Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động tài trợ thương mại tại một số ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay Việt Nam đang trên con đường hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, trong những năm qua,...
Trang 1Khóa luận tốt nghiệp
Đề tài
“Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động tài trợ thương mại tại một
số ngân hàng thương mại Việt Nam
hiện nay”
Trang 2MỤC LỤC
Lời nói đầu 5
Chương I .8
Những vấn đề cơ bản về hoạt động tài trợ 8
thương mại 8
I Những vấn đề cơ bản về hoạt động tài trợ thương mại 8
1 Khái niệm về thương mại 8
2 Khái niệm về tài trợ thương mại 9
II Các chủ thể tham gia hoạt động tài trợ thương mại 12
1 Nhà nước 12
2 Ngân hàng trung ương 12
3 Các tổ chức tín dụng 12
4 Các doanh nghiệp 13
III Các loại hình tài trợ thương mại 13
1 Tài trợ thương mại trực tiếp của các ngân hàng thương mại 13
1.1 Dùng vốn để cho vay 13
1.1.1 Cho vay XNK 13
1.1.2 Tín dụng có bảo đảm: 16
1.1.3 Chiết khấu 16
1.1.4 Factoring 17
1.1.5 Forfaiting 19
1.1.6 Leasing 21
1.2 Cung ứng dịch vụ: nhờ thu, chuyển tiền 23
1.2.1 Phương thức chuyển tiền (remittance) 23
1.2.2 Nhờ thu (Collection) 26
1.3 Tài trợ bằng chữ tín 29
1.3.1 L/C 29
1.3.2 Phương thức bảo lãnh- letter of guarantee -L/G 32
Trang 31.3.3 Stand-by L/C 35
2 Tài trợ thương mại gián tiếp 38
2.1 Chính sách thuế và lệ phí 38
2.2 Chính sách tỷ giá hối đoái 39
2.3 Chính sách lãi suất 40
III Vai trò của hoạt động tài trợ thương mại 42
1 Vai trò hoạt động tài trợ thương mại đối với Ngân hàng 42
2 Vai trò của hoạt động tài trợ thương mại đối với nền kinh tế 44
3 Vai trò của hoạt động tài trợ thương mại đối với các doanh nghiệp 44
3.1 Đối với nhà xuất khẩu 44
3.2 Với nhà nhập khẩu 45
Chương II 46
Thực trạng hoạt động tài trợ thương mại tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 46
I Khái quát về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay 46
II Các nhân tố tác động tới sự phát triển của hoạt động tài trợ thương mại tại các ngân hàng thương mại 50
1 Điều kiện kinh tế xã hội 50
1.1 Sự phát triển và hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng 50
1.2 Sự phát triển trong lĩnh vực thương mại 52
2 Môi trường pháp lý 56
III Thực trạng hoạt động tài trợ thương mại tại các NHTMVN hiện nay 59
1. Hoạt động dùng vốn để cho vay 59
2. Hoạt động cung ứng dịch vụ 62
3. Hoạt động tài trợ bằng chữ tín 65
4 Đánh giá 67
4.1 Kết quả đạt được 67
Trang 44.2 Những hạn chế còn tồn tại 69
4.2.1 Hạn chế 69
4.2.2.Nguyên nhân 72
Chương III 73
Định hướng và giải pháp phát triển hoạt động tài trợ thương mại tại các ngân hàng thương mại 73
I Tính tất yếu của việc phát triển hoạt động tài trợ thương mại 73
II Định hướng phát triển hoạt động tài trợ thương mại trong thời gian tới 74
1 Định hướng phát triển của hoạt động thương mại tới năm 2010 74 2 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh của các NHTM trong thời gian tới 77
3 Định hướng phát triển hoạt động tài trợ của các NHTM trong thời gian tới 79
3.1 Tài trợ thương mại quốc tế sẽ được phát triển theo hướng liên kết 79 3.2 Nâng cao chất lượng và phát triển hình thức mới 80
3.3 Tài trợ thương mại quốc tế trong tương lai sẽ phát triển theo hình thức đan xen nhau 81
III Các giải pháp phát triển hoạt động tài trợ thương mại tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam 81
1 Các giải pháp vĩ mô 81
1.1 Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý ngân hàng cho hoạt động tài trợ thương mại 81
1.2 Hoàn thiện quản lý nhà nước về thị trường và thương mại 85
1.3 Mở rộng hoạt động đối ngoại 86
2 Giải pháp vi mô 86
2.1 Quản lý chặt chẽ hoạt động tài trợ thương mại của các NHTM
Trang 52.1.1 Nâng cao chất lượng thẩm định tài trợ 86
2.1.2 Quản lý rủi ro trong hoạt động tài trợ thương mại 90
2.2 Cung cấp cho khách hàng dịch vụ tài trợ hoàn thiện 91
2.3 Xây dựng hệ thống các ngân hàng đại lý rộng khắp trên toàn thế giới 93
2.4 Xây dựng chiến lược dài hạn để định hướng cho hoạt động tài trợ thương mại tại các Ngân hàng thương mại 94
2.5 Đa dạng hóa các hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 94
2.6 Nâng cao năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam 96
2.6.1 Tiếp tục phát hành cổ phiếu tăng vốn tự có 96
2.6.2 Tăng cường hiệu quả kinh doanh, tự bổ sung vốn tự có 96
2.6.3 Sáp nhập các NHTM để tăng qui mô vồn tự có 97
2.7 Trang bị cơ sở vật chất, hệ thống kỹ thuật công nghệ hiện đại 99 2.8 Phát triển nguồn nhân lực với đội ngò cán bộ tài trợ thương mại có tính chuyên nghiệp cao 99
2.9 Đổi mới phương thức phục vụ khách hàng 101
2.9.1 Chủ động tìm đến khách hàng 101
2.9.2 Xây dựng chiến lược khách hàng 101
2.9.3 Đẩy mạnh công tác tiếp thị 102
2.9.4 Chất lượng phục vụ khách hàng 103
KẾT LUẬN 104
Tài liệu tham khảo 105
Các Website 106
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam đang trên con đường hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, trong những năm qua, Việt Nam cũng đã gặt hái được rất nhiều thành công trong công cuộc hội nhập, đưa nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển
Nh chóng ta đã biết, cơ hội và lợi Ých của hội nhập mang lại là vô cùng to lớn tuy nhiên những thách thức đặt ra cũng không hề nhỏ Việt Nam đã hân hoan nâng ly rượu mừng chiến thắng khi trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới WTO Tuy nhiên, đằng sau niềm hân hoan Êy là cả một thách thức to lớn đặt ra với nền kinh tế Việt Nam Cụ thể trong ngành ngân hàng, Việt Nam phải thực hiện lé trình
mở cửa: Từ 01/04/2007: được phép thành lập ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo cam kết WTO Từ 01/01/2007, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa có quan hệ tín dụng với khách hàng là người Việt Nam được huy động vốn gấp khoảng trên 6 lần so với vốn pháp định
đã góp đủ Từ năm 2008 gấp 8 lần, từ năm 2009 gấp 9 lần, từ năm 2010 gấp 10 lần Từ năm 2011 được hưởng chế độ đối xử quốc gia1 Nh vậy, hạn chế đối với các ngân hàng nước ngoài trong việc nhận tiền gửi Việt Nam đồng, phát hành thẻ tín dụng và lập ra các máy rút tiền tự động sẽ dần bị loại bỏ Từ năm 2009, việc hạn chế quyền của một chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng sẽ được bãi bỏ theo lé trình Hiệp định thương mại Việt-
