1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN CHẤT 2020) cách khai thác mới trong kỹ thuật sử dụng bản đồ tư duy nhằm phát huy hứng thú học tập môn ngữ văn của học sinh trung học cơ sở

28 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 303,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN PHÒNG GIÁO DỤCĐÀO TẠO BÌNH XUYÊN =====***===== BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Tên sáng kiến: Cách khai thác mới trong kỹ thuậ

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN PHÒNG GIÁO DỤC

ĐÀO TẠO BÌNH XUYÊN =====***=====

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Tên sáng kiến: Cách khai thác mới trong kỹ thuật sử dụng bản đồ tư duy nhằm phát huy hứng thú học tập môn Ngữ văn của học sinh trung học cơ sở.

Tác giả sáng kiến: Trần Quang Thành

Môn: Ngữ văn

Trường: Trung học cơ sở Sơn Lôi

Trang 2

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Tên sáng kiến: Cách khai thác mới trong kỹ thuật sử dụng bản đồ tư duy nhằm phát huy hứng thú học tập môn Ngữ văn của học sinh trung học cơ sở.

Vĩnh Phúc, năm 2018

Trang 3

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 Lời giới thiệu:

Như chúng ta đều biết, ngày 12/9/2017, Sở GD&ĐT tỉnh Vĩnh Phúc đề

ra công văn số: 1039/HD-SGDĐT về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáodục trung học năm học 2017-2018 Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của

năm học là “Thực hiện thường xuyên, hiệu quả các phương pháp, hình thức

và kĩ thuật dạy học tích cực, các hình thức đánh giá nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và rèn luyện phương pháp tự học, vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực tiễn của học sinh” Như vậy, đổi mới phương pháp

dạy học, đổi mới hình thức và kỹ thuật dạy học từ truyền thống sang hiện đại;

từ bị động sang chủ động tích cực nhằm phát huy tính tích cực của học sinhhướng đến việc phát triển các năng lực cần thiết là nhiệm vụ quan trọng

Là một giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở, tôiluôn trăn trở về nhiệm vụ cấp thiết này của ngành Làm thế nào để học sinhhọc tập đạt hiệu quả cao? Làm thế nào để trước mỗi giờ Ngữ văn các em đềuhứng thú, tích cực và thật sự có nhu cầu được khám phá vẻ đẹp nghệ thuật vănchương? Làm sao để các em yêu môn Văn, say mê với sức quyến rũ của ngôntừ? Đó là điều tôi luôn suy nghĩ và mong tìm giải pháp tối ưu nhất trong việc

tổ chức dạy học

Qua thực tiễn dạy học và tổng kết kinh nghiệm nhiều năm hướng dẫnhọc sinh, tôi nhận thấy có nhiều kĩ thuật dạy học tích cực có thể vận dụng hiệuquả trong quá trình tổ chức cho học sinh học tập môn Ngữ văn Trong số đóphải kể đến kỹ thuật sử dụng bản đồ tư duy Kỹ thuật này được áp dụng trongnhiều năm nay nhưng dường như ít được quan tâm đúng mức Số lượng cácthầy cô sử dụng bản đồ tư duy chưa nhiều do tâm lý ngại sử dụng máy vi tính

và các phần mềm soạn thảo, thiết kế bản đồ tư duy Mindmap

Xong đó là việc của vài năm trước Ngày nay, công nghệ thông tin đang

có sự phát triển mạnh mẽ, ứng dụng vẽ bản đồ tư duy trở nên giản tiện hơn rấtnhiều kèm theo nhiều tính năng ưu việt Và trong một khả năng hạn chế nhất,

để sử dụng kỹ thật này theo tôi thấy chúng ta vẫn có thể thực hiện một cáchlinh hoạt và hiệu quả chỉ bằng bút dạ màu, giấy A0 hoặc giấy A4 Do đó, tôimạnh dạn đề xuất đưa ra một số cách khai thác hiệu quả hơn với kỹ thuật sử

dụng bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn với đề tài: Cách khai thác mới trong kỹ thuật sử dụng bản đồ tư duy nhằm phát huy hứng thú học tập môn Ngữ văn của học sinh trung học cơ sở.

