CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNGVÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CÔNG CỘNG 1.1 Khái quát chung về gây rối trật tự công cộng 1.1.1
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN KHOA LUẬT
Trang 2- -TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô của Khoa Luật trường Đạihọc Duy Tân đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập Tiếp đếntôi xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo trường Đại học Duy Tân trong suốt quátrình học tập đã tạo điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất và chất lượng giảng dạy
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo Toà án nhân dân quậnSơn Trà, Thành phố Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trìnhtôi thực tập tại cơ quan Việc được tiếp xúc thực tế đã giúp tôi giải đáp được thắcmắc, giúp tôi có thêm hiểu biết và kiến thức thực tế đối với chuyên ngành
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Thu Na đã tận tìnhhướng dẫn tôi trong suốt quá trình tôi làm đề tài báo cáo thực tập
Trong quá trình thực hiện báo cáo tốt nghiệp, tôi nhận thấy kiến thức của bảnthân còn hạn hẹp và thời gian thực tập có hạn tại cơ quan nên không thể tránh khởinhững thiếu xót Tôi rất mong nhận được sự thông cảm, những lời đóng góp củaquý cô (thầy) và anh (chị) trong Toà án nhân dân quận Sơn Trà, Thành phố ĐàNẵng
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CÔNG CỘNG 4
1.1 Khái quát chung về gây rối trật tự công cộng 4
1.1.1 Khái niệm gây rối trật tự công cộng 4
1.1.2 Đặc điểm của tội gây rối trật tự công cộng 5
1.1.3 Các yếu tố cấu thành tội gây rối trật tự công cộng 5
1.2 Pháp luật về giải quyết các vụ án gây rối trật tự công cộng 7
1.2.1 Nguyên tắc xét xử 7
1.2.2 Thẩm quyền xét xử vụ án gây rối trật tự công cộng 9
1.3 Trình tự, thủ tục xét xử tội gây rối trật tự công cộng 10
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 13
2.1 Khái quát về Toà án nhân dân quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng 13
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, của Toà án nhân dân quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng 13
2.1.2 Cơ cấu, tổ chức của Toà án nhân dân quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng 15
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết vụ án hình sự về gây rối trật tự công cộng tại Toà án nhân dân quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng 16
2.2.1 Ưu điểm 16
2.2.2 Những khó khăn, vướng mắc 17
2.2.3 Nguyên nhân 17
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TAJI TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 18
3.1 Đối với Toà án nhân dân quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng 18
3.2 Đối với các cơ quan có liên quan 19
KẾT LUẬN 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, xu thế chuyển biến mạnh mẽ của tình hình kinh tế thế giới, đất nước
ta cũng đã có những bước tiến đột phá trong các linh vực như: chính trị, kinh tế, vănhoá, giáo dục… Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, cơ chế thị trường đã bộc lộkhông ít những tiêu cực, đặt ra cho Đảng và Nhà nước những khó khăn và tháchthức to lớn, tiêu biểu là vấn đề liên quan đến các loại tội phạm Hiện nay, tội phạmnói chung và tội phạm liên quan đến gây rối trật tự công cộng nói riêng đang là vấn
đề nhức nhối của toàn xã hội Tuy loại tội phạm này không có tính nguy hiểm cao
so với các loại tội phạm khác nhưng lại mang tính phổ biến, đa dạng và ảnh hưởngtrực tiếp đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội Đặc biệt là sự gia tăng tộiphạm gây rối trật tự công cộng ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Thành phố Hồ ChíMinh và đặc biệt là quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng
Trước tình hình đó, TAND quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng đã kết hợp cùngcác cơ quan đoàn thể xử lí loại tội phạm gây rối trật tự công cộng và đã đạt đượcnhững thành tựu đáng kể Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động của mình, TANDquận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng đã bộc lộ những hạn chế làm ảnh hưởng khôngnhỏ đến hiệu quả công việc của toàn ngành trong công tác đấu tranh với tội phạm
Từ đó, tạo tâm lí hoang mang, mất niềm tin của nhân dân vào công tác truy tố và xét
