Văn học Việt Nam rất đa dạng về thể loại, trong đó ký sự là loại tác phẩm có những điểm gần gũi: hiện thực được phản ánh trong tác phẩm, yếu tố thực và hưcấu… Trong thành tựu của văn học
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
-
-CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
HIỆN THỰC XÃ HỘI ĐƯỢC PHẢN ÁNH TRONG
“THƯỢNG KINH KÝ SỰ” CỦA LÊ HỮU TRÁC
GVHD : Th.S ĐẶNG PHÚC HẬU SVTH : NGÔ THANH TÙNG LỚP : K22VBC
MSSV : 2221224589
Đà Nẵng, năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3A. MỞ ĐẦU
1.1 Văn học Việt Nam rất đa dạng về thể loại, trong đó ký sự là loại tác phẩm
có những điểm gần gũi: hiện thực được phản ánh trong tác phẩm, yếu tố thực và hưcấu… Trong thành tựu của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thể kỉ XVIII – nửađầu thế kỷ XIX thì tiêu biểu hơn cả là văn xuôi tự sự, trong đó chủ yếu là văn ký sự.Thành tựu nổi bật về văn xuôi tự sự chữ Hán những giai đoạn trước là loại truyệnchí quái và truyền kì, nghĩa là từ những truyện dân gian có nhiều yếu tố hoang
đường, tác giả thể hiện bằng văn xuôi, từ Việt điện u minh, Lĩnh Nam chích quái, và Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục Đến giai đoạn này, văn ký sự đã đạt những
thành tựu rực rỡ, biểu hiện sự quan tâm của con người trước những vấn đề, nhữngbiến cố xảy ra trong xã hội Chính vì thế, văn học lúc này xuất hiện nhiều tác phẩm
viết theo thể loại ký như Công dư tiệp kí của Vũ Phương Đề hoàn thành năm 1755, Tiên tướng công niên phả lục của Trần Tiến, Vũ trung tùy bút và Châu phong tạp thảo của Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ (dưới bút danh Tùng Niên) và Nguyễn Án (dưới bút danh Kính Phủ)… Trong thể loại ký, không thể không nhắc tới tác phẩm đặc sắc: Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác Được ra
đời trong thời kì lịch sử đau thương nhưng không kém phần hào hùng của dân tộc
Thượng kinh ký sự thực sự là tác phẩm có ý nghĩa lớn đối với lịch sử văn học dân
tộc Chọn nghiên cứu tác phẩm này, sẽ giúp chúng ta nhận thức sâu thêm về giá trịvốn có của chúng đối đặc trưng thể loại
1.2 Thượng kinh ký sự là tác phẩm ký xuất sắc của nền văn học trung đại Việt
Nam Tác phẩm có giá trị lớn trong việc phản ánh sinh động cuộc sống của một tríthức phong kiến và trực tiếp phản ánh sinh hoạt của giai cấp phong kiến qua đó cho
ta thấy được hiện thực xã hội thời bấy giờ nên rất đáng để nghiên cứu
1.3 Lê Hữu Trác là một nhà y học lỗi lạc của dân tộc sống vào thế kỷ XVIII
Là con người luôn biết kết hợp giữa ý thức dân tộc với tinh thần thực tiễn trong
nghiên cứu y học Nhìn từ hóc độ văn học, Thượng kinh ký sự là tác phẩm của một
tác giả không chuyên Vì vậy, nghiên cứu tác phẩm giúp chúng ta biết được các biếnđộng xã hội đương thời, cũng như hiện thực xã hội rối ren lúc bấy giờ đã chi phốiđến sáng tác của tác giả như thế nào
Trang 4Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Hiện thực xã hội được phản ánh trong “Thượng kinh ký sự” của Lê Hữu Trác để tìm hiểu, nghiên cứu.
Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác được nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na
đánh giá là “Một thiên tùy bút hiếm có, một đỉnh cao của thể ký trung đại, là tácphẩm ký nghệ thuật đích thực, đầu tiên của Việt Nam” Ra đời cuối thế kỷ XVIII,
Thượng kinh ký sự là một bức tranh sinh động về xã hội phong kiến đương thời Tác
phẩm không chỉ ghi chép về sự kiện “thượng kinh” mà còn thể hiện được cái nhìn
thế sự, cảm xúc của chính tác giả Lê Hữu Trác Nghiên cứu Thượng kinh ký sự là
một đề tài nhận được sự quan tâm chú ý từ giữa thế kỷ XX Vì vậy, đã có một số
công trình nghiên cứu về tác phẩm Thượng kinh ký sự xuất hiện như:
+ Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá
(đồng chủ biên) (2004), Từ điển văn học (Bộ mới), Nhà xuất bản thế giới, + Nguyễn Đăng Na (2001), Văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại, tập 2 – Ký, Nhà xuất
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu và đánh giá của các tác giả còn hạn
chế và chưa sâu sắc về tác phẩm Thượng kinh ký sự Việc nghiên cứu đó chỉ mới
dừng lại ở những nhìn nhận khái quát, chưa có một công trình nào thực sự đi sâutìm hiểu những giá trị về phản ánh hiện thực xã hội của tác phẩm một cách hệthống Tham khảo những ý kiến và công trình nghiên cứu trước đó, chúng tôi tìmhiểu sâu hơn nữa về:
+ Thể loại ký đặc biệt trong tác phẩm
+ Hiện thực xã hội trong tác phẩm
+ Phương thức phản ánh hiện thực xã hội trong tác phẩm
Từ những nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta nhìn nhận một cách rõ ràng và có
hệ thống về hiện thực xã hội trong tác phẩm Thượng kinh ký sự.
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trang 5Thực hiện đề tài này, chuyên đề nhằm hướng tới mục đích: nghiên cứu về hiện
thực xã hội trong tác phẩm Thượng kinh ký sự, cung cấp thêm kiến thức về thể loại
Ký và sự ra đời của tác phẩm Thượng kinh ký sự Ngoài ra còn muốn tìm hiểu về
phương thức phản ánh hiện thực xã hội của tác giả Lê Hữu Trác
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, chuyên đề có nhiệm vụ:
+ Trình bày khái quát về thể loại ký và tác phẩm Thượng kinh ký sự của Lê
Hữu Trác
+ Phân tích hiện thực xã hội trong tác phẩm Thượng kinh ký sự qua đó thấy
được phương thức phản ánh hiện thực xã hội của tác giả Lê Hữu Trác
Hiện thực xã hội được phản ánh trong tác phẩm Thượng kinh ký sự của Lê
Hữu Trác
Trong khi nghiên cứu, tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất của hiện thực
xã hội được phản ánh trong tác phẩm Thượng kinh ký sự.
- Phương pháp phân tích: là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong bài
chuyên đề, nhằm để phân tích lập luận về một vấn đề trong tác phẩm có liên quanđến chủ đề của chuyên đề
- Phương pháp so sánh – hệ thống: dùng để so sánh giữa tác phẩm Thượng kinh ký sự với các tác phẩm khác
- Phương pháp tổng hợp: để tổng hợp các lập luận phân tích để đưa ra một kếtluận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm Nội dungchính với 3 chương:
Trang 6Chương 1: Khái quát về thể loại ký và tác phẩm Thượng kinh ký sự của Lê
Hữu Trác trong văn học Trung đại Việt Nam
Chương 2: Hiện thực xã hội trong tác phẩm Thượng kinh ký sự của Lê Hữu
Trác
Chương 3: Phương thức phản ánh hiện thực xã hội trong tác phẩm Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác.
