện thấp thoáng trong thơ Tản Đà Nhưng với tưtưởng thoát ly, yếm thế của nhà thơ, hình ảnh Tổ quốc lúc này có khi chỉ còn là bức
thư đồ rách: Nọ bức dư đồ thử đứng coi / Sông sông núi núi khéo bia cười / Biết bao lúc mới công vờn vẽ / Sao đến bây giờ rách tả tơi / Ẩy trước ông cha mua để lại /
Mà sau con cháu lấy làm chơi / Thôi thôi có trách chi đoàn trẻ / Thôi để rồi ta sẽ
Trang 25liệu bồi (Bức dư đồ rách - Tản Đà) Qua bài thơ thể hiện tấm lòng thiết tha gắn bó
của Tản Đà với giang sơn đất nước
Đến thời kì cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, thơ ca cách mạng đặt vấn đề giải
phóng dân tộc như một nhiệm vụ cấp thiết: Xiềng xích chặt kì hết / Gông cùm đập
Trang 26cho tan / Tiêu trừ quân cướp nước / Đừng tha lũ Việt gian (Sóng
đấu vì dân vì nước đã tạo nên những vần thơ tuyệt đẹp: Tiếng suối trong như tiếng hát xa / Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa / Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ / Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà (Cảnh khuya) Tiếng gọi của “nỗi nước nhà” luôn thao
thức trong lòng Người đã bắt gặp tiếng suối trong như tiếng hát của núi rừng thiênnhiên và hai âm thanh đó hòa hợp, ngân dài, vang sâu suốt cả bài thơ
Chủ tịch Hồ Chí minh nhìn ngắm thiên nhiên không phải bằng thái độ hưởng thụhoàn toàn chiêm ngưỡng mà với tinh thần làm chủ, cải tạo thế giới, với niềm tinhướng về phía ánh sáng, phía tương lai:
Non xa xa, nước xa xa Nào phải thênh thang mới gọi là Đây suối Lênin, kia núi Mác Hai tay xây dựng một sơn hà.
(Hồ Chí Minh)Trong Pác Pó hùng vĩ này, biểu tượng đặc trưng của truyền thống thơ ca dân tộc(non non, nước nước) hòa làm một với tinh thần mới của thời đại vô sản Từ cảmhứng đến hình tượng, hồn non nước thiêng liêng mà gần gũi, thân thiết hòa quyện
Trang 27với khí thế mới, vững chắc đi lên của phong trào cách mạng.
Trang 28Sau cách mạng tháng Tám, đất nước được nhận thức sâu sắc hơn nhờ sự kếthừa và phát triển có tính biện chứng của thơ ca truyền thống Có thể nói, chưa baogiờ hình tượng đất nước lại được nhận thức một cách đầy đủ, đa diện, vừa mangtính khái quát, vừa rất cụ thể Mỗi nhà thơ có cái nhìn và có cách nói riêng về cảmxúc của mình nhưng đều có nét chung trong cảm hứng về quê hương đất nước.