xử Công tác quản lí trật tự công cộng còn lỏng lẻo, công tác xét xử chưa thực sựnghiêm minh và mang tính răn đe làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh phòng,chống tội phạm
Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài “Pháp luật về gây rối trật tự công cộng – Thực tiễn xét xử các vụ án gây rối trật tự công cộng tại Toà án nhân dân quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng” để tìm hiểu thêm về pháp luật Việt Nam về tội gây rối
trật tự công cộng và thực tiễn xét xử tại Toà này
2 Tình hình nghiên cứu
Tội gây rối trật tự công cộng không chỉ được nghiên cứu mới đây mà trongnhững năm trở lại đây, khi xã hội phát triển, kéo theo vô số tệ nạn xã hội Từ đó cácnhà nghiên cứu cũng đang dần quan tâm đến tình hình trật tự, an toàn, an ninh xãhôi
Xét theo góc độ nghiên cứu, có các bài viết, tiểu luận, luận văn tiêu biểu sau:
1
Trang 91 Trần Long Phi: “Pháp luật Hình sự về gây rối trật tự công cộng”
2 Tạ Thị Bích Ngọc: “Tội gây rối trật tự công cộng từ thực tiễn tỉnh BắcNinh”
3 Nguyễn Thu Hương: “Tội gây rối trật tự công cộng trong pháp luật Hìnhsự”
4 Nguyễn Ngọc Hoà: “Bình luận khoa học BLHS năm 2015”
5 Nguyễn Thị Bích: “Phòng ngừa tội gây rối trật tự công cộng trên địa bàncác tỉnh thành miền Bắc”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích về tội gây rối trật tự công cộng
Đánh giá thực trạng xét xử tại TAND quận Sơn Trà, Thành phố Đà NẵngĐưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử
4.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Pháp luật Việt Nam về tội gây
rối trật tự công cộng – Thực tiễn xét xử tại TAND quận Sơn Trà, Thành phố
Đà Nẵng
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng
Phạm vi thời gian: từ năm 2019 đến năm 2021
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện chuyên đề báo cáo thực tập, tôi đã sử dụng phươngpháp nghiên cứu, phân tích, chứng minh, so sánh và liệt kê để thực hiện đề tài
6 Kết cấu của chuyên đề
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về tội gây rối trật tự công cộng và pháp luật
và pháp luật về giải quyết các vụ án gây rối trật tự công cộng
Trang 10Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết các vụ án gây rối trật tự
công cộng tại Toà án nhân dân quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Một số kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát
giải quyết các vụ án hình sự về tội gây rối trật tự công cộng tại Toà án nhân dân
quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng.
3
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG
CÔNG CỘNG
1.1 Khái quát chung về gây rối trật tự công cộng
1.1.1 Khái niệm gây rối trật tự công cộng
Dưới góc độ pháp lý, từ điển Luật học giải thích như sau: (Hành vi) vi phạmquy tắc xử sự được đặt ra cho mỗi công dân ở nơi công cộng, xâm phạm tình trạng
ổn định của sinh hoạt chung của xã hội Là các hành vi xâm phạm đến con người,đến quyền hoặc lợi ích hợp pháp của họ hoặc xâm hại đến quyền sở hữu và diễn ratại nơi công cộng Cụ thể, trật tự công cộng được hiểu là trạng thái ổn định có tổchức, có kỷ luật ở nơi công cộng Những nơi phục vụ lợi ích công cộng như đườngphố, quảng trường, công viên, bệnh viện, nhà hát, bãi biển, khi nghỉ mát… được tổchức, sắp xếp ngăn nắp, các quy ước chung được mọi người tôn trọng, thực hiệnnghiêm chỉnh
Từ khái niệm nếu trên có thể hiểu một cách ngắn gọn như sau: Trật tự côngcộng là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc,quy phạm nhất định ở những nơi công cộng mà mọi người phải tuân theo
Vậy, gây rối trật tự công cộng là hành vi cố ý làm mất tình trạng ổn định, có
tổ chức, có kỷ luật ở nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn
xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng và có thể gây thiệt hại đến lợi ích củaNhà nước, của xã hội, quyền và lời ích hợp pháp của cá nhân
Theo quy định của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 20171 quy định:
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người
có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố
ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật
tự xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền,
1 Quốc Hội, Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Luật số 100/2015/QH13) ngày 27 tháng
11 năm 2015
Trang 12lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của BLHS phải bị xử lí hình sự”.