Trang 7B. NỘI DUNG
Chương 1:
KHÁI QUÁT VỀ THỂ LOẠI KÝ VÀ TÁC PHẨM THƯỢNG KINH KÝ SỰ
CỦA LÊ HỮU TRÁC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
1.1.1. Khái quát chung về thể loại ký:
So với các thể loại văn học thì ký là một thể loại ra đời sớm trong lịch sử vănhọc nhân loại, bởi nó có sự năng động, linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánh hiệnthực một cách trực tiếp nhất, sinh động nhất Tác phẩm ký vừa có khả năng đáp ứngnhu cầu cấp thiết của thời đại, đồng thời thể hiện được tiếng nói sâu sắc của nghệthuật Thể ký xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học và phát triển qua nhiều thời kì
Ở mỗi giai đoạn ký lại có những đặc điểm khác nhau với sự góp măt của các têntuổi lớn cùng với những tác phẩm đặc sắc
1.1.2. Lịch sử thể loại ký trong văn học trung đại Việt Nam:
Ký là loại hình văn học phức tạp nhất trong văn xuôi tự sự Việt Nam thờitrung đại, bởi khái niệm ký hàm chứa một nội dung với biên độ hết sức co dãn.Thoạt tiên, ký có nghĩa là ghi chép sự việc gì đó để khỏi quên và từ ký thường đượcdùng để chỉ công văn giấy tờ mang tính hành chính Cùng với sự ra đời của văn họctrung đại Việt Nam vào thế kỷ X, dần dần ký cùng với truyện ngắn và tiểu thuyếtchương hồi hợp thành văn xuôi tự sự trung đại Tuy nhiên, bản thân ký có các bướcphát triển riêng biệt được chia làm ba giai đoạn
*Giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV (buổi đầu đặt nền móng của thể loại ký
trong văn học trung đại Việt Nam):
Đây là giai đoạn đặt nền móng cho dòng tự sự viết dưới dạng ký Đặc điểmcủa giai đoạn này là văn xuôi tự sự chưa tách khỏi văn học dân gian và văn họcchức năng Thời kỳ này, loại hình truyện ngắn đã đạt được những thành tựu đáng kể
với các tác phẩm: Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam chích quái lục của Trần Thế Pháp, Ngoại sử ký của Đỗ Thiện Còn ký thì chưa đạt được thành tựu
như vậy vì nó vẫn dựa hoàn toàn vào văn học chức năng Mặt khác, nếu truyệnđược phép đi tìm thời gian đã mất, được tưởng tượng thì đề tài của ký bị hạn chế
Trang 8trong khuôn khổ viết về hiện tại, viết về những điều mắt thấy tai nghe Thêm vào
đó, cuộc sống lúc đó không có nhu cầu về ký và phương tiện in khắc cũng chưanhiều nên loại ký viết thành tập chưa có điều kiện ra đời
Ký giai đoạn này chủ yếu ở dưới dạng văn khắc và tự bạt Nội dung của vănkhắc không nổi bật nhưng văn phong khá đa dạng Mỗi bài thường kết hợp giữamiêu tả cảnh, tả tình, kể việc, kể người với việc phát biểu trực tiếp cảm nghĩ cá
nhân khiến chúng mang đậm chất ký Một số văn bia tiêu biểu như: Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi, Càn Ni Sơn Hương Nghiêm tự bi minh (khuyết danh), Thiên phúc tự hồng chung minh văn của Thích Hưng Huệ Tự (đặt đầu tác phẩm) và bạt (đặt sau
tác phẩm) viết ra nhằm mục đích giới thiệu, bình phẩm của người khác hoặc bảnthân tác giả để bày tỏ quan điểm của mình đối với văn chương, học thuật Một số
bài tự nổi tiếng như: Thiền Tông chỉ nam tự của Trần Thái Tông, Vạn Kiếp tông bí truyền thư tự của Trần Khánh Dư, Việt Điện u linh tập tự của Lý Kế xuyên
*Giai đoạn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII (Sự phát triển của ký trong văn học
trung đại Việt Nam):
Xảy ra nhiều biến cố lịch sử Sau khi giành được độc lập, vua Lê đặt ngay chođình thần nhiệm vụ sưu tầm, sao chép, khôi phục các thư tịch đã mất hoặc còn sótlại trong dân gian Sự bùng nổ về tác phẩm sưu tầm cũng như sáng tác trên nhiềulĩnh vực làm cho thể văn tự bạt cũng phát triển theo Tác giải của những tự bạt đãtrình bày trực tiếp và thẳng thắn quan điểm của mình trên nhiều lĩnh vực Do đó, vaitrò của người sưu tầm, biên soạn phải ra sức biện bạch đúng sai Ký dưới dạng tựbạt đến hậu kì trung đại tách dần ra thành phê điểm văn học và tách khỏi văn xuôi
tự sự Song nó đã đặt nền móng cho loại ký nghệ thuật: Tự bạt là tiếng nói cá nhâncủa người viết, khi chưa có vai tro cá nhân thì ký đích thực chưa thể ra đời