Là những người công dân mới của một đất nước đã có chủ quyền, các nhàthơ kháng chiến luôn có ý thức làm chủ đối với đất nước Đất nước được nhìn từphương diện lịch sử là chiến công hiển hách ngàn đời nay cha ông ta để lại Trongthẳm sâu thăng trầm lịch sử với những huyền thoại xa xưa, trong tiếng ngựa híThánh Gióng nhổ tre ngà đánh giặc, sâu thẳm trong linh thiêng cõi lòng là âm thanhtiếng thơ thần vang lên bên bờ sông Như Nguyệt, lay gọi tâm thức mọi thế hệ vẫn làlời thề giết giặc “Sát thát”, là trống trận Hùng Vương Tất cả như còn nguyên, lắnglại và đi vào cõi nhớ, vang mãi một thời không thể nào quên Đất nước - hai tiếngthiêng liêng đó mang đầy đủ phẩm chất được hun đúc từ hình ảnh tướng sĩ một lòngphụ tử, cùng nhau căm giặc nước thề không cùng sống, từ người lính áo vải theoNguyễn Huệ phất cờ khởi nghĩa, từ người nông dân : “Hỏa mai đánh bằng rơm concúi” trong văn thơ Nguyễn Đình Chiểu rồi anh vệ quốc quân trong thơ chống Pháp
cô đến anh giải phóng quân - con người đẹp nhất của thế kỉ XX Hiểu được ý nghĩasâu sa của hình tượng đất nước, các nhà thơ giai đoạn 1945 - 1975 cũng bộc lộ mộtcách nhìn vừa đa dạng, giản dị mà vẫn không kém phần thiêng liêng cao cả Bằngcảm xúc chân thành tha thiết trong chiều sâu suy nghĩ, thơ Việt Nam 1945 - 1975 đãthể hiện thật phong phú nhiều bình diện về hình tượng đất nước
1.3 Sự phát triển về chất của thơ Việt Nam giai đoạn kháng chiến
1.3.1 Chủ nghĩa yêu nước mới, vị trí mới của nghệ sĩ và văn chương trong chiến tranh cách mạng
Chủ nghĩa yêu nước là nguồn động lực tinh thần lớn nhất của nhân dân tatrong cuộc kháng chiến cũng là nguồn cảm hứng lớn bao trùm và thấm sâu trongmọi tác phẩm thơ ca Nó đã trở thành truyền thống sáng ngời trong lịch sử tồn tại vàphát triển lâu dài của văn học dân tộc Việt Nam Thơ kháng chiến đã phát huy cao
Trang 29độ những truyền thống tinh thần cơ bản của dân tộc - cũng là nét
là “hành vi của quần chúng là bước đi của hàng triệu con người, là đấu tranh và cahát thống nhất với nhau” P.Eluya (Pháp) thì nói: “Thơ phải là phương tiện hànhđộng, phương tiện để tiến lên” Tố Hữu nói uyển chuyển hơn nhưng cũng cùngmột tinh thần như thế: “Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí”” [23,tr.85] Đến giai đoạn kháng chiến chống pháp và chống Mỹ, văn học đi từ cái tôi cánhân của thơ ca lãng mạn sang cái tôi cộng đồng thời chiến, cũng đã có nhiều quanniệm thơ gắn chặt hơn giữa thơ ca và cuộc sống Ta có thể tóm tắt những quan niệm
Trang 30ấy như sau: “Nghĩ cho kĩ thì thơ là nhận những “lượng thông tin” của sự vật màphát hiện những phản ánh và sáng tạo kì diệu trong tâm hồn người Quy luật lớn
Trang 31của thơ là cảm xúc và suy nghĩ suy nghĩ cũng phải đến mức cao
Trang 32biểu hiện lệch lạc, với cái xấu, cái ác Tóm lại, viết thơ phải xứng đáng là ngườichiến sĩ xung kích trên mặt trận văn hóa tư tưởng” Ở Tố Hữu có sự thống nhấtđẹp đẽ giữa cuộc đời cách mạng và cuộc đời thơ Chặng đường thơ của các nhà
Trang 33thơ kháng chiến là chặng đường lịch sử của cả dân tộc được kết tụ
tượng đất nước