Tội gây rối trật tự công cộng là một loại tội phạm được quy định trongBLHS, do vậy khái niệm tội gây rối trật tự công cộng được nhìn nhận dưới góc độkhái niệm chung của tội phạm Có rất nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa củatội gây rối trật tự công cộng Có tác giả cho rằng: Gây rối trật tự công cộng là hành
vi xâm phạm đến các quan hệ xã hội được nhà nước bảo vệ bằng các quy định, chếtài pháp luật… Có tác giả lại cho rằng: Gây rối trật tự công cộng là hành vi phá vỡ
sự ổn định của trật tự công cộng, vi phạm pháp luật văn hoá, chuẩn mực xã hội…Những quan điểm này đã nêu ra được mặt khách thể mà tội phạm xâm phạm đến.Dựa trên căn cứ và Điều 318 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“Tội gây rối trật tự công cộng là hành vi gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến án ninh, trật tự an toàn xã hội 2” Khái niệm này phù hợp với các quy địnhcủa pháp luật hình sự Việt Nam nhưng trong khái niệm chưa nêu được chủ thể củatội phạm Tóm lại, gây rối trật tự công cộng là: Gây rối trật tự công cộng là hành vi
cố ý làm mất trạng thái ổn định, có tổ chức, kỷ luật ở nơi công cộng gây ảnh hưởngxấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội (hò hét, làm náo động, phá phách, hành hungngười khác hoặc có hành vi làm rối loạn hoặc gián đoạn các hoạt động ở những nơicông cộng như: bênh viện, công viên…), gây thiệt hại về tài sản, sức khoẻ, danh dự
và nhân phẩm cho Nhà nước, cá nhân hoặc tổ chức Hành vi này do người có nănglực trách nhiệm hình sự thực hiện, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạthành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa được xoá án tích
mà còn vi phạm
Trật tự công cộng cộng được coi là điều kiện đảm bảo cho mọi công dân có
cơ hội tồn tại, phát triển và phát huy tối đa năng lực công hiến góp phần xây dựng
xã hội văn minh, dân chủ và bình đẳng Cho nên dưới góc độ pháp lý, tất cả cáchành vi xâm phạm đến trật tự công cộng đều gây những thiệt hại nhất định, tuỳ theotính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm mà áp dụng hình thức xử líhành chính hoặc hình sự
1.1.2 Đặc điểm của tội gây rối trật tự công cộng
Thứ nhất, gây rối trật tự công cộng nằm trong nhóm tội phạm xâm phạm an
toàn công cộng và trật tự công cộng được quy định tại BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ
2 Quốc Hội, Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Luật số 100/2015/QH13) ngày 27 tháng
11 năm 2015
5
Trang 13sung năm 2017 Ngoài ra, gây rối trật tự công cộng còn xâm hại đến các quan hệ xãhội khác như: ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ; ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xãhội, đe doạ đến tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân
Thứ hai, hành vi gây rối trật tự công cộng là hành vi cố ý làm mất tình trạng
ổn định có tổ chức, có kỷ luật ở nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật
tự, an toàn xã hội, trực tiếp xâm pham trật tự công cộng và có thể gây thiệt hại đếnlợi ích của Nhà nước, cảu xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đượcpháp luật bảo vệ
Thứ ba, tội gây rối trật tự công cộng do người có đầy đủ năng lực trách
nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Tội gây rối trật tự công cộng là tộiphạm nghiêm trọng với khung hình phạt cao nhất đến 07 năm tù, được quy định tạiĐiều 318 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
1.1.3 Các yếu tố cấu thành tội gây rối trật tự công cộng
Các yếu tố cấu thành tội phạm là những dấu hiệu định tội, có tính đặc trưng,điển hình và bắt buộc, phản ánh đầy đủ bản chất của tội phạm, là căn cứ để phânbiệt loại tội phạm này với loại tội phạm khác trong pháp luật hình sự Do đó các yếu
tố cấu thành tội phạm được xem là cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự ngườiphạm tội Các dấu hiệu của cấu thành tội gây rối trật tự công cộng được chia thànhbốn yếu tố: Chủ thể, khách thể, chủ quan và khách quan của tội phạm Bốn yếu tốnày có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, tồn tại trong một thể thống nhất
Thứ nhất, về chủ thể của tội gây rối trật tự nơi công cộng không phải là chủ
