PHẦN II - NỘI DUNG: I.Mục tiêu: 1.Kiến thức: -Giúp các em học sinh có được những kiến thức sâu sắc về địa lí, lịch sử, cũng như luật pháp và cách ứng xử liên quan đến chủ quyền biển đảo
Trang 1GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
DẠY TÍCH HỢP LIÊN MÔN CHUYÊN ĐỀ: CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM
PHẦN I - GIỚI THIỆU VỀ CHỦ ĐỀ:
1.Tên chủ đề: “Chủ quyền biển đảo Việt Nam”
2.Các môn học được tích hợp trong chủ đề:
-Môn Địa lý: Bài 2, bài 8, bài 24, bài 42 (lớp 12)
-Môn Lịch sử: Cập nhật các vấn đề thời sự có liên quan đến bài học
3.Nội dung chủ đề:
-Khái quát vị trí, vai trò của Biển Đông và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam -Những chứng cứ về chủ quyền biển, đảo Việt Nam
-Các tranh chấp trên Biển Đông
-Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết tranh chấp biển, đảo hiện nay
-Ý thức, trách nhiệm của học sinh trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo
PHẦN II - NỘI DUNG:
I.Mục tiêu:
1.Kiến thức:
-Giúp các em học sinh có được những kiến thức sâu sắc về địa lí, lịch sử, cũng như luật pháp và cách ứng xử liên quan đến chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, đồng thời nắm được đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về biển đảo Việt Nam, đặc biệt là hai quần đảo
Trường Sa và Hoàng Sa
-HS hiểu được biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của
Tổ quốc Việt Nam, được cha ông chúng ta dầy công khai phá, quản lý từ hàng trăm năm trước và truyền lại Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, là nhân tố quan trọng bảo đảm cho đất nước phát triển
Trang 2GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
2.Kĩ năng:
-Rèn cho HS kĩ năng đọc, phân tích Atlat địa lí Việt Nam
-Rèn cho HSkhai thác kiến thức từ biểu đồ, bản đồ, tranh ảnh, tư liệu lịch sử
3.Thái độ:
-Bồi đắp cho HS lòng yêu quê hương, đất nước cho HS, đồng thời các em ý thức được sự cần thiết phải bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
-HS có nhận thức đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo
4.Năng lực:
-Năng lực chung: Năng lực giao tiếp, hợp tác, đàm thoại, cập nhật các thông tin thời sự
-Năng lực chuyên biệt: Năng lực sử dụng bản đồ, lược đồ; Năng lực thuyết trình; Năng lực tư duy tổng hợp; Năng lực vận dụng, liên hệ kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra
II.Chuẩn bị của GV và HS:
1.GV:
-Máy tính, máy chiếu
-Lược đồ, bản đồ, tranh ảnh, clip tư liệu lịch sử liên quan đến bài học
2.HS:
-Sưu tầm tư liệu, tranh ảnh
-Bảng phụ, bút dạ
III THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC: A.Tạo tình huống học tập:
1.Mục tiêu:
-Tạo sự chú ý, gây hứng thú cho HS đối với bài học
2.Phương thức: GV cho HS nghe bài hát “Tổ quốc gọi tên mình” sau đó yêu cầu HS trả lời câu hỏi:
-Nội dung của bài hát này là gì?
3 Dự kiến sản phẩm:
-HS sau khi nghe xong, trao đổi, thảo luận với nhau và trả lời câu hỏi
2
download by : skknchat@gmail.com
Trang 3GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
-GV nhận xét câu trả lời của HS và dẫn vào bài học
B Hoạt động hình thành kiến thức.
Hoạt động 1: Vị trí, vai trò của Biển Đông và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền biển
đảo Việt Nam.
1.Mục tiêu:
-HS nắm được vị trí địa lí và vai trò của Biển Đông và các bộ phận hợp thành vùng biển chủ quyền của Việt Nam
2.Phương thức:
-GV giao nhiệm vụ cho HS chuẩn bị trước ở nhà, trả lời các câu hỏi do GV đưa ra:
+Nêu vị trí địa lí và vai trò của Biển Đông?