Cách mạng và kháng chiến đưa thơ trở về với hiện thực đời sống của đấtnước và nhân dân, giúp các nhà thơ tìm thấy chất thơ trong cuộc sống hàng ngày,trong sinh hoạt, lao động và đấu tranh của quần chúng Nhà thơ của thời đại mớitrước hết cũng là một công dân, một cán bộ hay chiến sĩ, sống với cuộc đời thực,với mọi gian khổ, buồn vui, lo lắng, hi vọng của con người kháng chiến cùng vớiđông đảo mọi người Đời sống như vậy đã tác động và làm biến đổi cách nhìn, cáchnghĩ, điệu cảm xúc của người làm thơ Khi Tố Hữu cảm nhận được cái thi vị đậm
đà trong cuộc gặp gỡ tình cờ của người cán bộ với anh Vệ quốc quân trên đèo Nhe
có “Bóng tre trùm mát rượi”, khi Chính Hữu nói lên một cách thấm thía cái đẹp của
tình đồng đội qua sự sẻ chia những gian lao, thiếu thốn rất thực: “Áo anh rách vai; Quần tôi có vài mảnh vá ” thì chính là các nhà thơ đã tìm thấy chất thơ trong cái
bình dị hàng ngày, gần gũi với đời sống kháng chiến, của con người quần chúng.Phương châm dân tộc, hiện thực và nhân dân của nền văn nghệ càng thúc đẩyhướng đi này trong thơ “Nếu như ở một số bài thơ trong thời kì đầu kháng chiến,các nhà thơ còn chú trọng khai thác chất thơ trong những cái khác thường, phithường theo cảm hứng lãng mạn, thì hầu như phương hướng tìm kiếm phát hiện cáiđẹp và chất thơ trong phần lớn thơ ca kháng chiến lại là trong cái bình thường, giản
dị, tự nhiên của đời sống kháng chiến Thơ kháng chiến đã đưa đến sự đổi thay quantrọng về quan niệm thẩm mĩ, về cái đẹp trong thơ” [17, tr.36]
Về mặt thể loại, văn học 1945 - 1975 đã có sự phát triển ngày càng phongphú và khá toàn diện, đã tạo ra sự biến đổi nhất định trong từng thể loại, phù hợpvới yêu cầu thể hiện nội dung mới và đòi hỏi của công chúng mới Các thể loại pháttriển khá toàn diện nhưng thơ vẫn nổi trội hơn Thơ ca kháng chiến chống Pháp đãđem đến một tiếng nói trữ tình mới mẻ, khỏe khoắn - tiếng nói trữ tình của quầnchúng Thơ của các nhà thơ lớp trước cách mạng có nhiều thành công góp phần thúcđẩy sự phát triển của thơ Việt Nam hiện đại (Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, TếHanh, Huy Cận ) Các lớp nhà thơ thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Trang 34cũng không hiếm tài năng và có nhiều tìm tòi sáng tạo góp phần
(Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Chính Hữu, Hoàng Cầm, Hoàng TrungThông,
Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, NguyễnDuy )
Thơ cách mạng từ 1945 đứng trước yêu cầu mở rộng khả năng phản ánh vàphạm vi ôm chứa hiện thực rộng lớn, phong phú của đời sống cách mạng và khángchiến nên đã thúc đẩy mạnh mẽ những tìm tòi theo hướng tự do hóa hình thức thơ
“Ngay từ những năm đầu cách mạng và kháng chiến, một lớp nhà thơ mới đã ý thứcđược sự đòi hỏi của thời đại đối với thơ và họ đã nỗ lực tìm kiếm tiếng nói nghệthuật mới trong những hình thức mới, tự do hơn, đặng vượt thoát ra khỏi nhữnghình thức và giọng điệu của Thơ Mới Thơ Trần Mai Ninh, Nguyễn Đình Thi vàphần nào của Quang Dũng trong Tây Tiến, Hữu Loan trong Đèo Cả, Chính Hữutrong Đồng chí và Tháng năm ra trận, đã là những minh chứng cho hướng tìm tòi