Mỹ Các nhà cung ứng dịch vụ tài chính Mỹ cũng sẽ được phép cung ứng
12 phân ngành dịch vụ ngân hàng theo lé trình 7 mốc
Trang 7Trong thời gian tới, ngành ngân hàng là ngành được dự báo là sự cạnh tranh sẽ trở nên khốc liệt nhất Các ngân hàng thương mại không những phải cạnh tranh với nhau mà quan trọng hơn là phải cạnh tranh được với các đối thủ ngân hàng nước ngoài có tiềm lực tài chính mạnh và chuyên nghiệp trong việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng Vì thế, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần phải nỗ lực hết mình ngay từ bây giê nếu không muốn bị đào thải trên chính thị trường của mình Song song với việc nâng cao tiềm lực tài chính thì các ngân hàng thương mại Việt Nam rất cần phải nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng Hơn thế nữa, theo dự báo, sau khi gia nhập WTO ngành thương mại trong nước và quốc tế sẽ trở nên sôi động hơn bao giê hết Chính vì điều đó, mà các ngân hàng thương mại Việt Nam nên chú trọng và phát triển hơn nữa hoạt động tài trợ thương mại, là hoạt động truyền thống vẫn mang lại nguồn lợi lớn cho các ngân hàng Tuy nhiên, các hoạt động tài trợ thương mại tại các ngân hàng thương mại hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường và xu thế phát triển trong thời gian tới
Nhằm hệ thống lại những vấn đề lý luận về tài trợ thương mại, phân loại và làm rõ chức năng, ưu điểm, nhược điểm, và điều kiện áp dụng của từng loại tài trợ; đánh giá kết quả hoạt động của tài trợ thương mại của các NHTM trong bối cảnh hiện nay nhằm dự đoán được xu hướng phát triển của hoạt động tài trợ thương mại từ đó đưa ra những giải pháp và đề suất cụ thể để nâng cao hoạt động tài trợ thương mại tại các ngân hàng thương mại Việt Nam tôi đã chọ vấn đề nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động tài trợ thương mại tại một số ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay”
Với mục tiêu nghiên cứu đề tài như trên, bài khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương I Những vấn đề cơ bản về hoạt động tài trợ thương mại
Trang 8Chương II Thực trạng hoạt động tài trợ thương mại tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương III Giải pháp phát triển hoạt động tài trợ thương mại tại các ngân hàng thương mại
Do hạn chế về thời gian và hiểu biết, chắc chắn khóa luận còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn nhằm hoàn thiện đề tài nghiên cứu này
Để hoàn thành khóa luận này em xin chân thành cám ơn cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Quy là người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian làm khóa luận
Hà Nội, tháng 6, năm 2008
Trang 91 Khái niệm về thương mại
Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hoá, dịch vô, kiến thức, tiền tệ v.v giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như
trong hình thức thương mại hàng đổi hàng (barter) Trong quá trình này,
người bán là người cung cấp của cải, hàng hoá, dịch vụ cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào
đó
Thị trường là cơ chế để thương mại hoạt động được Dạng nguyên
thủy của thương mại là hàng đổi hàng (barter), trong đó người ta trao đổi
trực tiếp hàng hóa hay dịch vụ mà không cần thông qua các phương tiện thanh toán Ví dụ, một người A đổi một con bò lấy 5 tấn thóc của người B chẳng hạn Hình thức này còn tồn tại đến ngày nay do nhiều nguyên nhân (chẳng hạn do bên bán không tin tưởng vào tỷ giá hối đoái của đồng tiền sử dụng để thanh toán) Trong hình thức này không có sự phân biệt rõ ràng
Trang 10giữa người bán và người mua, do người bán mặt hàng A lại là người mua mặt hàng B đồng thời điểm
Việc phát minh ra tiền (và sau này là tín dụng, tiền giấy và tiền ảo (tức không phải tiền tồn tại dưới hình thức được in hay được đúc ra) như là phương tiện trao đổi đã đơn giản hoá đáng kể hoạt động thương mại và thúc đẩy hoạt động này, nhưng bên cạnh đó nó cũng phát sinh ra nhiều vấn
đề mà hoạt động thương mại thông qua hình thức hàng đổi hàng không có Hoạt động thương mại hiện đại nói chung thông qua cơ chế thỏa thuận trên
cơ sở của phương tiện thanh toán, chẳng hạn nh tiền Kết quả của nó là việc mua và việc bán tách rời nhau
Thương mại tồn tại vì nhiều lý do Nguyên nhân cơ bản của nó là sù chuyên môn hóa và phân chia lao động, trong đó các nhóm người nhất định nào đó chỉ tập trung vào việc sản xuất để cung ứng các hàng hóa hay dịch
vụ thuộc về một lĩnh vực nào đó để đổi lại hàng hóa hay dịch vụ của các nhóm người khác Thương mại cũng tồn tại giữa các khu vực là do sự khác biệt giữa các khu vực này đem lại lợi thế so sánh hay lợi thế tuyệt đối trong quá trình sản xuất ra các hàng hóa hay dịch vụ có tính thương mại hoặc do
sự khác biệt trong các kích thước của khu vực (dân số chẳng hạn) cho phép thu được lợi thế trong sản xuất hàng loạt Vì thế, thương mại theo các giá
cả thị trường đem lại lợi Ých cho cả hai khu vực
2 Khái niệm về tài trợ thương mại
Hoạt động thương mại luôn là một lĩnh vực đầy cạnh tranh và rất hấp dẫn Hoạt động thương mại ngày càng trở nên sôi động xuất phát từ sự gia tăng trong năng suất lao động, từ sự phát triển của các phương tiện thông tin liên lạc, điều này đỏi hỏi sự đơn giản và thuận tiện trong thủ tục, sự luân chuyển nhanh hơn của dòng tiền tệ, sự luận chuyển nhanh hơn của dòng hàng hóa
Trang 11Sự cạnh tranh xuất phát từ sự tù do hóa về kinh tế ngày càng sâu rộng, sự gia tăng về số lượng các đối tác không chỉ trong nước mà còn ở ngoài nước Người cung ứng sản phẩm dịch vụ, hàng hoá phải không ngừng tìm mọi cách thoả mãn nhu cầu của khách hàng- những nhu cầu đó
là rất khắt khe và đa dạng Hơn thế nữa, khách hàng còn đòi hỏi nhiều ưu đãi về giá cả và đặc biệt về thời hạn thanh toán Vì thế, những điều khoản linh hoạt trong thanh toán đã trở thành một phần cơ bản trong bất cứ cuộc giao dịch thương mại nào