+Bờ biển Việt Nam có chiều dài khoảng bao nhiêu Km? Việt Nam có chung Biển Đông với bao nhiêu quốc gia?
-Trên lớp, Gv cho HS xem sơ đồ các bộ phận vùng biển của nước ta theo luật pháp quốc tế sau đó trao đổi thảo luận để trả lời các câu hỏi
Trang 4GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
*Câu hỏi: Em hãy cho biết vùng biển nước ta gồm mấy bộ phận? Kể tên các bộ phận
3.Dự kiến sản phẩm:
- HS trả lời câu hỏi, nhận xét, bổ sung cho nhau
-GV đánh giá quá trình hoạt động, chuẩn kiến thức:
+Vị trí địa lí và vai trò của Biển Đông: Biển Đông rộng khoảng 3,5 triệu km2, là vùng biển quan trọng về thương mại, tài nguyên và hàng hải, 10 quốc gia Đông Nam Á và Trung Quốc, Đài
Loan đều tiếp giáp với biển Đông Biển Đông là vùng biển lớn thuộc Thái Bình Dương, nối với Ấn
Độ Dương qua eo biển Malacca, là tuyến đường hàng hải huyết mạch, giao thông nhộn nhịp đứng thứ 2 thế giới Hàng ngày có khoảng 300 tàu vận tải loại lớn qua lại, chiếm ¼ lưu lượng tàu hoạt động trên biển của thế giới, chuyên chở ½ sản lượng dầu thô và các sản phẩm toàn cầu, có nguồn tài nguyên thủy sản, dầu khí và khoáng sản rất lớn Biển và hải đảo ngày càng trở thành nguồn lực kinh tế to lớn, mở ra một không gian sinh tồn mới, gắn bó mật thiết và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mỗi nước
+ Việt Nam có bờ biển dài khoảng 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới Việt Nam chung biển Đông với 8 quốc gia nằm ven bờ Biển Đông: Trung Quốc, Philipin, Malaixia, Brunây, Xingapo, Inđônêxia, Thái Lan, Campuchia
+Vùng biển nước ta gồm 5 bộ phận: Nội thủy, Lãnh hải, Vùng tiếp giáp lãnh hải, Vùng đặc
quyền kinh tế, Thềm lục địa
Hoạt động 2: Những chứng cứ về chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
1.Mục tiêu:
-HS biết được những bằng chứng xác thực về chủ quyền biển đảo của Việt Nam thông qua các bản đồ và các tư liệu lịch sử có từ thời phong kiến
2.Phương thức:
-GV giao nhiệm vụ cho HS chuẩn bị trước ở nhà, chia HS làm 4 nhóm thực hiện những yêu cầu do
GV đưa ra:
+Nhóm 1-2: Tìm hiểu những bằng chứng xác thực về chủ quyền biển đảo của Việt Nam
4
Trang 5GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
+ Nhóm 3-4: Tìm hiểu cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam?