thể đặc biệt, chỉ cần là người có năng lực trách nhiệm hình sự (có khả năng nhậnthức, làm chủ hành vi) và đến một độ tuổi nhất định đều có thể là chủ thể của loạitội phạm này Cụ thể, theo khoản 1 Điều 12 BLHS 2015 sửa đổi, bô sung năm 2017quy định: “Người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm3”, vì tộiphạm này không có trường hợp nào là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệtnghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hình phạt đến 7 năm tù cho nên thuộcloại tội phạm nghiêm trọng, vì vậy người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải
là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này
Thứ hai, về khách thể của hành vi gây rối trật tự công cộng xâm pham đến
chế độ bảo vệ trật tự, an toàn nơi công cộng của Nhà nước Ngoài ra còn xâm phạmđến tính mạng, sức khoẻ, danh dự và tài sản của Nhà nước, cá nhân hoặc tổ chức.Dưới góc độ thực tiến, hành vi này là hành vi khởi đầu cho những hành vi tội phạm
3 Quốc Hội, Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Luật số 100/2015/QH13) ngày 27 tháng
11 năm 2015
Trang 14khác như: cố ý gây thương tích hoặc nghiêm trọng hơn là giết người… hoặc nhữnghành vi khác được coi là gây rối trật tự công cộng như: tổ chức đua xe trái phép,đánh bạc… Hậu quả của hành vi gây rối trật tự công cộng là thiệt hại về vật chất,tinh thần hoặc cả về vật chất và tinh thần
Thứ ba, xét về mặt chủ quan của tội gây rối trật tự công cộng thoả mãn ba
yếu tố:
Người vi phạm thực hiện hành vi với lỗi cố ý, người phạm tội thấy rõ hành vicủa mình bị pháp luật ngăn cấm; thấy trước khả năng xảy ra hậu quả của hành vi đónhưng vẫn thực hiện
Đối với loại tội phạm này không bắt buộc phải có dấu hiệu động cơ và mụcđích trong cấu thành tội phạm
Cuối cùng, về mặt khách quan của tội gây rối trật tự công cộng là hành vi
gây rối bằng nhiều phương thức khác nhau như: có thái độ coi thương trật tự tạibệnh viện, nhà thời, công viên… Cụ thể như dung lời nói thô tục, có hành vi xúcphạm đến danh dự, nhân phẩm hoặc thân thể của người khác; sử dụng vũ lực quậyphá nhằm làm hư hỏng tài sản của Nhà nước, cá nhân hoặc tổ chứ tại nơi công cộng(đập phá tượng đài, ô tô, tranh biểu tượng…) Và những hành vi này gây ra hậu quảnghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi nàu hoặc đã bị kết án nhưngchưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Hậu quả được coi là nghiêm trọng nếu hành vi đó gây rối trật tự công cộng lànhững hậu quả tác động trực tiếp đến sự ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hội, sức khoẻ, tài sản, tính mạng của người bị phạm tội Trước đây, Điều 245 BLHS năm
19994 và Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP5 quy định các trường hợp sau đây được coi là gây hậu quả nghiêm trọng:
Cản trở, ách tắc giao thông đến dưới 02 giờ;
Cản trở sự hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân;
Thiệt hại về tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên;
Trang 15Nhiều người bị thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thươn tật của tất cả những người này từ 41% trở lên;
Người khác bị thương tích hoặc bị tổn hại đến sức khoẻ với tỷ lệ thương tật
từ 21% đến 30% và còn thiệt hại về tài sản có giá trị từ 05 triệu trở lên;
Nhiều người bị thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thươn tật của tất cả những người này từ 30 đến 40% và còn thiệt hại về tài sản có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên
Ngoài các hậu quả xảy ra về tính mạng, sức khoẻ và tài sản, thực tiễn cho thấy hậu quả của hành vi gây rối trật tự công cộng còn ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Các đối tượng thường thực hiện hành vi gây rối tại các quán nhậu, vũ trường,công viên,… với các công cụ có tại hiện trường như chai, gậy gộc ven đường…
Từ những lời nói qua lại giữa các đối tượng dẫn đến xô xát gây mất trật tự công cộng
1.2 Pháp luật về giải quyết các vụ án gây rối trật tự công cộng
.2.1 Khung hình phạt và phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với các tội khác tương tự
Theo BLHS Việt Nam, hành vi gây rối trật tự công cộng có thể bị coi là tộiphạm Tội danh này được quy định trong BLHS Việt Nam kể từ khi BLHS năm