Ngoài ra, rủi ro là yếu tố không thể tránh khỏi đối với các doanh nghiệp (DN) tham gia vào thương mại, và đặc biệt là trong thương mại quốc tế với vô vàn những rủi ro xuất phát từ khoảng cách địa lý, tiền tệ, những biến động bất thường về giá cả hàng hoá, sự khác biệt luật lệ, tập quán kinh doanh, vì thế mà trong giao dịch thương mại quốc tế không thể thiếu được các hoạt động tài trợ thương mại, và khi nói tới tài trợ thương mại người ta thường nói tới hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
Chính vì lẽ đó mà khi tham gia vào hoạt động thương mại các doanh nghiệp luôn mong muốn nhận được sự hỗ trợ về nhiều phía để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Chính vì thế mà hoạt động tài trợ thương mại ra đời là một tất yếu khách quan đáp ứng nhu cầu phát triển của thi trường
Khái niệm: tài trợ thương mại là tập hợp các biện pháp và hình thức
hỗ trợ về tài chính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp và các đơn
vị kinh tế trong lĩnh vực thương mại trong các công đoạn của quá trình đầu
tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hay cung ứng dịch vụ
Nếu xét về hình thức tài trợ thì tài trợ thương mại được thực hiện dưới 2 hình thức: tài trợ thương mại trực tiếp và tài trợ thương mại gián tiếp
Trang 12- Tài trợ thương mại trực tiếp: là tập hợp các biện pháp hoặc hình thức hỗ trợ về tài chính trực tiếp tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thường được thực hiện thông qua việc cho vay ngắn, trung và dài hạn để tài trợ cho họa động xuất nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu, hàng tiêu dùng, thay đổi dây truyền công nghệ máy móc thiết bị…hoặc được thực hiện thông qua hình thức cung ứng dịch vụ về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng như các dịch vụ thanh toán quốc tế (tín dụng chứng từ, nhờ thu), bảo lãnh, bao thanh toán tương đối (Factoring), bao thanh toán tuyệt đối (Forfaiting), thuê mua tài chính (Leasing)…
- Tài trợ thương mại quốc tế gián tiếp: là tập hợp các biện pháp hoặc hình thức hữu hiệu nhằm tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp như: chính sách thuế suất nhập khẩu; chính sách tỷ giá hối đoái; môi trường pháp lý ổn định phù hợp với thực tiễn thương mại; chính sách lãi suất;…
Tóm lại: Tài trợ thương mại bao hàm sự chuẩn bị sẵn sàng các
phương tiện tài chính và thay thế về mặt tài chính (vay tín dụng) để hoàn tất nghĩa vụ thanh toán và sản xuất trong quan hệ đối ngoại còng như đảm bảo các quá trình thanh toán liên quan
Tài trợ của ngân hàng thương mại về bản chất cũng là khoản tín dụng được cấp bởi ngân hàng Tuy nhiên ngân hàng tham gia tài trợ chỉ với một số vốn chiếm tỷ lệ nhất định trong tổng vốn cần thiết cho dù án hoặc thương vụ, phần vốn còn lại phải là vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên, so sánh với chức năng cho vay, tài trợ của ngân hàng thương mại còn mang những đặc điểm là trách nhiệm của bên nhận tài trợ cao hơn bên đi vay, do ngoài nguồn vốn tài trợ từ ngân hàng, nhất thiết họ phải có một tỷ lệ vốn nhất định cùng tham gia và đối tượng tài trợ là các dự án hoặc thương vụ,
do đó, chủ thể tham gia tài trợ chỉ có thể là các pháp nhân có đăng ký sản xuất kinh doanh
Trang 13II Các chủ thể tham gia hoạt động tài trợ thương mại
Như đã nêu trong định nghĩa hoạt động tài trợ thương mại thực chất
là những sự trợ giúp về tài chính nhằm giúp cho hoạt động thương mại diễn
ra một cách nhanh chóng và hiệu quả Đây cũng là mục đích của nhiều nhà chính trị, nhà hoạch định kinh tế, các tổ chức tài chính tín dụng Tham gia vào hoạt động tài trợ thương mại gồm có các chủ thể sau:
Hoạch định và quản lý những chính sách mang tính vĩ mô để tài trợ cho hoạt động thương mại với mong muốn đẩy mạnh sự phát triển của thương mại trong nước, tạo mội trường thuận lợi để các doanh nghiệp trong nước sản xuất kinh doanh, bảo vệ doanh nghiệp trong nước khi tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế
Ngân hàng trung ương thưc hiện tài trợ dưới các hình thức như cho vay tái cấp vốn, tái triết khấu, cấp bảo lãnh nhà nước và là người thực hiện các chính sách tài trợ thương mại gián tiếp của nhà nước như: chính sách giá, lãi suất, cung kết hối, phá giá tiền tệ Với vai trò quan trọng như trên, ngân hàng trung ương trở thành nhà tài trợ thương mại chủ yếu của mỗi quốc gia
Các tổ chức tín dụng bao gồm công ty tài chính, nhà cầm đồ, quỹ đầu tư (trong đó ngân hàng chiếm tỷ trọng rất lớn, ở Mỹ là khoảng 70%, còn ở Việt Nam con số này lên tới 90%): Các tổ chức này thường tài trợ thương mại dưới các hình thức như: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, thuê mua, tín dụng chứng từ, nhờ thu kèm cứng từ, chấp nhận thanh toán bằng hối phiếu
Trang 144 Các doanh nghiệp
o Các doanh nghiệp còng tham gia và hoạt động tài trợ thương mại dưới các hình thức hối phiếu trả chậm, thanh toán ghi sổ, L/C điều khoản đỏ, ứng tiền trước khi giao hàng… Đặc trưng của các hình thức tài trợ này là doanh nghiệp cung cấp các khoản nợ ngắn hạn cho đối tác
III Các loại hình tài trợ thương mại
1 Tài trợ thương mại trực tiếp của các ngân hàng thương mại
1.1 Dùng vốn để cho vay
1.1.1 Cho vay XNK
Nghiệp vô cho vay trực tiếp để tài trợ cho các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh XNK là nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng Các ngân hàng thường cấp tín dụng trực tiếp bằng đồng nội tệ hoặc ngoại tệ cho các doanh nghiệp kinh doanh XNK để hỗ trợ về tài chính cho các doanh nghiệp này kinh doanh XNK nguyên nhiên vật liệu, máy móc, thiết bị, hàng tiêu ding…Nều xét về thời gian cho vay thì có thể chia làm 2 loại : Cho vay ngắn hạn với thời hạn cho vay tối đa là một năm; Cho vay trung, dài hạn với thời hạn cho vay là trên 1 năm, dưới 10 năm Nếu xét về mục đích cho vay thì có thể chia thành