-HS các nhóm trình bày sản phẩm của mình ở trên lớp, nhận xét và bổ sung cho nhau
-GV đánh giá quá trình hoạt động, chuẩn kiến thức
3.Dự kiến sản phẩm:
+ Những bằng chứng xác thực về chủ quyền biển đảo của Việt Nam:
Chủ quyền biển đảo Việt Nam được xác lập từ thế kỷ XV
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, từ khi Việt Nam giành được quyền tự chủ vào năm 939, bản thân chính quyền và các học giả Trung Hoa khi đó đã bắt đầu vẽ bản đồ nước ta, song chủ yếu
là phần đất liền Phải đến các thế kỷ sau đó, Biển Đông và các hải đảo của Việt Nam mới bắt đầu được mô tả trên bản đồ Theo các tài liệu thu thập được, hiện còn 3 tập bản đồ thể hiện khá rõ chủ quyền lãnh hải và đất liền của Việt Nam, gồm: Bản đồ Giao Chỉ Quốc – Giao Chỉ Dương (trích từ bản đồ Võ Bị Chí được vẽ từ khoảng thế kỷ XV); Bản đồ diên cách Việt Nam Đông Đô – Việt Nam Tây Đô với Đông Dương Đại Hải của Ngụy Nguyên (khoảng năm 1842) và Bản đồ An Nam Quốc với Đông Nam Hải
Trong số các bản đồ này thì tập bản đồ Võ Bị Chí có thể hiện một bán đảo lớn, đề rõ Giao Chỉ Quốc, trong đó phía Đông là biển cả được ghi rõ Giao Chỉ Dương Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, vào giai đoạn này nước ta tự xưng tên gọi là Đại Việt, Trung Quốc gọi là An Nam Quốc Tuy Võ Bị Chí vẫn gọi nước ta theo tên Giao Chỉ cổ đại nhưng cũng đã tỏ ra tôn trọng chủ quyền của nước ta ở trên lục địa lẫn Biển Đông
Sau này, Ngụy Nguyên ghi vẽ lại bản đồ diên cách Việt Nam khá chính xác gồm: Việt Nam Đông
Đô (tức Đàng Ngoài) và Việt Nam Tây Đô (tức Đàng Trong) Ở ngoài khơi Việt Nam Đông Đô là quần đảo Vạn Lý Trường Sa tức quần đảo Hoàng Sa ngày nay Ngoài khơi thuộc Việt Nam Tây
Đô là quần đảo Thiên Lý Thạch Đường, tức Trường Sa Ngoài khơi biển cả được ghi rõ là Đông Dương Đại Hải
Ngoài ra, trên bản đồ An Nam Quốc, Ngụy Nguyên cũng đã ghi lại nhiều địa danh các vương quốc phụ thuộc làm cho ranh giới chiếm phần lớn bên hữu ngạn sông Mê Kông, nay thuộc Thái Lan
Trang 6GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
Ngoài Biển Đông, Ngụy Nguyên ghi rõ là Đông Nam Hải, chứng tỏ chủ quyền của Việt Nam trên lục địa và biển cả là rộng lớn và được tôn trọng hiển nhiên
Trong các văn bản chính thống, Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú đã chứng minh chủ quyền và quá trình khai thác và làm chủ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Trong sách Phủ Biên Tạp Lục (1777), Lê Quý Đôn viết: "Xã An Vĩnh thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ở gần bãi biển Về hướng đông bắc có nhiều đảo và nhiều núi linh tinh hơn 130 đỉnh ở trong các hòn đảo có bến Cát Vàng, chiều dài ước chừng hơn 30 dặm những thuyền lớn đi biển thường khi gặp gió bão đều đến nương đậu ở đảo này Họ Nguyễn còn thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã An Vĩnh bổ sung một đội Bắc Hải chèo thuyền ra cù lao Côn Lôn hoặc đi đến các
xứ Cồn Tự vùng Hà Tiên để tìm kiếm”
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cũng lưu giữ được hai bản đồ quý từ thế kỷ XV - XVII, gồm
An Nam Quốc (Hồng Đức 1490) và Vương quốc An Nam (Alexandre de Rhodes, 1650) cũng biểu hiện khá rõ thềm lục địa, Biển Đông và hải đảo Việt Nam đương thời Sau này vào thời Gia Long,
là thời kỳ đầu tiên thống nhất nước ta từ ngoại giao đến nội trị, từ quốc phòng đến hành chính, từ khai thác hầm mỏ đến bảo vệ hải đảo Đây là giai đoạn mà các tài liệu được ghi chép hết sức tỉ mỉ