ấy Xu hướng tự do hóa hình thức thơ trong những năm sau của cuộc kháng chiếnchống Pháp (từ cuối năm 1949, sau hội nghị tranh luận văn nghệ ở Việt Bắc) cóphần mờ nhạt đi và bị lấn át bởi xu hướng đại chúng hóa đã trở thành chủ đạo trongthơ Sau 1954, xu hướng tự do hóa hình thức thơ có điều kiện để tiếp tục đẩy mạnhnhững tìm tòi, thể nghiệm Thơ tự do đã xuất hiện khá phổ biến và trở nên quenthuộc với công chúng thơ Chế Lan Viên và Huy Cận đưa ra những thử nghiệm thơvăn xuôi và thơ sân khấu với dung lượng mỗi bài khá lớn tới hàng trăm câu thơ”[17, tr.65]
Văn học phục vụ chính trị nên quá trình vận động phát triển thường hòa nhịpvới từng bước đi của cách mạng, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước: cangợi cách mạng và cuộc sống mới (1945 - 1946), cổ vũ kháng chiến, theo sát từngchiến dịch, biểu dương các chiến công, phục vụ cải cách ruộng đất (1946 - 1954), cangợi thành tựu khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, phục vụcuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954 - 1965), cổ vũ caotrào chống Mỹ cứu nước của toàn dân tộc
Một cách tự nhiên, mỗi con người đều cảm thấy rất gắn bó với cộng đồng, có
ý thức nhân danh cộng đồng mà suy nghĩ và hành động Đất nước còn hay mất, độc
Trang 35lập tự do hay nô lệ, ngục tù? Câu hỏi ấy khiến mỗi người Việt Nam
Trang 36Văn học chặng đường từ năm 1965 đến năm 1975 tập trung viết về cuộckháng chiến chống đế quốc Mỹ Chủ đề bao trùm là ca ngợi tinh thần yêu nước vàchủ nghĩa anh hùng cách mạng Thơ những năm chống Mỹ cứu nước đạt đượcnhiều thành tựu xuất sắc, đánh dấu một bước tiến mới của nền thơ Việt Nam hiệnđại Thơ ca tập trung thể hiện cuộc ra quân vĩ đại của toàn dân tộc, khám phá sức
Trang 37mạnh của con người Việt nam, nhận thức và đề cao xứ mệnh lịch
khái quát, chất suy tưởng và chính luận
Phát hiện về Tổ quốc cũng có nghĩa là khám phá về dân tộc Việt Nam, conngười Việt Nam với những phẩm chất cao đẹp và bền vững là chủ nghĩa anh hùng,lòng nhân ái, đức hi sinh Thơ đã xây dựng được nhiều hình tượng đẹp về con ngườiViệt Nam thời đánh Mỹ, ở nhiều tầng lớp, thế hệ, lứa tuổi nhưng đều là biểu tượngcủa dân tộc, nhân dân Nhận thức về đất nước luôn gắn liền với nhận thức về nhândân, đó cũng là một nét nổi bật trong chủ nghĩa yêu nước ở thơ thời kì này Cuộckháng chiến chống Mỹ một lần nữa thể hiện sức mạnh vô tận, phẩm chất tuyệt vời
và những hi sinh vô cùng to lớn của nhân dân Tư tưởng đất nước của nhân dân đãthấm sâu vào cái nhìn và xúc cảm của mọi nhà thơ khi nói về đất nước
Đáp ứng yêu cầu lịch sử, vì mục tiêu chung của toàn dân tộc, thơ Việt Nam
từ năm 1945 - 1975 chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắcvới vận mệnh chung của đất nước Nền văn học mới được khai sinh cùng với sự rađời của nhà nước nhân dân còn non trẻ, trải qua 30 năm chiến tranh ác liệt chốngthực dân pháp và đế quốc Mĩ, vận nước có lúc ngàn cân treo sợi tóc nên sớm đượckiến tạo theo mô hình “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận và văn nghệ sĩ lànhững chiến sĩ trên mặt trận ấy” (Hồ Chí Minh) cùng với kiểu: Nhà thơ - chiến sĩ.Cảm hứng chủ đạo của nền văn học mới là tư tưởng cách mạng, văn học trước hếtphải là vũ khí phục vụ sự nghiệp cách mạng Ý thức trách nhiệm công dân củangười nghệ sĩ được đề cao Gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước nênquá trình vận động, phát triển của nền văn học mới bắt nhịp với từng chặng đườnglịch sử của dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước Giai đoạn 1945 -