- Tín dụng nhập khẩu: Các ngân hàng có thể cấp tín dụng cho các nhà nhập khẩu với thời hạn ngắn hạn, trung dài hạn tùy thuộc vào đối tượng nhập khẩu Nếu nhập khẩu hàng nguyên nhiên, vật liệu hàng tiêu dùng thì ngân hàng sẽ cấp tín dụng ngắn hạn Nếu nhập khẩu máy móc, thiết bị thì ngân hàng sẽ cấp tín dụng trung hoặc dài hạn, tùy thuộc vào chủng loại hàng hóa Về cơ bản, thời hạn cho vay phải phù hợp với giá trị
sử dụng của loại hàng nhập khẩu
Trang 15Tín dụng nhập khẩu là nguồn bổ sung vốn lưu động rất quan trọng cho nhà nhập khẩu, vì thông thường giá trị hợp đồng nhập khẩu lớn hơn nhiều vốn của nhà nhập khẩu Tín dụng của nhà nhập khẩu đáp ứng nhu cầu, khi nhà nhập khẩu phải thanh toán bộ chứng từ hàng hóa trong khi hàng chưa cập bến, hoặc hàng đã nhập nhưng chưa bán để thu hồi vốn được, hoặc máy móc thiết bị đang trong quá trình lắp đặt, chạy thử chưa đưa vào sản xuất để tạo ra sản phẩm, chưa có tiền thanh toán…
Ưu điểm của tín dụng nhập khẩu là: Lợi nhuận cao, dư nợ và doanh
sè cho vay lớn, thu nhập của ngân hàng từ tín dụng XNK tăng nhờ tăng thu dịch vụ (dịch vụ thanh toán, dịch vụ mở L/C…) và mở rộng thêm các sản phẩm mới từ thanh toán XNK
Tuy nhiên, tín dụng nhập khẩu có một số nhược điểm sau: Mét là, đối
với đồng tiền thanh toán Thông thường khách hàng vay vốn bằng ngoại tệ
để thanh toán cho nước ngoài, nhưng khi bán hàng lại thi nội tệ nên có khả năng rủi ro về tỷ giá và trạng thái hối đoái của ngân hàng cho vay Để hạn chế khả năng rủi ro này, dùa vào sự đánh giá khả năng lạm phát và biến động lãi xuất của các đồng tiền trong tương lai, ngân hàng có thể cho vay bằng ngoại tệ hoặc nội tệ Hai là, tín dụng nhập khẩu chịu ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến nghiệp vụ ngoại thương và thanh toán quốc tế, do
đó một dự án nhập khẩu thường kèm theo một khả năng rủi ro lớn hơn so với một hợp đồng tín dụng nội địa cùng giá trị
- Tín dụng xuất khẩu: Tùy theo tính chất ngành hàng, mặt hàng xuất khẩu mà tín dụng được cấp theo thời hạn khác nhau Có thể phân loại tín dụng xuất khẩu theo hình thức tín dụng trước khi giao hàng và tín dông sau khi giao hàng
+ Tín dụng trước khi giao hàng: Thực chất là việc ngân hàng cho các doanh nghiệp vay vốn lưu động để thu mua, chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu Hình thức cho vay này được tiến hành trước khi giao hàng
Trang 16Rủi ro của hình thức này có thể xảy ra nếu doanh nghiệp không xuất được hàng, hoặc xuất được nhưng gặp rủi ro trong giao nhận hàng hay thanh toán, hoặc doanh nghiệp không dùng số tiền vay vào mục đích đã cam kết vay với ngân hàng
+ Tín dụng sau khi giao hàng: Là việc cấp tín dông cho nhà xuất khẩu khi có bộ chứng từ hàng xuất khẩu Sau khi cho vay thu mua hàng xuất khẩu, ngân hàng có thể tiếp tục cho nhà xuất khẩu vay khi có bộ chứng từ giao hàng để thu nợ đối với vốn cho vay trước khi giao hàng Nợ cho vay sau khi giao hàng được thu hồi từ thanh toán hợp đồng xuất nhập khẩu từ nước ngoài Tín dụng sau khi giao hàng thường được thực hiện bằng cách Ngân hàng Chiết khấu hoặc mua bộ chứng từ giao hàng Qua đó nhà xuất khẩu có thể bù đắp nguồn vốn để tiếp tục kinh doanh trong suốt thời gian kể từ khi gửi hàng cho đến khi nhà nhập khẩu thanh toán Cơ sở của khoản tín dụng này là việc ngân hàng có toàn quyền đối với bộ chứng
từ hàng xuất có giá trị đòi tiền hoặc hối phiếu kèm theo nó (nếu có)
Điều kiện để nhận khoản vay này là khả năng truy hoàn nhà xuất khẩu hay người vay ứng trước và một bản tường trình kinh doanh thông qua bộ chứng từ hàng xuất Các chứng từ này nhất thiết phải là các chứng từ có giá trị
để cho vay, không được phép huyển nhượng cho người thứ 3 để sử dụng
Các ngân hàng thường ký với khách hàng của mình (các nhà xuất khẩu) một hạn mức tín dụng để sử dụng cho mục đích cho vay này Tỷ lệ cho vay phu thuộc vào mặt hàng xuất khẩu và khả năng thanh toán của khách hàng, khoảng 70% đến 80% giá trị hàng hóa
Theo điều kiện của khoản vay này, ngân hàng vẫn có quyền truy đòi đối với nhà xuất khẩu khi bộ chứng từ gửi đi không thu được tiền
Cho dù là tín dụng xuất khẩu hay nhập khẩu thì giấy tờ có giá theo lệch (order papers) hoặc những giấy tờ chính nh vận đơn, hóa đơn nhập
Trang 17đó tất cả những chứng từ có giá đều phải có mệnh đề chuyển nhượng khống hoặc chuyển nhượng cho ngân hàng cấp tín dụng ứng trước Một khi những chứng từ trên không cho phép chuyển nhượng thì người vay vốn phải sử dụng những hình thức thế chấp khác
1.1.2 Tín dụng có bảo đảm:
Đây là hình thức tín dụng nhằm đảm bảo an toàn vốn vay của ngân hàng Các doanh nghiệp muốn được vay vốn của ngân hàng phải có vật tư, tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh của người thứ 3 đối với khoản vay Những tài sản này là cơ sở đảm bảo để ngân hàng có khả năng thu hồi vốn cho vay trong trường hợp doanh nghiệp không trả được nợ vay Tuy mọi đề nghị vay vốn đều phải cam kết trả nợ nhưng ngân hàng thường phải yêu cầu khách hàng cung cấp đảm bảo thích hợp trong trường hợp khoản vay gặp trục trặc Có nhiều loại đảm bảo cho một khoản vay ngân hàng, tuy nhiên có 3 yêu cầu đối với bất cứ loại đảm bảo nào để được ngân hàng chấp nhận: dễ định giá; dễ cho ngân hàng quyền được sở hữu hợp pháp; dễ tiêu thụ Khi cho vay có tài sản đảm bảo, không nên coi đó là nguồn trả nợ,
mà chỉ là cái để dùa vào khi nguồn dự kiến trả nợ không thành
1.1.3 Chiết khấu
Ngân hàng thương mại tài trợ cho hoạt động thương mại của doanh nghiệp bằng cách triết khấu các hối phiếu- là công cụ thanh toán được sử dụng hết sức phổ biến trong các giao dịch ngoại thương và thường xuất hiện trong các phương thức thanh toán quốc tế (TTQT) thông dụng hiện nay
- Chiết khấu hối phiếu
Chiết khấu hối phiếu là một dạng tài trợ ngắn hạn của ngân hàng cho người thụ hưởng hối phiếu được thực hiện dưới hình thức người thụ hưởng chuyển quyền sở hữu hối phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một
Trang 18số tiền bằng mệnh giá hối phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí chiết khấu Trong giao dịch ngoại thương người thụ hưởng giá trị hối phiếu thường là nhà XK
Ưu điểm: Loại tài trợ này giúp cho nhà XK có điều kiện thu hồi vốn