về các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông Riêng về ghi chép bản đồ, thời kỳ này có hai bản đồ An Nam Đại Quốc Họa Đồ (Taberd 1838) và Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ (1840) thể hiện khá đầy đủ tình hình thềm lục địa, Biển Đông và hải đảo Việt Nam
6
Trang 7GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
Một bản đồ được ghi chép bằng tiếng Hán thể hiện chủ quyền biển đảo của Việt Nam
Phương Tây xác định chủ quyền các quần đảo là của Việt Nam
Từ thế kỷ thứ XIX, song song với quá trình xâm chiếm các thuộc địa, nhiều nước Phương Tây tiến hành đo vẽ bản đồ thế giới gồm cả 5 châu lục, trong đó có thể hiện tên nước Giao Chỉ, với các cách phiên âm rất khác nhau, như: Cochi, Cauchi, Cauci, Quachym, Cochin Do có kỹ thuật hiện đại
về đo đạc nên có thể coi các tài liệu của Phương Tây về chủ quyền các đảo, quần đảo tại Biển Đông thời kỳ này là tương đối chính xác
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, từ thế kỷ thứ XVI, nước Đại Việt cùng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được Phương Tây trích dẫn trên hầu hết các bản đồ thế giới hoặc khu vực Đông Á Riêng Alexandre de Rhodes 1650; Công ty Đông Ấn La Haye năm 1658 và Taberd năm 1838 đã vẽ riêng bản đồ Việt Nam
Theo ông Nguyễn Đình Đầu, trong số hàng trăm bản đồ do Phương Tây thực hiện, hầu hết đều ghi rõ đất nước Việt Nam với các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ gọi tên chung là Paracel hay Pracel Bờ biển Prasel là ở Trung Bộ Việt Nam "Không một bản đồ nào ghi bờ biển Prasel ở Nam Trung Hoa hay Phi Luật Tân, Indonesia hoặc Mã Lai Thật hiển nhiên, khắp thế giới đều công nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam” - nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu nhấn mạnh
Với 50 bản đồ mô tả nước Việt Nam với thềm lục địa và Biển Đông ấn hành suốt từ 1525 đến
1886, chúng ta thấy dần dần sự hiểu biết của thế giới về đất nước Việt Nam ngày một chính xác,
cả về hình thể, lẫn địa danh (trong đó, gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa)
+ Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam?
Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS)
- Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 có 162 quốc gia phê chuẩn và tham gia (tính đến ngày 03 tháng 06 năm 2011) Công ước Luật Biển năm 1982 được coi là Hiến pháp của thế giới về các vấn đề biển và đại dương Công ước Luật Biển năm 1982 nêu mỗi quốc gia ven biển có
Trang 8GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
5 vùng biển, bao gồm: Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
- Năm 1994, Quốc hội nước ta đã thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn và chính thức trở thành thành viên của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 Bằng việc phê chuẩn này, chúng ta
có đầy đủ cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam
Luật Biển Việt Nam
- Ngày 21 thàng 06 năm 2012, tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Biển Việt Nam Đây là hoạt động lập pháp cần thiết để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của Việt Nam, phục vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam, tạo điều kiện cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới
Hoạt động 3: Các tranh chấp trên Biển Đông.