Ở giai đoạn này, ký chưa thành một thể riêng, nó chỉ là một phần nhỏ nằmtrong tác phẩm tự sự nhiều thiên Ranh giới giữa truyện và ký hết sức mờ nhạt, theonhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na: “Điều làm nên sự phân biệt giữa truyện và ký vềbản chất là thái độ người cầm bút Nếu người cầm bút tách mình khỏi các sự kiện,các nhân vật được miêu tả như người ngoài cuộc thì đó là truyện, ngược lại, tác giảhoài mình vào sự kiện, các nhân vật với tư cách là người trong cuộc thì đấy là ký”
Hồ Nguyên Trừng với tác phẩm Nam Ông mộng lục, Lê Thánh Tông với Thánh
Trang 9Tông di thảo và Nguyễn Dữ với Truyền kì mạn lục là những người đặt nền móng
cho ký trung đại với việc “ghép” đoạn suy tư và bình giá đối tượng đang phản ánhvào cuối mỗi thiên tự sự
*Giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX (đỉnh cao của thể loại ký):
Ký chỉ thực sự ra đời ở giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX với sự ra
đời của Thượng kinh ký sự (1783) của Lê Hữu Trác Tác phẩm là đỉnh cao, hoàn thiện thể ký trung đại và là mẫu mực cho lối viết ký với tác phẩm sau đó như: Bắc hành tùng ký của Lê Quýnh, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án, Tây hành kiến văn kỷ lược của Lý Văn
Phức
Nửa cuối thế kỷ XIX là giai đoạn đời sống xã hội và văn học nghệ thuật bịđảo lộn dưới những chiến dịch xâm lược của thực dân Pháp Cũng như truyện ngắn
và tiểu thuyết chương hồi, sau khi đạt đỉnh cao ở giai đoạn thứ ba, ký rơi vào bế tắc
Song ở giai đoạn này vẫn có một tác phẩm ký đáng chú ý là Giá Viên biệt lục của
nhóm tác giải Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản và Ngụy Khắc Đản Nội dung củatác phẩm là kể về 9 tháng ở Tây Âu của phái bộ Đại Nam Tuy hạn chế là tác phẩm
dành cho vua đọc (tức trở thành một biên bản) nhưng Giác Viên biệt lục vẫn đánh
dấu bước phát triển mới về quy mô phản ánh và đối tượng phản ánh của ký Những
nỗ lực cuối cùng này không thể cứu vãn được sự bế tắc của ký trung đại Cũng nhưtruyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi, đến đây ký trung đại kết thúc sứ mệnh lịch
sử để nhường bước cho ký hiện đại với những tên tuổi như Nguyễn Tuân, PhạmQuỳnh
1.2.1. Tác giả Lê Hữu Trác:
Đại danh y Lê Hữu Trác (1720 - 1791) còn có tên khác là Lê Hữu Huân,Hiệu là Hải Thượng Lãn Ông - tức “Ông già lười Hải Thượng” Hai chữ “HảiThượng” theo nhiều tài liệu có ghi đó là hai chữ ghép đầu của quê cha và quê mẹ
mà thành
1.2.1.1. Thân thế và chí hướng lập thân:
Trang 10Lê Hữu Trác sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý (1720) tại thôn Văn Xá,làng Liêu Xá, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Liêu Xá, Yên Mỹ,Hưng Yên) Tuy nhiên, cuộc đời ông phần nhiều (từ năm 26 tuổi đến lúc mất) gắn
bó với quê mẹ ở thôn Bầu Thượng, xã Tình Diệm, Hương Sơn, phủ Đức Quang,trấn Nghệ An (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh) Ông là con ông
Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thường Là con thứ bảy nên ông được gọi là cậu ChiêuBảy
Dòng tộc ông vốn có truyền thống khoa bảng: ông nội, bác, chú (Lê HữuKiều), anh và em họ đều đỗ Tiến sĩ và làm quan to dưới triều Lê – Trịnh Thân sinhcủa ông từng đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ, làm Thị lang bộ công triều Lê Dụ Tông, đượcgia phong chức ngự sử, tước bá, khi mất được truy tặng hàm thượng thư (năm KỷMùi 1739) Khi ấy Lê Hữu Trác mới hai mươi tuổi Ông phải rời kinh thành về quênhà, vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, mong nối nghiệp gia đình, lấyđường khoa cử để tiến thân
Nhưng xã hội rối ren, các phong trào nông dân nổi dậy khắp nơi Chỉ mộtnăm sau (1740), ông bắt đầu nghiên cứu binh thư võ nghệ, “nghiên cứu trong vàinăm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tòng quân để thí nghiệm sức học của
mình” (Tựa Tâm lĩnh).