nhanh chóng để đưa vào hoạt động kinh doanh thay vì phải chờ hối phiếu đến hạn thanh toán Tài trợ chiết khấu hối phiếu trong ngoại thương thường
áp dụng cho các giao dịch XNK thanh toán bằng phương thức ghi sổ hoặc nhờ thu
Kỹ thuật chiết khấu hối phiếu khá đơn giản Ngân hàng sẽ mua lại quyền thụ hưởng giá trị hối phiếu khi đến hạn thanh toán từ người thụ hưởng hợp pháp thể hiện trên bề mặt hối phiếu Số tiền mua lại quyền thụ hưởng này chính là mức tài trợ chiết khấu hối phiếu và được tính bầng phần còn lại của giá trị hối phiếu sau khi trừ đi lãi chiết khấu cùng phí hoa hồng nghiệp vụ
1.1.4 Factoring
Factoring là một hợp đồng được ký kết giữa bên cung ứng (nhà xuất khẩu) và bên tài trợ (nhà Factor, tổ chức bao thanh toán), theo đó, bên cung ứng có thể và sẽ nhượng (bán) cho tổ chức tài trợ các khoản phải thu phát sinh từ những hợp đồng xuất khẩu
Tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu 2 trong số các chức năng sau:
- Tài trợ bên cung ứng, gồm cho vay và ứng trước tiền
- Cung ứng dịch vụ quản lý sổ sách và thu nợ liên quan đến các khoản phải thu
- Chấp nhận rủi ro không thanh toán của con nợ
Xét từ góc độ tài trợ, có thể hiển factoring là dạng tài trợ bằng việc mua lại các khoản phải thu ngắn hạn từ nhà xuất khẩu Với các tính năng và
Trang 19nhận được tiền ngay sau khi giao hàng, không phải bận tâm về rủi ro thanh toán từ phía bên mua, vừa giảm được khối lượng công việc ghi chép sổ sách và quá trình thu nợ nước ngoài Nhà factor sẽ giành lấy tiền đòi tiền từ nhà nhập khẩu với chi phí và rủi ro mà 2 bên đã thỏa thuận trước
Trong giao dịch factoring thường có 3 chủ thể chính tham gia: nhà xuất khẩu; nhà tài trợ factoring ở nước nhà xuất khẩu (nhà factor xuất khẩu); và nhà nhập khẩu nước ngoài
Các phương thức factoring chủ yếu:Trong thực tế, có 3 dạng tài trợ
factoring chủ yếu là: Factoring kì hạn; Factoring thông thường; Factoring
kì hạn có truy đòi
- Factoring kỳ hạn: Nhà factor xuất khẩu không thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu tại thời điểm mua các khoản phải thu, mà hai bên thỏa thuận kỳ hạn thanh toán bình quân (kỳ hạn) cho các khoản phải thu
- Factoring thông thường: Ngoài 2 chức năng là quản lý và đảm nhận rủi ro thanh toán trong factoring thông thường, nhà Factor xuất khẩu còn thực hiện các chức năng tài trợ ứng trước cho nhà xuất khẩu một phần giá trị khoản phải thu theo một tỷ lệ nhất định (75%- 85%) Khoản tài trợ ứng trước này được tính lãi theo số ngày thực tế, với mức lãi suất thường cao hơn mức lãi suất thị trường Sau một thời hạn thỏa thuận, nhà Factor sẽ chuyển trả phần còn lại sau khi đã trừ đi chi phí và lãi tài trợ
- Factoring kì hạn có truy đòi: Dạng tài trợ này giống tài trợ khoản phải thu của các ngân hàng thương mại Theo đó, nhà Factor xuất khẩu không mua đứt khoản phải thu mà chỉ dùa vào đó đÓ tài trợ nhà xuất khẩu với điều kiện là có truy đòi, tức là nhà xuất khẩu phải hoàn trả nợ vay cho nhà Factor nếu không thu được tiền bán hàng Nh vậy, nhà Factor xuất khẩu thực hiện 2 chức năng là: tài trợ và cung ứng dịch vụ thu nợ cho nhà xuất khẩu
Trang 20Chức năng cơ bản của factoring:
- Chức năng theo dõi và thu nợ tiền hàng: Tổ chức tài trợ factoring giữ trọn bộ sổ sách bán hàng của nhà xuất khẩu; phụ trách toàn bộ dịch vụ đòi tiền nhà nhập khẩu với chi phí và rủi ro nhà nhập khẩu gánh chịu; xử lý các hóa đơn và theo dõi việc thanh toán tiền hàng khi đến hạn Việc thanh lý khoản tài trợ Factoring này do 2 bên thương lượng
- Chức năng tài trợ thuần túy: Ngay sau khi nhận được hóa đơn của nhà xuất khẩu, tổ chức tài trợ factoring sẽ thanh toán ngay cho nhà xuất khẩu một tỷ lệ phần trăm trị giá hóa đơn (thường từ 75%-85%) Phần còn lại sẽ được tổ chức tài trợ cam kết thanh toán sau một thời hạn nhất định (sau khi đã trừ đi các chi phí, lãi suất và hoa hồng)
Phạm vi áp dụng tài trợ factoring
- Nhìn chung, tài trợ factoring đặc biệt thích hợp với các giao dịch xuất khẩu áp dụng phương thức thanh toán ghi sổ, cho phép người mua hưởng tín dụng cung ứng hoặc gặp khó khăn trong việc thu nợ hay tiền hàng từ người mua nước ngoài
- Tài trợ factoring cũng có những rủi ro vì: do cam kết bao thanh toán nên mọi rủi ro không thanh toán từ phía nhà nhập khẩu do nhà factoring gánh chịu, và vì vậy lãi suất factoring thường cao hơn lãi suất thị trường
1.1.5 Forfaiting
Forfaiting là nghiệp vụ mua bán những khoản nợ hoặc những khoản thanh toán của nhà xuất khẩu nếu các khoản nợ hoặc các khoản thanh thoán thương mại không được trả ở thời điểm đến hạn bởi người nợ hoặc người bảo lãnh
Thực chất hoạt động forfaiting là sử dụng các quỹ của thị trường mở
để cấp tín dụng cho nhà cung cấp hàng hóa với một lãi suất cố định nhằm
Trang 21tài trợ cho các công trình hoặc xuất khẩu hàng hóa tư liệu sản xuất với thời hạn thanh toán trong tương lai
Trong giao dịch forfaiting thường có 4 bên liên quan: nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, ngân hàng bảo lãnh thường ở nước người nhập khẩu và nhà forfaitor Nhà nhập khẩu trả cho nhà xuất khẩu những kỳ phiếu có kỳ hạn 5-7 năm đã được ngân hàng của nhà nhập khẩu đứng ra bảo lãnh thanh toán Bảo lãnh này là không thể hủy ngang, vô điều kiện và có thể chuyển nhượng Nhà xuất khẩu bán các kỳ phiếu chưa đến hạn thanh toán đó cho nhà forfaitor sẽ nhờ ngân hàng bảo lãnh thu tiền từ nhà nhập khẩu, nếu nhà nhập khẩu không thanh toán được thì sẽ đòi tiền ngân hàng bảo lãnh thanh toán kỳ phiếu đó Nhà forfaitor có thể bán các kỳ phiếu đó trên thị trường tín dụng thứ cấp
Ưu điểm: Nhà forfaitor cấp tín dụng này theo nguyên tắc không hoàn
lại, như vậy nhà xuất khẩu không phải gánh chịu những rủi ro trong thanh toán mà chuyển những rủi ro này cho bên mua kỳ phiếu (tổ chức forfaitor) ngay cả khi nhà nhập khẩu hoặc ngân hàng bảo lãnh phá sản Forfaiting là một loại tài trợ có lợi cho nhà xuất khẩu Nó giúp nhà xuất khẩu tránh được nhiều rủi ro nh:
- Rủi ro tín dụng do Ngân hàng bảo lãnh hoặc nhà nhập khẩu không thanh toán được
- Rủi ro chính trị do chiến tranh bạo động, đảo chính…gây ra khiến cho ngân hàng và nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán
- Rủi ro chuyển tiền khi mà chính phủ ở nước nhập khẩu có thể quy định các luật lệ hạn chế, ngăn cấm việc chuyển tiền ra nước ngoài
Tuy nhiên, fofaiting có hạn chế nhất định sau: Tỷ lệ chiết khấu
forfaiting có thể rất lớn (có thể 7-10%/năm), và nhà nhập khẩu có thể phải trả
Trang 22cho ngân hàng cấp bảo lãnh phí bảo lãnh cao từ 2-3%/năm và đặt cọc bảo lãnh
Ýt nhất là 10% trong suốt thời hạn của kỳ phiếu
1.1.6 Leasing
Cho thuê là một loại hình tài trợ thương mại mà trong đó người chủ tài sản (người cho thuê) cho phép một người khác (người đi thuê) được sử dụng tài sản của mình trong một thời gian nhất định (thời gian thuê) theo những qui định trước mà hai bên đã thỏa thuận trước trong hợp đồng cho thuê, đồng thời bên đi thuê phải trả cho bên thuê một khoản tiền nhất định, gọi là tiền thuê Cho thuê là một ngành công nghiệp quốc tế và bất kỳ tài sản vật chất nào có thể mua bán được đều có thể trở thành đối tượng cho thuê Những tài sản thường được cho thuê bao gồm: phương tiện giao thông, máy móc thiết bị, bất động sản… Người cho thuê thường là nhà sản xuất, ngân hàng, hay công ty cho thuê tài chính
Trong tài trợ dưới hình thức cho thuê thì thuê mua tài chính quốc tế
là phát triển nhất Thuê mua tài chính quốc tế là một thỏa thuận hợp đồng cho phép một bên (bên đi thuê) được sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty cho thuê (bên cho thuê) và thực hiện các khoản chi trả định kỳ được quy định cụ thể Bên đi thuê có thể thuê từ công ty cho thuê nội địa thông qua việc công ty này nhập khẩu đối tượng thuê từ nhà sản xuất nước ngoài, hoặc có thể thuê trực tiếp từ công ty cho thuê nước ngoài
Điểm mấu chốt của hợp đồng thuê mua tài chính quốc tế là quyền sở hữu về mặt pháp lý đối với tài sản đó (của công ty cho thuê) được tách khái việc sử dụng về mặt kinh tế của tài sản đó (do bên đi thuê nắm giữ) Công
ty cho thuê tập trung xem xét khả năng của bên đi thuê trong việc tạo ra sè thu đủ để chi trả tiền thuê chứ không dùa vào lịch sử tín dụng, tài sản hay
số vốn của bên đi thuê Thỏa thuận loại này rất phù hợp với loại doanh nghiệp vừa và nhỏ mới được thành lập chưa có báo cáo tài chính cho nhiều
Trang 23Nghiệp vụ thuê mua tài chính mang lại rất nhiều lợi Ých đối với nền kinh tế, đối với người cho thuê và đối với bên đi thuê so với nghiệp vụ tín dụng cổ truyền
- Đối với nền kinh tế: Đây là một nguồn tài trợ trung hạn và dài hạn đối với nền kinh tế trong việc tạo lập các nguồn đầu tư cơ bản cho dù là doanh nghiệp nhỏ hay một hãng sản xuất máy bay cần một nguồn vốn khổng lồ Nghiệp vụ này đóng góp nhiều trong việc cung cấp các thông tin
về thị trường vốn và là một phương tiện rất hiệu năng phân bổ các nguồn vốn hạn hẹp cho việc đầu tư cơ bản mới Nghiệp vụ thuê mua hỗ trợ cho công cuộc hiện đại hóa công nghiệp và các doanh nghiệp nhỏ
- Đối với người cho thuê:
Quyền sở hữu tài sản mang lại cho người cho thuê sự bảo đảm vững chắc Tại các nước mà luật thế chấp yếu kém gây trở ngại đến việc cho vay của các ngân hàng thì nghiệp vụ thuê mua mang lại lợi thế là không đòi hỏi phải có thế chấp nào khác ngoài chính bản thân tài sản cho thuê và thủ tục thu hồi tài sản cũng đơn giản hơn vì quyền sở hữu tài sản vẫn nằm trong tay bên cho thuê
Sử dông vốn đúng mục đích, do bên cho thuê mua thẳng thiết bị từ nhà cung ứng nên không có kẽ hở nào để bên đi thuê sử dụng vốn vào mục đích khác
Hệ thống chứng từ tương đối đơn giản giúp giảm chi phí giao dịch và cho phép các công ty thuê mua đạt được doanh sè cho thuê cao một cách hiệu quả
- Đối với bên đi thuê:
Phương thức thế chấp đơn giản hơn và các yều cầu Ýt khắt khe hơn đối với bản cân đối, điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ nhận được tài trợ thông qua thuê mua hơn là các khoản cho vay của ngân hàng
Trang 24Chi phí giao dịch thấp vì không cần tài sản thế chấp, tài sản thế chấp chính là tài sản thuê
Chỉ cần có Ýt tiền để đối ứng Thuê mua có thể tài trợ cho tỷ lệ giá thành máy móc thiết bị cao hơn so với vốn vay của ngân hàng, thường chỉ đòi hỏi đặt cọc Ýt
Các hợp đồng thuê mua có thể được lập phù hợp với nhu cầu thu chi của người đi thuê
Các khuyến khích về thuế Tại nhiều nước bên đi thuê có thể tính toàn bộ sè tiền thuế phải trả vào chi phí khi tính thuế lợi tức so với việc chỉ tính tiền lãi vay ngân hàng vào chi phí Thêm vào đó, bên cho thuê có thế chuyển các lợi Ých về thuế gắn với việc khấu hao của họ cho bên đi thuê thông qua việc giảm chi phí tài trợ Các chính phủ cho ngành thuê mua hưởng các ưu đãi về thuế bởi vì các chính phủ nhận thức được rằng thuê mua cho phép các công ty vừa và nhỏ có được nguồn tài trợ để đầu tư
1.2 Cung ứng dịch vụ: nhờ thu, chuyển tiền
1.2.1 Phương thức chuyển tiền (remittance)
Khái niệm: Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng (người yêu cầu chuyển tiền) yêu cầu Ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương thức chuyển tiền do khách hàng qui định
Các bên tham gia:
- Người yêu cầu chuyển tiền (Applicant):
- Người trả tiền (Payer): là người nhập khẩu, người bị ký phát, người chi trả các chi phí dịch vụ, người trả cổ tức, trái tức, lãi vay Ngân hàng, người trả tiền phạt, bồi thường…
Trang 25- Người chuyển tiền (Remitter): người đầu tư, kiều bào chuyển tiền về nước, người chuyển kinh phí hoạt động cho các tổ chức chính phủ và phi chính phủ nước ngoài, người chuyển tiền phát sinh từ các thu nhập yếu tố
- Người hưởng lợi (Beneficiary): là người nhận tiền do người yêu cầu chuyển tiền chỉ định
- Ngân hàng chuyển tiền (Remitting bank): là ngân hàng ở nước người yêu cầu chuyển tiền chỉ định
- Ngân hàng trung gian (Intermidiary bank) hay còn gọi là ngân hàng trả tiền (Paying bank): là ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền
ở nước người hưởng lợi
Trường hợp áp dụng
Văn bản pháp lý điều chỉnh phương thức chuyển tiền: Hiện nay trên quốc tế chưa có luật quốc tế cũng như các tập quán quốc tế của ICC điều chỉnh phương thức thanh toán này Việc chuyển tiền tất nhiên sẽ được điều chỉnh bằng luật quốc gia của các nước chuyển tiền và thỏa thuận đại lý ký kết giữa Ngân hàng và các nước, nếu có