Với đề tài này, tôi hi vọng sẽ góp một kinh nghiệm nhỏ với đồngnghiệp trong quá trình thực hiện có hiệu quả kỹ thuật dạy học tích cực bằng

Trang 4

bản đồ tư duy trong dạy học Đồng thời đem đến những say mê, hứng thú cho học sinh khi học khám phá vẻ đẹp của Văn học nghệ thuật.

2 Tên sáng kiến: Cách khai thác mới trong kỹ thuật sử dụng bản đồ tư duy

nhằm phát huy hứng thú học tập môn Ngữ văn của học sinh trung học cơ sở

5 Mô tả bản chất của sáng kiến:

5 1 Về nội dung của sáng kiến:

5.1.1 Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu:

a Cơ sở lí luận:

Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội Đây là môn học cóvai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của conngười Đồng thời môn học này còn có tầm quan trọng trong việc giáo dụcquan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Mặt khác nó cũng là môn họcthuộc nhóm công cụ, môn Ngữ văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với rất nhiềucác môn học khác trong các nhà trường phổ thông Học tốt môn Ngữ văn sẽtác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũnggóp phần học tốt môn Ngữ văn Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thựchành, giảm lí thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sứcphong phú, sinh động của cuộc sống

b Cơ sở thực tiễn:

Năm học 2011 - 2012 là năm học Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tục đổi mớiphương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ngữ văn trong cácnhà trường phổ thông Ngày 12/9/2017, Sở GD&ĐT tỉnh Vĩnh Phúc ra côngvăn số: 1039/HD-SGDĐT về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dụctrung học năm học 2017-2018 Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm

học là “Thực hiện thường xuyên, hiệu quả các phương pháp, hình

Trang 5

thức và kĩ thuật dạy học tích cực, các hình thức đánh giá nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và rèn luyện phương pháp tự học, vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực tiễn của HS” Nói về những phương pháp dạy

học mới và hiện đại nhất thì phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy

(BĐTD) - một phương pháp dạy học mới, đang được rất nhiều nước trên thếgiới áp dụng Qua việc tìm hiểu và vận dụng phương pháp dạy học bằng bản

đồ tư duy, tôi nhận thấy phương pháp dạy học này rất có hiệu quả trong côngtác giảng dạy và học tập của học sinh Bước đầu đã giảm bớt được tâm lý ngạihọc văn, khơi gợi trong các em tình yêu đối với môn học, đồng thời đem đếncho các em cái nhìn mới, tư duy mới về môn học Ngữ văn Vậy thế nào làphương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy? Cần sử dụng bản đồ tư duy như thếnào để nâng cao chất lượng trong các giờ học văn? Đó là những vấn đề tôimuốn cùng được chia sẻ với các đồng nghiệp trong sáng kiến kinh nghiệmnày

Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mởrộng và đào sâu các ý tưởng Bản đồ tư duy một công cụ tổ chức tư duy nềntảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ,hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năngcủa bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não

Bản đồ tư duy giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả hơn:Việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện phápnâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấy, một

số học sinh học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, các em thường học bài nàobiết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiếnthức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phầnsau Phần lớn số học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biếtcách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ củamình Sử dụng thành thạo Bản đồ tư duy trong dạy học sẽ giúp học sinh cóđược phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tưduy

Bản đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực Một số kết quảnghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái

mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậyviệc sử dụng Bản đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy độngtối đa tiềm năng của bộ não

Trang 6

5.1.2 Thực trạng của việc học Ngữ văn hiện nay:

Nhà Cách mạng, lãnh tụ thiên tài, nhà văn hoá lớn của nhân loại Lê -nintừng nói: "Văn học là nhân học" vậy mà một thực trạng đáng lo ngại là họcsinh bây giờ không còn thích học Ngữ văn Thực trạng này lâu nay đã đượcbáo động Ban đầu chỉ đơn thuần là những lời than thở với nhau của nhữngngười trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn và nay đã trở thành vấn đề của báo chí

và dư luận Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văn của học sinh trong nhữngnăm gần đây mới thấy cần thiết phải có những thay đổi về phương pháp dạyvăn và học văn hiện nay Qua công tác giảng dạy cũng như chấm trả các bàikiểm tra Ngữ văn, tôi nhận thấy có rất nhiều những biểu hiện thể hiện tâm lýchán học văn của học sinh, cụ thể là:

- Tình yêu, sự say mê của học sinh với môn Ngữ văn ngày càng giảm:

Những năm gần đây, nhiều người quan tâm đến công tác giáo dục không khỏi

lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lý thờ ơ với việc học văn ở các trườngphổ thông Tình yêu với môn học ngà càng giảm sút Điều đáng buồn nhất chocác giáo viên dạy văn là nhiều học sinh có năng khiếu văn cũng không muốntham gia đội tuyển văn Các em còn phải dành thời gian học các môn khác.Phần lớn phụ huynh khi đã định hướng cho con mình sẽ thi khối A thì chỉ chủyếu chú trọng ba môn: Toán, Lý, Hóa Điều đáng lo ngại hơn nữa, là có không

ít phụ huynh đã chọn hướng cho con thi khối A từ khi học tiểu học Một bậchọc mà học sinh còn đang được rèn nói, viết, mới bắt đầu làm quen với nhữngkhái niệm về từ ngữ mà đã định hướng khối A thì thật là nguy hại

- Khả năng trình bày vấn đề hạn chế: Khi HS tạo lập một văn bản giáo

viên có thể dễ dàng nhận ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai,viết câu sai, viết chính tả sai, bố cục và lời văn hết sức lủng củng, thiếu lôgic Đặcbiệt có những bài văn diễn đạt ngô nghê, tối nghĩa, lủng củng

Đây là một tình trạng đã trở nên phổ biến và thậm chí là đáng báo động trong

xã hội ta

Mục tiêu của bậc học giáo dục phổ thông là đào tạo con người toàndiện, nhưng thực tế hiện nay cho thấy, các bộ môn khoa học xã hội thường bịhọc sinh xem nhẹ, mặc dù kiến thức của các bộ môn này vô cùng quan trọngcho tất cả mọi người Muốn khôi phục sự quan tâm của xã hội đối với các bộmôn khoa học xã hội, không thể chỉ bằng biện pháp kêu gọi mà chúng ta phảitích cực đổi mới phương pháp dạy học văn, khơi gợi lại hứng thú học văn củahọc sinh, hình thành cho các em phương pháp học văn hiệu quả nhất

Trang 7

- Việc ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học, nhất là môn văn còn chưathường xuyên, thiếu hiệu quả do giáo viên chưa nhận ra được vai trò hiệu quả của

kỹ thuật này trong nhiều hoạt động sư phạm

5.1.3 Nguyên nhân:

a Đối với người dạy:

Bước chân vào nghề dạy học, đa số giáo viên đều có tình yêu nghề, mếntrẻ, tận tụy với công tác giảng dạy, chăm lo quan tâm đến học sinh Tuy nhiên,vẫn còn những mặt hạn chế sau :

- Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phận không nhỏ học sinh yếu kém dẫn đến chất lượng chưa cao

- Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phươngpháp trực quan vào tiết học hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu bài củahọc sinh

- Một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi được mạch nguồn cảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người học

- Đời sống của không ít giáo viên Ngữ văn gặp nhiều khó khăn Các thầy cô vừa lo dạy học lại vừa phải bươn trải với cuộc sống

Những nguyên nhân chủ quan và khách quan khiến nhiều giáo viên ngạiđổi mới, ngại thay đổi phương pháp dạy học, ảnh hưởng không nhỏ đến chấtlượng dạy học

b Đối với học sinh:

Trong phương pháp dạy học hiện đại, học sinh vừa là đối tượng, vừa làchủ thể tích cực của hoạt động học Nhưng hiện nay, việc học của các em gặpnhiều khó khăn:

- Một số học sinh vì lười học, chán học mải chơi, hổng kiến thức nên không chuẩn bị tốt tâm thế cho giờ học Ngữ văn

- Các trường THCS trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói chung đang bướcvào quá trình công nghiệp hóa Hầu hết phụ huynh đều tham gia lao động sảnxuất trong các Khu công nghiệp (Theo điều tra xã hội học tại địa bàn xã quanhcác khu công nghiệp của Tỉnh, tháng 5 năm 2017, có tới 90 % phụ huynh là côngnhân hoặc lao động làm thuê, thường xuyên đi làm xa), ít có thời gian quan tâmkèm cặp con em mình Bản thân các em còn phải phụ giúp gia đình ngoài giờ lênlớp, không có thời gian học

Trang 8

- Thiếu sự quan tâm của phụ huynh, lại thêm sự bùng nổ của văn hóamạng, các hình thức giải trí như xem ti vi, chơi game ngày càng nhiều làmcho một số em chưa tự giác, thiếu ý thức học tập nên bị lôi cuốn, sao nhãng việchọc tập.