Chẳng bao lâu sau, ông nhận ra xã hội thối nát, chiến tranh chỉ tàn phá vàmang bao đau thương làm ông chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên đã nhiều lần từchối sự đề bạt Đến năm 1746, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền viện
cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, thực sự “bẻ tên cởigiáp” theo đuổi chí hướng mới
1.2.1.2. Theo đuổi nghề thuốc:
Lê Hữu Trác bị bệnh từ trong quân đội, giải ngũ về phải gánh vác công việc
vất vả “trăm việc đổ dồn vào mình, sức ngày một yếu” (Lời tựa Tâm lĩnh), lại sớm
khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, ông mắc cảm nặng , chạy chữa tới hai nămkhông khỏi Sau nhờ lương y Trần Độc, người Nghệ An là bậc lão nho, học rộngbiết nhiều nhưng thi không đỗ, trở về học thuốc, nhiệt tình chữa khỏi
Trong thời gian hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông thường đọc
Phùng thị cẩm nang và hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc, ông được Trần Độc
Trang 11truyền y thuật Nhận ra nghề y không chỉ có lợi ích cho mình mà có thể giúp người,giúp đời, nên quyết chí học thuốc, lấy hiệu là “Hải Thượng Lãn Ông”, ngụ ý lườibiếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, củaquyền thế, tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mà mình yêu thích, gắn bó Mùa thu năm 1754 (Bính Tý), Lê Hữu Trác ra kinh đô, mong tìm thầy để họcthêm vì ông thấy y lý mênh mông nhưng không gặp được thầy giỏi, ông đành bỏtiền mua một số phương thuốc gia truyền, trở về Hương Sơn “khước từ sự giao du,
đóng cửa để đọc sách” (Tựa Tâm lĩnh), vừa học tập vừa chữa bệnh Mười năm sau tiếng tăm của ông đã nổi khắp vùng Hoan Châu Sau hơn chục năm viết nên bộ Y tông tâm lĩnh gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt y học: y đức, y lý, y thuật,
dược, di dưỡng Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ánh sự nghiệp văn học và tưtưởng của Hải Thượng Lãn Ông Cống hiến vĩ đại nhất của Lê Hữu Trác đối vớilịch sử phát triển của nền y học dân tộc cả về mặt lý luận và thực tiễn là bộ sách nổi
tiếng: Hải Thượng y tông tâm lĩnh này
Đây là một công trình kế thừa đầy sáng tạo những thành tựu y học của nhiềuthế hệ y gia trong và ngoài nước, đã được Lãn Ông thể ngiệm và biên soạn côngphu trong suốt 40 năm
Hải Thượng y tông tâm lĩnh là một bộ sách lớn bàn về y – dược học một sách
toàn diện, từ đạo đức của người thầy thuốc đến phòng bệnh chữa bệnh, từ lý luậnđến thực hành, từ y đến dược, đầy đủ các bệnh lý nội - ngoại khoa, phụ sản khoa,đậu, sởi… phương pháp dưỡng sinh và vệ sinh phòng bệnh…
Trong công trình đồ sộ này, Hải Thượng Lãn Ông đã dành một phần tư khốilượng tác phẩm của mình (7 trong số 28 tập) để biên soạn giới thiệu 4.000 phương