Phương thức chuyển tiền là một bộ phận của phương thức thanh toán khác, thường là kết thóc của những phương thức khác như phương thức nhờ thu, ghi sổ, bảo lãnh Ngân hàng, tín dụng chứng từ, tín dụng dự phòng, thư ủy thác mua Tuy nhiên, phương thức này cũng được áp dụng một cách độc lập
Là một phương thức thanh toán độc lập, phương thức này thường được áp dụng trong thanh toán phi thương mại:
- Chuyển tiền thanh toán cung ứng dịch vụ cho nước ngoài
- Chuyển kiều hối, tiền cho du hoc sinh
- Chuyển tiền đầu tư ra nước ngoài
Trang 26- Chuyển kinh phí hoạt động cho các tổ chức chính phủ và phi chính phủ thường trú ở nước ngoài
- Chuyển tiền phát sinh từ các thu nhập yếu tố
- Chuyển tiền lãi vay nợ ngân hàng, cổ tức, trái tức ra nước ngoài
- Chuyển tiền bị phạt, tiền bồi thường thiệt hại ra nước ngoài…
Thời điểm chuyển tiền phải được qui định rõ trong hiệp định, hợp đồng hoặc các thỏa thuận khác Có hai loại tài sản chuyển tiền:
- Chuyển tiền trước khi người hưởng lợi hoặc người được trả tiền thực hiện nghĩa vụ quy định trong hiệp định, hợp đồng hoặc các thỏa thuận khác, ví dụ:
+ Chuyển tiền đặt cọc đảm bảo thực hiện hợp đồng nhập khẩu, đảm bảo dự thầu, hợp đồng xây dựng
+ Chuyển tiền ứng trước cho người xuất khẩu trước khi giao hàng Loại chuyển tiền này được coi như là một khoản tín dụng mà người nhập khẩu cấp cho người xuất khẩu
+ Chuyển tiền thanh toán trước một phần trước khi người xuất khẩu giao hàng để thanh toán tiền sản xuất thử, thiết kể mẫu…
- Chuyển tiền sau khi người hưởng lợi hoặc người được trả tiền đã hoàn thành nghĩa vụ qui định trong hiệp định, hợp đồng hoặc các thỏa thuận khác
Xét dưới góc độ tài trợ thương mại, thì phương thức chuyển tiền là
một dịch vụ cơ bản bước đầu trong các hoạt động tài trợ thương mại Phương thức chuyển tiền giúp việc thanh toán của các doanh nghiệp được nhanh chóng, an toàn và thuận tiện Trong một số trường hợp như chuyển tiền ứng trước cho người xuất khẩu trước khi giao hàng được coi như là một khoản tín dụng mà người nhập khẩu được hưởng từ người xuất khẩu
Trang 27Trong thương mại quốc tế, phương thức chuyển tiền chỉ có lợi cho người nhập khẩu, bởi vì, người nhập khẩu nhận hàng xong thì mới phải chuyển tiền trả cho người xuất khẩu Chính vì vậy, người xuất khẩu cần tìm
ra giải pháp phòng ngõa rủi ro do người nhập khẩu nhận hàng nhưng không trả tiền hoặc trả tiền chậm, không đủ
1.2.2 Nhờ thu (Collection)
(1) Nhờ thu trơn (Clean colection)
Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán mà trong đó người
ta có các khoản tiền phải thu từ các công cụ thanh toán nhưng không thể tự mình thu được, cho nên phải ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ghi trên công
cụ thanh toán đó không kèm với với điều kiện chuyển giao chứng từ
Các bên tham gia nhờ thu gồm có:
- Người ủy thác thu tức là người hưởng lợi (Principal)
- Ngân hàng ở nước người ủy thác là ngân hàng nhận sự ủy thác chuyển công cụ nhờ thu để nhờ ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài thu tiền hộ (Remitting bank)
- Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển là ngân hàng ở nước người trả tiền, gọi là ngân hàng nhờ thu (Collecting bank) hay còn gọi là
Trang 28ngân hàng xuất trình công cụ thanh toán để đòi tiền (Presenting bank)
- Người trả tiền hay còn gọi là người bị ký phát (Drawee)
- Các công cụ thanh toán thường gồm có:
- Hối phiếu thương mại – Bill of exchange
- Kỳ phiếu thương mại – Promissory note
- Séc quốc tế – International check
- Hóa đơn thu tiền – Financial invoice
Nhờ thu trơn thường được áp dụng trong các trường hợp
- Người hưởng lợi và người trả tiền phải tin cậy lẫn nhau, bởi vì việc trả tiền có được thực hiện hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người trả tiền, còn ngân hàng chỉ là trung gian thu hé
Ngân hàng chỉ có vai trò là trung gian thu hộ tiền cho khách hàng, còn thu được hay không, thu đủ hay không, có đúng hạn hay không thì ngân hàng không chịu trách nhiệm Chính vì vậy phương thức này chứa đựng nhiều rủi ro đối với người ủy thác thu tức là người hưởng lợi
- Phương thức nhờ thu phiếu trơn không được áp dụng nhiều trong thanh toán thương mại, vì nó không đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu, do việc nhận hàng hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán, cho nên người nhận hàng có thể nhận hàng hoặc không trả tiền hoặc chậm trễ trả tiền
- Để hạn chế rủi ro khi áp dụng phương thức này, người ủy thác thu cần có điều khoản chế tài qui định trong các hợp đồng cơ sở, lệnh nhờ thu và thư nhờ thu Ví dô:
Trang 29Trong hợp đồng cơ sở, hai bên cần thỏa thuận thời gian cụ thể phải trả tiền hoặc phải chấp nhận thanh toán khi ngân hàng xuất trình công cụ thanh toán Nếu trả chậm thì bị phạt lãi trả chậm
Trong lệnh nhờ thu và thư nhờ thu cũng phải qui định chế tài phạt tương tự
(2) Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection)
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là một phương thức thanh toán
mà trong đó người có các khoản tiền phải thu ghi trên các công cụ thanh toán, nhưng không thể tự mình thu được từ người bị ký phát mà phải ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ghi trên công cụ thanh toán với điều kiện là
sẽ giao chứng từ nếu người bị ký phát thanh toán, hoặc chấp nhận thanh toán hoặc thực hiện các điều kiện khác đã qui định
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là một phương thức được áp dụng chủ yếu trong thanh toán thương mại quốc tế vì phương thức này hạn chế, phòng ngõa và tránh được những rủi ro trong các phương thức thanh toán không kèm chứng từ Người xuất khẩu ủy thác cho ngân hàng thay mặt mình khống chế chứng từ đối với người nhập khẩu với điều kiện là thanh toán đổi lấy bộ chứng từ (Document against payment-D/P), hoặc chấp nhận thanh toán đổi lấy chứng từ (Document against acceptance- D/A) hoặc thực hiện các điều kiện và điều khoản quy định đổi lấy chứng từ (Document against other terms and conditions-D/TC)