1975 là giai đoạn mà cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống lại hai đế quốchùng mạnh vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước và chủ nghĩa xã hội Toàn thể dân
ta bước vào cuộc kháng chiến gian khổ và khó khăn này với một quyết tâm cao độ.Thơ ca giai đoạn này phải là đạn bom, là tiếng kèn xung trận đanh thép Sóng Hồng
Trang 38- một trong những nhà thơ, nhà lãnh đạo cách mạng đã đưa ra
định phương hướng sáng tác mới của các nhà thơ:
Lấy cán bút làm đòn xoay chế độ Mỗi vần thơ: Bom đạn phá cường quyền
(Là thi sĩ - Sóng Hồng)
Và điều đó được Hồ Chí Minh khẳng định:
Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong
(Hồ Chí Minh)
Các nhà thơ đã xác định được việc mình cần làm: “Đừng làm nhà thơ đi tìm kiếm sao Kim / Thứ vàng ấy loài người chưa thiết đến / Đi tìm quỹ đạo các trời xa, hay lắm! / Nhưng cần giải phóng ta ra khỏi quỹ đạo / Những trận xích sắt xe tăng và những trận càn” (Sổ tay thơ - Chế Lan Viên) Đáp ứng sự đòi hỏi bức thiết của thời đại có nghĩa là phải trả lời câu hỏi “Tổ quốc hay là chết” (Lời của chủ tịch Cuba -
Phiđen Catxtơrô), trả lời câu hỏi này chính là sự lựa chọn của trái tim Đối với các
nhà thơ chiến sĩ, cái giá tri thiêng liêng cuối cùng vẫn thuộc về Tổ quốc: Trời ơi, nếu
kẻ thù chiếm được / Chỉ một gốc sim thôi, dù chỉ một gốc sim / Tổ quốc sẽ ra sao, Tổ quốc? / Thơ ơi thơ hãy ghì lấy gốc sim (Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh).
Với tất cả nhận thức ấy về giá trị thơ ca đối với cuộc sống, về vai trò củangười cầm bút với thời đại, thơ ca kháng chiến giai đoạn 1945 - 1975 đã được nuôidưỡng, tiếp sức và gắn bó mật thiết với những bước đi của cách mạng, với vậnmệnh dân tộc và đời sống nhân dân Thơ giai đoạn này đã phản ánh hầu như mọimặt của cuộc sống, cuộc chiến đấu dũng cảm của nhân dân ta Điều đó cũng cónghĩa là thơ giữ được vai trò và chức năng xã hội - lịch sử của mình, đã chứng minhđược năng lực phục vụ những mục tiêu cao cả của cách mạng và đã tạo được nhữnggiá trị đáng trân trọng
Thơ ca phục vụ cách mạng giai đoạn này đã được các tầng lớp văn nghệ sĩchấp nhận một cách tự giác và tự nguyện bởi vì họ cho rằng đó cũng chính là trách
nhiêm của một công dân: Ta hiểu vì sao ta chiến đấu / Ta hiểu vì ai ta hiến máu (Tố
Trang 39Hữu) Là sự biết ơn sâu sắc với Bác Hồ, người đã làm nhà thơ “sáng
lòng”: Một buổi sáng nhìn lòng ta, ta thấy Bác / Nước mắt ràn, ta cảm hết
(Chế Lan Viên) Để rồi cuối cùng khẳng định:
Ta muốn thơ ta thành hầm chông giết giặc Cho tôi sinh giữa những ngày chống Mỹ Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy Bên những dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng
và hạ trực thăng rơi
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng - Chế Lan Viên)