1.Mục tiêu:
-HS nắm được các tranh chấp giữa các nước trên biển Đông
2.Phương thức:
-GV cho HS xem clip tư liệu về một số tranh chấp giữa các nước trên máy chiếu sau đó yêu cầu
HS kể tên các nước có tranh chấp và nêu nhận xét về những tranh chấp đó
-HS thảo luận cặp đôi, cử đại diện trình bày, HS khác nhận xét, bổ sung
-GV đánh giá quá trình hoạt động, chuẩn kiến thức
3.Dự kiến sản phẩm:
-Các tranh chấp:
Trên Biển Đông hiện có 5 nước 6 bên đang tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, đó là: Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan Trong đó, Trung Quốc đòi chủ quyền, quyền chủ quyền đối với gần như toàn
Trang 9GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
bộ Biển Đông bao gồm 2 quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và các vùng biển trên Biển Đông Phillipines đòi 1 phần quần đảo Trường Sa và vùng biển xung quanh gần với thềm lục địa của nó Malaysia đòi chủ quyền các hòn đảo và khu vực mặt nước gần thềm lục địa của nó Brunei cũng đòi chia phần ít nhất 2 hòn đảo và vùng mặt nước kẻ vuông góc từ 2 bờ biên giới của nó ra tận ngoài khơi trong khu vực Trường Sa Brunei yêu sách về chủ quyền đối với cấu trúc trong quần đảo Trường Sa, đó là bãi ngầm Louisa Ngoài ra, trên Biển Đông có Malaysia, và Singapore tranh chấp chủ quyền đối với đảo Pulau Batu Putch Campuchia, yêu sách về một phần Vịnh Thái Lan
-Nhận xét:
+ Biển Đông chứa đựng những tranh chấp có mức độ phức tạp nhất trên thế giới Các tranh chấp Biển Đông chủ yếu xung quanh tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán với các vùng biển trên Biển Đông
+ Các tranh chấp trên Biển Đông khiến cho khu vực này nằm trong vùng bất ổn vì sự gia tăng sức mạnh quân sự giữa các bên
Hoạt động 4: Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết tranh chấp biển, đảo hiện nay.
1.Mục tiêu: HS hiểu được chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông hiện nay
2.Phương thức:
-GV giao nhiệm vụ cho HS chuẩn bị trước ở nhà, chia HS làm 4 nhóm (chung 1 nội dung) thực hiện những yêu cầu do GV đưa ra: Tìm hiểu Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương gì trong việc giải quyết tranh chấp biển, đảo hiện nay?
-HS các nhóm trình bày sản phẩm của mình ở trên lớp, nhận xét và bổ sung cho nhau
-GV đánh giá quá trình hoạt động, chuẩn kiến thức
3.Dự kiến sản phẩm:
- Chủ trương của chúng ta là giải quyết các tranh chấp ở biển Đông bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc, Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm
1982 (UNCLOS), Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung
Trang 10GV Phạm Ngọc Thao – THPT Trần Văn Lan
là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước; giữ quan hệ hữu nghị hợp tác với Trung
Quốc, các nước ASEAN và các nước khác Chủ trương cụ thể là:
1/ Trong xử lý vấn đề biển Đông, cần giữ vững độc lập, tự chủ, gắn bảo vệ chủ quyền lãnh thổ
quốc gia với giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước Tranh thủ sự đồng tình ủng
hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế
2/ Tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; kiên định bảo vệ
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo luật pháp quốc tế, tăng cường thực hiện và bảo vệ kinh tế biển, nhất là hoạt động dầu khí và đánh bắt cá trong phạm vi 200 hải lý; bác bỏ yêu
sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc
3/ Duy trì nguyên trạng biển Đông; bảo vệ quyền đánh bắt cá chính đáng của ngư dân chúng ta trên
biển Đông Chúng ta chủ động, tích cực cùng các bên liên quan đàm phán tìm giải pháp cơ bản lâu dài mà các bên có thể chấp nhận được đối với các khu vực tranh chấp
4/ Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ với giữ vững môi trường hòa bình,
ổn định để phát triển đất nước, coi trọng quan hệ hữu nghị hợp tác Việt - Trung và các nước có liên quan, phấn đấu không để xảy ra xung đột quân sự ở biển Đông; tránh các vấn đề tranh chấp làm đổ
vỡ quan hệ giữa nước ta với Trung Quốc
Phương châm là vận dụng tổng hợp các biện pháp chính trị, ngoại giao, dư luận, pháp lý, quân sự trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên trì nguyên tắc, đồng thời xử lý các tình huống, các vấn đề cụ thể một cách bình tĩnh, chủ động
C.HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP
1.Mục tiêu: Nhằm củng cố, hệ thống hóa, hoàn thiện kiến thức mới mà học sinh đã được lĩnh hội ở
hoạt động hình thành kiến thức
10