thuốc tích lũy trong kho tàng kinh ngiệm của nhân dân Trong đó hai tập Dược phẩm vận yếu và Lĩnh Nam bản thảo chuyên về các vị thuốc và năm tập Tâm đắc thần phương, Hiệu phỏng tân phương, Y phương hải hội, Bách gia trân tàng và Hành giản trân nhu chuyên về đơn thuốc
Có thể nói rằng:“Hải Thượng Lãn Ông là người đầu tiên biên soạn một số sáchthuốc rất hoàn diện, nhất là phần bào chế, sao phẩm, trước đây chưa từng thấy ở
nước ta…” (Đỗ Tất Lợi, Những vị thuốc và đơn thuốc trong tác phẩm của Hải Thượng Lãn Ông, Tạp chí Đông y – số 110 – 111)
Trang 12Trên cơ sở kết hợp những tinh y khoa học truyền thống với những kinhnghiệm dân gian và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân, Hải Thượng Lãn Ông đãxây dựng thành một hệ thống lý pháp phương dược của nền y học dân tộc thích hợpvới con người, khí hậu và môi trường Việt Nam
Hải Thượng y tông tâm lĩnh từ lâu đã được y giới Việt Nam xem là bộ bách
khoa toàn thư về y học thế kỷ XVIII và cũng là bộ sách y học lớn nhất của nềnĐông y Việt Nam
Các nhà khoa học hiện đại đã hết lời ca ngợi công trình giá trị này:
“Những trước tác đồ sộ của Lê Hữu Trác để lại, qua nhiều đời đã được nhiềungự y thuộc các y viện dưới mấy triều Lê, Tây Sơn, Nguyễn và cả “chính phủ NamTriều” thuộc Pháp, xem là “cẩm nang” Một số nhà y học thực nghiệm phương Tây,một số bác sĩ người Việt trước kia và bây giờ cũng tìm thấy ở những trước tác đó
“những kiến thức uyên bác” và một “phương pháp lập luận đặc sắc” mà ở “các nhà
bác học Châu Âu cũng không mong đợi có hơn được” (Nguyễn Huệ Chi – Lê Hữu Trác và con đường của một trí thức, trong cơn phong ba nửa cuối thế kỷ XVIII, - Dẫn theo Mấy vẻ mặt thi ca thời kỳ cổ - cận đại, Nxb Tác phẩm mới, 1983, tr.93) 1.2.1.3. Sự nghiệp cuối đời:
Ngày 12/1/1782, ông nhận được lệnh chúa triệu về kinh Lúc này ông đã 62tuổi Ra kinh, ông vào phủ chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán, được giao du với cáccông hầu khanh tướng, trở về thăm quê nhà, gặp lại người tình cũ … rồi cũng sớmthoát khỏi vòng cương tỏa của quyền thần, danh lợi Ngày 2/11/1782 Lãn Ông vềđến Hương Sơn
Mặc dầu tuổi già, công việc lại nhiều; chữa bệnh, dạy học nhưng Lãn Ông vẫn
tiếp tục chỉnh lí, bổ sung, viết thêm (tập Văn khí bí điển, năm 1786) để hoàn thành
bộ Tâm lĩnh Hải Thượng Lãn Ông không chỉ là danh y có cống hiến to lớn cho nền
y học dân tộc mà ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại.Ông qua đời vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) tại Bầu Thượng –
Hà Tĩnh, thọ 71 tuổi Mộ ông nay còn nằm ở khe nước cạn tại chân núi Minh Từthuộc xã Sơn Trung – Hương Sơn
Lê Hữu Trác là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam,
kế thừa xuất sắc sự nghiệp “Nam dược trị Nam nhân” của Tuệ Tĩnh thiền sư Ông
Trang 13để lại nhiều tác phẩm lớn như Hải Thượng y tông tâm lĩnh chắt lọc tinh hoa của y
học cổ truyền, được đánh giá là công trình y học xuất sắc nhất thời trung đại Việt