Như vây, xét ở tiêu chí tác dụng của văn học đối với các đòi hỏi bức thiết củathời đại ấy thì thơ ca kháng chiến giai đoạn 1945 - 1975 hoàn toàn thỏa mãn
Ngày 5/8/1964, đế quốc Mỹ tiến hành cho máy bay B52 bắn phá miền bắcnước ta Cuộc kháng chiến chống Mỹ mở rộng trên địa bàn cả nước Cả dân tộcbước vào cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đấtnước Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã đặt nhân dân ta trước những thử thách vocùng ác liệt, gay gắt, đòi hỏi huy động triệt để mọi người lực tinh thần và lực lượngcủa cả dân tộc Cho nên văn học trong thời kì này phải trở thành một vũ khí tinhthần quan trọng phục vụ cho những mục tiêu cao cả và sống còn của dân tộc Nềnvăn học cách mạng qua hai mươi năm hình thành và phát triển đã nhanh chóng nhậpcuộc đứng vào đội ngũ chung của dân tộc trong cuộc ra quân vĩ đại Và hơn bao giờhết các nhà thơ cần xác định đây là giai đoạn thử thách cao nhất mà mỗi người phải
tự vươn mình lên trong sáng tạo nghệ thuật Các văn nghệ sĩ đều có những chuyến
đi bám sát các trận địa, các vùng chiến sự ác liệt ngay trên miền Bắc, nhiều ngườiđược điều động bổ sung cho lực lượng văn nghệ giải phóng miền Nam Nhiềungười viết thực sự vừa cầm súng vùa cầm bút, không ít nhà thơ đã hi sinh ở chiếntrường trong tư cách của người chiến sĩ Họ hi sinh nhưng hình ảnh của họ vẫn sống
mãi trong lòng nhân dân: Có những phút làm nên lịch sử / Có cái chết hóa thành bất tử (Hãy nhớ lấy lời tôi - Tố Hữu).
Thơ có mặt ở khắp mọi nơi: trên chiến hào đánh giặc, trên ba lô hành quân ratrận, trên các tờ báo, trong những đêm liên hoan văn nghệ Trong vòng 10 năm
Trang 40(1965 - 1975) đã diễn ra bốn cuộc thi thơ trong không khí sục sôi
những năm tháng không thể nào quên
1.3.2 Tư duy nghệ thuật mới
“Tự trong bản chất, những đổi mới thực thụ trong lĩnh vực nghệ thuật baogiờ cũng gắn liền với sự đổi mới về hệ hình tư duy (paradigm), về cách nhà thơkhám phá, thụ hưởng và biểu đạt thế giới Hệ hình tư duy mới, tất nhiên, tươngứng với một cái nhìn, một hình thức tổ chức diễn ngôn mới Đúng hơn, cần phải coibản thân diễn ngôn và lối viết cũng hiện tồn như những hình thức / trạng thái tưtưởng Những cây bút thực tài bao giờ cũng biết quyến rũ và thu phục người đọcbằng những tác phẩm nghệ thuật xuất sắc, ở đó, nội dung cũng là hình thức và hìnhthức cũng chính là nội dung” [7, tr.9]
“Thơ mới nhấn mạnh cái tôi cá nhân, thơ cách mạng ưu tiên cái ta Để tránh
mơ hồ về nhận thức tư tưởng, nhiều nghệ sĩ đã phải trải qua thời gian “nhận
đường”, giũ bỏ “cái tôi tiểu tư sản” để nâng cao tinh thần trách nhiệm: “Tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi / Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu” (Xuân Diệu) Về
thi pháp nghệ thuật, thơ ca cách mạng vừa chịu ảnh hưởng những thành tựu thơMới, vừa “chọi” lại thơ Mới theo phương châm hướng về đại chúng Mặc dù cònnhiều hạn chế, nhưng trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, thơ ca cách mạng 1945 -
1975 đã có những đóng góp không thể phủ nhận với sự góp mặt của nhiều cây búttài năng như Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Hoàng Cầm, QuangDũng, Nguyễn Đình Thi, Phạm Tiến Duật ” [7, tr.17]