5.1.4 Một số giải pháp về cách khai thác mới trong kỹ thuật sử dụng bản

đồ tư duy nhằm phát huy hứng thú học tập môn Ngữ văn của học sinh trung học cơ sở.

Là một giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn ở trường THCS, tôi luôn trăn trở

về hiệu quả giảng dạy Ngữ văn Làm thế nào để học sinh học tập đạt hiệu quảcao? Làm thế nào để trước mỗi giờ Ngữ văn các em đều hứng thú, tích cực vàthật sự có nhu cầu được khám phá vẻ đẹp nghệ thuật văn chương? Làm sao đểcác em yêu môn Văn, say mê với sức quyến rũ của ngôn từ? Đó là điều tôiluôn suy nghĩ và mong tìm giải pháp tối ưu nhất trong việc tổ chức dạy học

Qua thực tiễn dạy học và tổng kết kinh nghiệm, nhất là qua nhữngnguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến những tồn tại của việc dạy vàhọc văn, tôi mạnh dạn nghiên cứu sâu hơn, kỹ hơn về kỹ thuật Bản đồ tư duyvận dụng trong quá trình tổ chức cho học sinh học tập môn Ngữ văn

a Bản chất phương pháp dạy học bằng Bản đồ tư duy:

- Bản đồ tư duy là kĩ thuật dạy học tổ chức và phát triển tư duy giúpngười học chuyển tải thông tin vào bộ não rồi được thông tin ra ngoài bộ não mộtcách dễ dàng, đồng thời là phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu quả, mở rộng,đào sâu và kết nối các ý tưởng, bao quát được các ý tưởng trên phạm vi sâu rộng

- Dạy học bằng Bản đồ tư duy là một giải pháp góp phần đổi mới cơ bản giáo dục

Hiệu quả của kỹ thuật sử dụng Bản đồ tư duy đem lại những hiệu quảthiết thực:

a.1 Bản đồ tư duy tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng:

* Sự hình dung:

Bản đồ tư duy có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về kiến thức cần

nhớ Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của trí nhớ siêu đẳng Đối với não bộ, Bản đồ tư duy giống như một bức tranh lớn đầy hình

ảnh màu sắc phong phú hơn là một bài học khô khan, nhàm chán

Trang 9

* Sự liên tưởng, tưởng tượng:

Bản đồ tư duy hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng một cách rất rõ

ràng

* Làm nổi bật sự việc:

Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu, Bản đồ tư duy cho phép giáoviên và học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụng nhữngmàu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng Hơn nữa, việc Bản đồ tư duy dùng rấtnhiều màu sắc khiến giáo viên và học sinh phải vận dụng trí tưởng tượng sángtạo đầy phong phú của mình Nhưng đây không chỉ là một bức tranh đầy màusắc sặc sỡ thông thường, Bản đồ tư duy giúp tạo ra một bức tranh mang tính lýluận, liên kết chặt chẽ về những gì được học

a.2 Bản đồ tư duy sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc:

Bản đồ tư duy thật sự giúp bạn tận dụng các chức năng của não trái lẫnnão phải khi học Đây chính là công cụ học tập vận dụng được sức mạnh của

cả bộ não Nếu vận dụng đúng cách, nó sẽ hoàn toàn giải phóng những nănglực tiềm ẩn trong bạn, đưa bạn lên một đẳng cấp mới, đẳng cấp của một tàinăng thực thụ hay thậm chí của một thiên tài

b Vận dụng Bản đồ tư duy trong quá trình dạy học Ngữ văn:

b.1 Giáo viên sử dụng Bản đồ tư duy để hỗ trợ quá trình dạy học:

* Dùng Bản đồ tư duy để dạy bài mới:

Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầuhọc sinh vẽ Bản đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các emtìm ra các tự liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện Bản đồ tư duy Qua Bản

đồ tư duy đó học sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng

- Ví dụ 1: Trong phân môn Đọc hiểu văn bản, với văn bản: Thầy bói

xem voi (Môn Ngữ văn lớp 6), sau phần đọc và tìm hiểu chung, giáo viên có thể

vẽ mô hình Bản đồ tư duy lên bảng Bản đồ tư duy gồm 5 nhánh chính, ở mỗinhánh có thể phân thành nhiều nhánh nhỏ tuỳ thuộc vào nội dung bài học

Để có thể hoàn thiện được mô hình Bản đồ tư duy của bài học, giáo viên sử dụng hệ thồng câu hỏi định hướng để khai thác kiến thức:

Trang 10

+ Bố cục của văn bản: học sinh sẽ dựa vào văn bản để xác định các ýchính (Hoàn cảnh các thầy bói xem voi, cách xem voi, các thầy nhận xét về convoi, hậu quả.)

+ Tiếp tục hoàn thành các nhánh của Bản đồ tư duy bằng hệ thống câuhỏi nhỏ có tính gợi mở (các thầy xem voi trong hoàn cảnh nào, cách xem voi củacác thầy ra sao, )

Sơ đồ minh hoạ

Bản đồ tư duy văn bản: Thầy bói xem voi - Ngữ văn 6

- Ví dụ 2: Hay khi dạy phân môn Tiếng Việt, khi học bài “ So sánh”

(Môn Ngữ văn lớp 6), đầu giờ giáo viên cho từ khoá “So sánh” rồi yêu cầu họcsinh vẽ Bản đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em để các em có thể vẽtiếp các nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ (nhánh con cấp 2, cấp 3…), sau khicác nhóm học sinh vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước lớp để các học sinhkhác bổ sung ý Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thứcmột cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thúhọc tập của học sinh

Trang 11

Sơ đồ minh hoạ

Bản đồ tư duy bài “So sánh” - Ngữ Văn 6

* Dùng Bản đồ tư duy để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học:

Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thốngkiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ Bản đồ tưduy Mỗi bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thànhtập Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần mộtcách nhanh chóng, dễ dàng

- Ví dụ 1: Khi dạy phần từ loại tiếng Việt, giáo viên tổ chức cho học

sinh vẽ Bản đồ tư duy sau mỗi bài học để mỗi em có một tập Bản đồ tư duy vềcác từ loại tiếng Việt: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, quan hẹ tự, trợ từ,thán từ… Lên đến lớp 9, trong bài “Tổng Kết ngữ pháp”, học sinh có thể dễ dàngtổng hợp kiến thức về từ loại tiếng Việt bằng Bản đồ tư duy dựa vào tập Bản đồ

tư duy đã có Sau khi có một học sinh hoặc một nhóm học sinh vẽ xong Bản đồ tưduy sẽ cho một học sinh khác, nhóm khác nhận xét, bổ sung … Có thể cho họcsinh vẽ thêm các đường, nhánh khác và ghi thêm các chú thích … rồi thảo luậnchung trước lớp để hoàn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ Bản đồ tư duy cho các em

Trang 12

Sơ đồ minh hoạ

Bản đồ tư duy bài “Tổng kết ngữ pháp”- Ngữ văn 9

- Ví dụ 2: Bản đồ tư duy vận dụng sau khi tìm hiểu tác phẩm “Truyện

Kiều” của Nguyễn Du:

Giáo viên định hướng để học sinh khai thác kiến thức của bài họcbằng hệ thống câu hỏi gợi mở Trên cơ sở đó hình thành và củng cố kiến thứccho học sinh bằng Bản đồ tư duy

Hệ thống kiến thức của bài học bao gồm:

a Tác giả bao gồm: Tiểu sử (thân thế, gia đình), cuộc đời, sự nghiệpsáng tác

b Tác phẩm:

Trang 13

+ Các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Du ở cả hai thành phần chữ (chữ Hán và chữ Nôm)

+ Thời gian và hoàn cảnh sáng tác, nguồn gốc của tác phẩm; đồng thờigiáo viên gúp học sinh hiểu được vì sao Truyện Kiều có nguồn gốc từ TrungQuốc mà vẫn được coi là tác phẩm văn học Việt Nam