Nam và các cuốn Lĩnh Nam bản thảo, Thượng kinh kí sự không chỉ có giá trị về y
học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học…
Năm 1783, Lê Hữu Trác viết xong tập Thượng kinh ký sự bằng chữ Hán – một
tác phẩm văn học vô cùng quý giá, miêu tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoatrong phủ chúa Trịnh và quyền uy, thế lực của nhà Chúa Ông đã ghi lại những điềumắt thấy tai nghe trong chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho thế
tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm
Tác phẩm được ông xếp vào cuối bộ (quyển 65) Hải Thượng y tông tâm lĩnh
(Những lĩnh hội tâm huyết về ngành y của Hải Thượng), như một phụ lục và đượckhắc in năm 1885 Đây là tác phẩm tiêu biểu nhất ở thế kỷ XVIII thuộc loại hình kí(ghi việc, kể chuyện)
Năm 1924, Nguyễn Trọng Thuật dịch Thượng kinh ký sự và cho đăng trên
“Nam phong” tạp chí
Năm 1983, nhà xuất bản văn học (Hà Nội) cho in Thượng kinh ký sự do Ứng
Nhạc Vũ Văn Đình dịch
Năm 1989, nhà xuất bản thông tin cho in Thượng kinh ký sự do Phan Võ dịch,
Bùi Kỷ duyệt lại
Tập Thượng kinh ký sự được viết vào thập niên 80 của thế kỷ XVIII – đó là
một thời kỳ rối ren của triều đình phong kiến Lê – Trịnh, giai đoạn chính trị khủnghoảng trầm trọng trước khi vua Quang Trung tiến quân ra Bắc Tập kí kể lại cuộchành trình từ quê nhà Nghệ Tĩnh của ông về kinh thành Thăng Long để chữa bệnhcho chúa Trịnh
Thượng kinh ký sự mở đầu là lúc Lê Hữu Trác đang sống ở quê mẹ Hương
Sơn thì bỗng có chỉ triệu ra kinh chữa bệnh cho thế tử Khi ấy, ông đã 62 tuổi Trêntừng chặng đường, tác giả vừa mô tả phong cảnh vừa bộc lộ tâm trạng của mình.Đến kinh, tác giả tiếp tục mô tả quang cảnh ở đó, nhất là trong phủ chúa Trịnh, nơilắm xa hoa, quyền uy Ngoài ra, ông còn kể việc tiếp xúc của mình với các nho sĩ,
Trang 14quan lại và những người thân quen xưa Tác phẩm kết thúc với việc ông về lại quênhà trong tâm trạng vui mừng vì đã thoát khỏi sự trói buộc của danh lợi.
Trang 15Chương 2:
HIỆN THỰC XÊ HỘI TRONG TÂC PHẨM THƯỢNG KINH KÝ SỰ CỦA LÍ
HỮU TRÂC
2.1.1. Quan cảnh bín ngoăi phủ chúa:
Năm 1782, Hải Thượng Lên Ông được quan Chính đường (Huy quận côngHoăng Đình Bảo) tiến cử lín kinh đô chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cân Tuy việcchữa bệnh không thănh, ông đê phải ở kinh đô trong khoảng một năm, cũng may lẵng về nhă kịp trước khi xảy ra loạn kiíu binh, mở đầu cho một thời kỳ đại loạntrong lịch sử Việt Nam, kĩo dăi đến năm 1802 mới chấm dứt Sau khi về, ông ghi lại
những điều mắt thấy tai nghe tại kinh đô trong cuốn Thượng kinh ký sự Trong văn học lịch triều, đđy lă một thiín tùy bút hiếm có Tập Thượng kinh ký sự được viết