1985 ra đời Trong BLHS năm 1985, tội gây rối trật tự công cộng chưa được quyđịnh rõ ràng và chỉ bị xử lí vi phạm hành chính Để khắc phục hạn chế này, BLHSnăm 1999 ra đời đã xác định được hành vi hây rối trật tự công cộng không chỉ là viphạm hành chính mà còn là tội Theo đó, người vi phạm chỉ bị coi là tội phạm nếunhư hành vi đó gây hậu quả nghiêm trọng cũng như trong những trường hợp gây rốitrật tự công cộng mà chủ thể đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về hành vinày mà còn tiếp tục vi phạm
Tại Điều 318 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định tội gâyrối trật tự công cộng có hai khung hình phạt gồm:
Khung 1:
Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự,
an toàn xã hội hoặc đẫ bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Khung 2:
Trang 16Phạt tù từ 02 đến 07 năm đối với người phạm tội có các trường hợp sau:
Có tổ chức;
Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;
Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng; Xúi giục người khác gây rối;
Hành hung người can thiệp bảo vệ rật tự công cộng;
Tái phạm nguy hiểm 6
Qua thực tế xét xử cho thấy vẫn còn sự nhầm lẫn giữa tội gây rối trật tự côngcộng với một số tội như: tổ chức đua xe trái phép, phá rối an ninh…
Tội gây rối trật tự công cộng và tội tổ chức đua xe trái phép:
Tội đua xe trái phép được quy định tại Điều 266 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổsung năm 2017, theo đó, đua xe trái phép là hành vi đua trái phép ô tô, xe máy hoặccác loại xe khác có gắn động cơ gây thiệt hại có sức khoẻ, tài sản, tính mạng củangười khác hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tộinày chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự thực hiện
Tội đua xe trái phép và tội gây rối trật tự công cộng đều xâm phạm đến trật tự,
an toàn xã hội, đe doạ, xâm phạm đến an toàn, tính mạng, sức khoẻ, tài sản củangười khác
Ngoài điểm tương đồng trên, tội gây rối trật tự công cộng và tội đua xe tráiphép có một số điểm khác biệt cơ bản như:
Thứ nhất, về tối gây rối trật tự công cộng:
Về khách thể: Xâm phạm đến chế độ bảo vệ trật tự, an toàn nơi công cộng củaNhà nước, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự và tài sản của người khác.Hành vi khách quan: Hò hét, làm náo động, phá phách, hành hung người kháchoặc có hành vi làm rối lạon các hoạt động ở những nơi công cộng gây hậu quảnghiêm trọng
Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự: Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị
xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án nhưng chưa được xoá án tích
mà còn vi phạm
Địa điểm phạm tội: Nơi công cộng đông người như nhà ga, bến xe, công viên,đường phố…
Thứ hai, về tội đua xe trái phép
Khách thể trực tiếp: xâm phạm đến an toàn công cộng, đồng thời đe doạ đến
an toàn tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác cũng như gây ảnh hưởngnghiêm trọng đến trật tự công cộng
6 Quốc Hội, Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Luật số 100/2015/QH13) ngày 27 tháng
11 năm 2015
9
Trang 17Hành vi khách quan: hành vi đua xe trái phép gây thiệt hại trực tiếp đến sứckhoẻ, tài sản, tính mạng của người khác
Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% thì bị phạt tiền từ 10 000 000 đồng đến
50 000 000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người
bị nạn; Tham gia cá cược; Chống lại người có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông hoặc người có trách nhiệm giải tán cuộc đua xe trái phép; Đua xe nơi tập trung đông dân cư; Tháo dỡ các thiết bị an toàn khỏi phương tiện đua; Tái phạm nguy hiểm Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: Làm chết 02 người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án nhưng chưa được xoá án tích mà còn vi phạm (Điều 266 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) 7
Tội gây rối trật tự công cộng và tội phá rối an ninh
Tội phá rối an ninh được quy đinh tại Điều 118 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổsung năm 20178 được hiểu là hành vi kích động, lôi kéo, tụ tập đông người gây rối
7 Quốc Hội, Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Luật số 100/2015/QH13) ngày 27 tháng
11 năm 2015
8 Quốc Hội, Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Luật số 100/2015/QH13) ngày 27 tháng
11 năm 2015