+ Tóm tắt Truyện Kiều: Bố cục của Truyện Kiều

+ Giá trị của Truyện Kiều: Giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật

Sơ đồ minh hoạ

* Dùng Bản đồ tư duy để hướng dẫn học sinh viết dàn ý bài tập làm văn:

Đây là cách khai thác mới trong kỹ thuật dạy học tích cực bằng Bản đồ

tư duy mà tôi mới thử nghiệm

Chúng ta phải thừa nhận rằng để tạo lập một bài văn hoàn chỉnh, người viết cần được rèn luyện nhiều kiểu kĩ năng khác nhau Trong đó, lập

ý được xem là một trong những khâu then chốt và có quan hệ chặt chẽ với việc phát triển năng lực tư duy của học sinh

Với ý nghĩa như vậy, cần thiết phải xác lập được hệ thống nhữngphương pháp dạy học lập ý hiệu quả Sử dụng bản đồ tư duy là giải pháp có

Trang 14

Một mặt, nó giúp rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm văn cơ bản Mặtkhác, tạo điều kiện để học sinh được hoàn thiện các kĩ năng tư duy logic nhưphân tích – tổng hợp, so sánh đối chiếu, hệ thống hóa, khái quát hóa…

Văn bản là đơn vị giao tiếp đích thực của con người bởi tính trọn vẹn vềnội dung và hoàn chỉnh về hình thức Tạo lập được một văn bản theo nghĩanhư vậy đòi hỏi người viết phải nắm vững, làm chủ cũng như huy động đượcnhiều yếu tố khác nhau, từ vốn hiểu biết đến khả năng vận hành ngôn ngữ

Chương trình Ngữ văn hiện hành được xây dựng dựa trên hai trục đồngquy là Đọc hiểu và Làm văn Ở trục Làm văn, học sinh được tổ chức chiếmlĩnh nhiều nội dung lí thuyết và rèn luyện kĩ năng khác nhau nhằm xây dựngđược đa dạng các loại văn bản

Trong đó, kĩ năng lập ý đóng vai trò quyết định khi tiến hành xây dựngcác loại văn bản ấy Vấn đề đặt ra là làm thế nào để hình thành và hoàn thiện

kĩ năng này cho học sinh, giúp các em phát triển năng lực tư duy logic và hiệnthực hóa hệ thống quan điểm của mình Ứng dụng bản đồ tư duy ở đây có thểxem là một giải pháp có thể mang đến hiệu quả mong đợi

Tony Buzan – “Cha đẻ” của khái niệm “bản đồ tư duy” - khẳng địnhrằng kiểu ghi chép truyền thống theo kiểu tuyến tính đã mang lại những hiệuquả to lớn cho con người ở nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, dựa trên lí thuyết vềtiếp nhận của con người, nó cũng đem đến những bất lợi khác nhau đối vớingười sử dụng

Chẳng hạn: các từ khoá nêu bật vấn đề bị chìm khuất với những yếu tốngôn từ không thật cần thiết khác; lãng phí thời gian hơn vào việc thiết lập ýtưởng bằng câu có ngữ pháp đầy đủ; mất nhiều thì giờ để ghi nhớ, sắp xếp ýtưởng; khó tìm ra ngay mối liên hệ giữa các ý tưởng; dễ rơi vào tình trạngchán nản, thất vọng do giữ mãi trạng thái phải liệt kê mà không biết điểmdừng;…

Xuất phát từ việc so sánh với các vấn đề còn tồn tại nêu trên, TonyBuzan đã gợi ý một hình thức ghi chép “hiếm thấy hơn” gọi là “bản đồ tưduy” – một hình thức ghi chép phi tuyến tính dưới dạng biểu đồ mở rộng; sửdụng màu sắc, đường nét và hình ảnh để biểu thị, phát triển hay đào sâu một ýtưởng nào đó

Nó phản ánh quá trình tư duy diễn ra bên trong đầu óc con người; có tácdụng hệ thống hoá các nội dung tri thức, thúc đẩy hoạt động ghi nhớ và pháthuy tiềm năng sáng tạo vô biên

Ngày đăng: 29/03/2022, 12:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w