văo một năm sau khi trở về, kể lại cuộc hănh trình từ quí nhă Nghệ Tĩnh của ông vềkinh thănh Thăng Long để chữa bệnh cho chúa Trịnh, vì chúa đê biết tiếng tăm lừnglẫy của một đại danh y Trong thời gian đó, tâc giả dược mắt thấy tai nghe nhữngviệc, những sự kiện ở kinh thănh, đặc biệt lă trong phủ chúa Trịnh Đó lă nhữngtrang viết giău yếu tố hiện thực
Tập ký kể lại thời gian tâc giả sống ở kinh thănh Thăng Long với biết bao biếnđộng, kể lại sự giao du của ông với câc công hầu khanh tướng thời Lí mạt vă tđm
sự của mình lúc năo cũng mong thoât khỏi vòng danh lợi để quay về núi cũ nonxưa Với thiín kí sự tăi hoa vă trung thực năy, Hải Thượng Lên Ông xứng đâng lăngười tiín phong trín lĩnh vực ký bâo chí
Cuộc hănh trình vất vả từ quí nhă lín kinh thănh kĩo dăi gần nửa thâng Đếnngăy 30 về đến kinh thănh – mảnh đất mă thuở nhỏ từng in dấu bao kỷ niệm củacậu bĩ Lí Hữu Trâc Chứng kiến những đổi thay rõ rệt, Lí Hữu Trâc kể lại :
“Nguyín tại đất năy thưở nhỏ tôi từng du học vă trú ngụ Tôi mới chống gậy, thủ bộ
tứ phía du ngoạn nơi đất cũ Tuy hồ sơn vẫn như trước mă phật điện, đình đăi, quân
Trang 16xá, quân cư, nhất nhất không còn hình dạng thuở xưa” Bài thơ ông làm nói lên mộthiện thực:
Phiêu bạt giang hồ mấy chục niên
Chiếu vời một sớm đến Trường Yên
Lâu đài đình quán bên trời ngất
Văn vật y quan giữa cõi truyền
Sơn dã buông tuồng quen tĩnh tục
Ngọc đường lui tới thẹn cung tiên
Đất này thuở nhỏ từng du hí
Khác lạ ngày nay đã hiển nhiên!
Cảnh vật kinh thành đã hoàn toàn đổi khác Lâu đài, đình quán ngất trời mọclên, thôn xóm mất đi vẻ yên bình, tĩnh lạc Nhà thơ đi đến ngọc đường mà thấy
“thẹn cung tiên” vì cảnh vật nơi đây chẳng khác gì cõi tiên Một con người dòng dõiquý tộc, đã từng sống ở kinh thành mà vẫn ngạc nhiên trước sự thay đổi của cảnhnơi đây; điều đó cho thấy một hiện thực – triều đình họ Trịnh đã biến kinh thànhthành tiên cảnh với những đền, chùa, miếu, mạo để phục vụ cho việc ăn chơi, hưởnglạc
Hiện thực trong Thượng kinh ký sự tiếp tục được phơi bày khi tác giả được
triệu vào cung chẩn bệnh cho thế tử Trịnh Cán Đoạn trích “Vào Trịnh phủ” vẽ lạimột bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa quyền quý của nhà chúa Đó là mộtbức tranh hiện thực toàn vẹn về quang cảnh và cung cách sinh hoạt nơi phủ chúa Ởđây cảnh đền đài, lầu gác tuy nguy nga, mĩ lệ song không giấu được vẻ âm u, tămtối; người tuy quý phái, vương giả, đầy quyền uy, song không che lấp được vẻ ốm o,tật bệnh
Lê Hữu Trác đã đi vào phủ chúa từ lối cửa sau và có dịp được quan sát quangcảnh nơi phủ chúa “Tôi ngẩng đầu lên coi thì bốn phương tám mặt nơi nào cũngcây cối um tùm, chim kêu hoa nở, gió thoảng hương đưa Những hành lang, nhữngbao lơn, bước bước đều liên lu, nơi nơi đều cân đối ” Cảnh phủ chúa ở đây chẳngkhác một vườn thượng uyển Đẹp thì có đẹp nhưng thật âm u, chồng chất, dễ gâycảm giác ớn lạnh, thiếu ánh sáng cho những người sinh sống nơi đây Quan sát cảnh