Trang 18an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổchức xã hội nhằm chống chính quyền nhân dân hoặc là những hành vi đồng phạmkhác phá rối an ninh do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách
cố ý
Ngoài những điểm chung như: hai tội này đều xâm phạm đến các quy địnhcủa Nhà nước về trật tự, an toàn xã hội, hoạt động bình thường, ổn định của cơ quanNhà nước, tổ chức xã hội Chủ thể thực hiện đều là người có năng lực trách nhiệmhình sự và hành vi khách quan của những hành vi này đều là những hành vi gây rối,chống đối và cản trở Tội gây rối trật tự công cộng và tội phá rối an ninh có nhữngđiểm khác nhau cơ bản sau:
Về khách thể: Tội gây rối trật tự công cộng xâm phạm đến chế độ bảo vệ trật
tự, an toàn nơi công cộng của Nhà nước, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh
dự và tài sản của người khác Tội phá rối an ninh xâm phạm đến an ninh, chính trị,hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước, xã hội với mục đích phá rối trật tự anninh, thể hiện bất mãn, hống hách … gây khó khăn cho hoạt động bình thường của
cơ quan Nhà nước
Mục đích phạm tội: Tội gây rối trật tự công cộng không có mục đích chốngphá chính quyền nhân dân Tội phá rối an ninh có mục đích nhằm chống phá chínhquyền nhân dân
Địa điểm phạm tội: Khác với tội gây rối trật tự công cộng là ở nhà ga, bến xe,công viên… Tội phá rối an ninh tập trung chủ yếu tại các Trụ sở cơ quan Nhà nước,
tổ chức chính trị, xã hội…
Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự: Tội phá rối an ninh Điều 118 BLHS
năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức thì bị phạt tù từ 05 năm đến
15 năm; Người đồng phạm khác, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm; Người chuẩn
bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” 9
Trang 19xét xử kịp thời, công bằng, công khai, đảm bảo tranh tụng trong xét xử, nguyên tắcxứt xử sơ thẩm và phúc thẩm… Trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự, TAND phải đảmbảo những nguyên tắc riêng biệt sau:
Thứ nhất, nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc này bắt buộc
mọi hoạt động trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự phải được thực hiện theo quy địnhcủa pháp luật và không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do BL TTHS quy định
Thứ hai, nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích
hợp pháp của cá nhân, nguyên tắc này bắt buộc người có thẩm quyền tiến hành tốtụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cánhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã
áp dụng, kịp thời huỷ bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạmpháp luật hoặc không còn cần thiết
Thứ ba, nguyên tắc bất khả xâm phạm về thân thể, nguyên tắc này quy định
mọi người đều có quyền bất khả xâm phạm về thân thể Không ai bị bắt nếu không
có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trườnghợp phạm tội quả tang
Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam ngườiphải theo quy định của BL TTHS Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dung nhục hìnhhay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm đến thân thể, tính mạng, sức khoẻcủa con người
Thứ tư, nguyên tắc suy đoán vô tội, đây là nguyên tắc trọng tâm, xuyên suốt
trong BL TTHS năm 2015 Nguyên tắc này quy định người bị buộc tội được coi làkhông có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do BL TTHS quyđịnh và có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Khi không đủ vàkhông thể làm sang tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do BL TTHSquy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bịbuộc tội không có tội Nguyên tắc này thể hiện sự tiến bộ vượt bậc của nền lập phápVIệt Nam, nguyên tắc suy đoán vô tội bảo vệ chính sách nhân đạo của pháp luậthình sự và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, phản ánh bản chấtnhân văn, nhân đạo của pháp luật dân chủ và pháp quyền nhằm bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của cá nhân, loại trừ việc buộc tội và kết án thiếu căn cứ Là nguyêntắc tư tưởng pháp lý tiến bộ và văn minh – thành tựu lớn của khoa học pháp lý trongchứng minh và bảo vệ quyền con người trong TTHS; suy đoán vô tội là một nguyên