Các bên tham gia nhờ thu gồm:
- Người ủy thác thu tức là người hưởng lợi (Principal)
- Ngân hàng ở nước người ủy thác là ngân hàng nhận sự ủy thác chuyển công cụ nhờ thu để nhờ ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài thu tiền (Remitting bank)
Trang 30- Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển là ngân hàng ở nước người trả tiền, gọi là ngân hàng nhờ thu (collecting bank) hay còn gọi là ngân hàng xuất trình công cụ thanh toán để đòi tiền (Presenting bank)
- Người trả tiền hay còn gọi là người bị ký phát (Drawee)
Cơ sở tài trợ: Cả hai phương thức nhờ thu nhờ thu kèm chứng từ và nhờ
thu trơn mà các ngân hàng thực hiện cho doanh nghiệp đều cung cấp tài trợ thương mại cho các doanh nghiệp trên các cơ sở:
- Trong phương thức thanh toán nhờ thu, thực chất người xuất khẩu cấp tín dụng cho người nhập khẩu vì việc thanh toán tiền hàng chậm hơn so với thời gian giao hàng Với việc cung cấp dịch vụ nhờ thu, ngân hàng đã trợ giúp việc cấp và nhận tín dụng giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu
- Trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ, ngân hàng giúp các doanh nghiệp xuất khẩu quản lý việc thanh toán tránh khỏi các rủi ro như không thu được tiền hàng, thu không đủ, thu không đúng hạn… mà các phương thức thanh toán chuyển tiền hay nhờ thu trơn không tránh khỏi
Trong phương thức tín dụng chứng từ có 4 bên tham gia chính :
- Người xin mở thư tín dụng (Applicant): là người nhập khẩu
Trang 31- Người hưởng lợi thư tín dụng (Beneficiary): Là người xuất khẩu
- Ngân hàng phát hành hay ngân hàng mở L/C (Issuing bank hay Opening bank): là ngân hàng phát hành thư tín dụng theo yêu cầu của người nhập khẩu Đây là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu, chịu
trách nhiệm trả tiền cho người xuất khẩu
- Ngân hàng thông báo (Advising bank): là ngân hàng có trách nhiệm thông báo và gửi bản gốc thư tín dụng cùng các sửa đổi thư tín dụng tới người xuất khẩu Ngân hàng này thường là ngân hàng đại lý hoặc là chi
nhánh của ngân hàng mở thư tín dụng đặt tại nước người xuất khẩu
Đặc điểm của phương thức tín dụng chứng từ
- Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ liên quan đến hai quan
hệ hợp đồng độc lập: là quan hệ giữa người mở thư tín dụng với ngân hàng phát hành và quan hệ giữa ngân hàng phát hành với người xuất khẩu
- Trong phương thức tín dụng chứng từ có hai nguyên tắc cơ bản: Một là, nguyên tắc độc lập của thư tín dụng: Thư tín dụng hoàn toàn độc lập với hợp đồng thương mại hay bất kỳ một hợp đồng nào khác làm
cơ sở cho thư tín dụng, ngay cả khi thư tín dụng có dẫn chiếu đến các hợp đồng này
Hai là, nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ của chứng từ: khi kiÓm tra các chứng từ xuất trình, các ngân hàng chỉ thanh toán cho người hưởng lợi khi các chứng từ này tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu của L/C Bất kỳ sự đi chệch khỏi nguyên tắc này đều có thể đem lại rủi ro cho ngân hàng
- Các bên giao dịch chỉ căn cứ vào chứng từ chứ không căn cứ vào hàng hoá: Chứng từ xuất trình là căn cứ duy nhất để ngân hàng quyết định trả tiền hay từ chối thanh toán cho người hưởng lợi thư tín dụng, là căn cứ duy nhất để người nhập khẩu hoàn trả hay từ chối trả tiền cho ngân hàng
Trang 32- Phương thức tín dụng chứng từ đảm bảo một cách tương đối quyền lợi của người bán và người mua trong hợp đồng ngoại thương Trong quan
hệ mua bán, người mua luôn muốn nhận được hàng hoá rồi mới trả tiền, người bán lại muốn giao hàng xong được thanh toán ngay Chứng từ trong thanh toán bằng L/C là bằng chứng có thể tin cậy nhất: Khi người bán lập được bộ chứng từ xem như đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, còn người mua nhận được chứng từ có thể yên tâm là hàng hoá đã được giao
Chức năng cơ bản
Tín dụng chứng từ là hình thức tài trợ thương mại phổ biến nhất ở Việt Nam cũng như trên thế giới Với việc cung cấp dịch vụ thanh toán tín dụng chứng từ các ngân hàng thương mại không những chỉ đơn thuần hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc thực hiện nghiệp vô thanh toán thông thường mà còn giúp các doanh nghiệp quản lý có hiệu quả các rủi ro trong thanh toán Các ngân hàng có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý của bộ chứng
từ được xuất trình trước khi thực hiện việc thanh toán Hơn nữa, để phục vụ lợi Ých của doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh các ngân hàng còn liên
hệ và lấy ý kiến của doanh nghiệp về việc bắt lỗi hay không bộ chứng từ được xuất trình trước khi thực hiện thanh toán
Thanh toán bằng L/C giúp hoạt động thương mại diễn ra một cách nhanh chóng và thông suốt Trong trường hợp, hàng đã tới cảng mà bộ chứng từ vẫn chưa được người bán xuất trình để thanh toán, người mua (người nhập khẩu) vẫn chưa có bộ chứng từ để nhận hàng ngân hàng sẽ phát hành một bảo lãnh nhận hàng để người mua nhanh chóng nhận được hàng
Ưu điểm: Thanh toán bằng L/C là một biện pháp hiệu quả và đảm
bảo được quyền lợi cho cả hai bên nhập khẩu và xuất khẩu Người nhập khẩu luôn lo sợ mình trả tiền rồi mà không nhận được hàng Trong khi đó,
Trang 33đó họ sẽ giải quyết vấn đề này dễ dàng thông qua phương thức tín dụng chứng từ L/C là một chứng thư trong đó ngân hàng phát hành cam kết sẽ trả tiền cho người xuất khẩu khi nhận được đầy đủ bộ chứng từ phù hợp Nh vậy, tín dụng chứng từ hay thanh toán bằng L/C giúp cho các bên dễ tin tưởng làm ăn hơn, thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ, tạo được cơ sở tăng tốc cho ngoại thương ngày một lớn mạnh Đây thực sự là nền tảng cho thông thương quốc tế
1.3.2 Phương thức bảo lãnh- letter of guarantee -L/G
L/G là một dạng dịch vụ ngân hàng hiện đại, xuất hiện vào giữa những năm 60 ở một thị trường nội địa nước Mỹ Sau đó, vào đầu những năm 70 bảo lãnh bắt đầu được sử dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế Và kể từ đó đến nay, với khả năng ứng dụng rộng rãi trong các loại giao dịch (tài chính lẫn phi tài chính, thường mại lẫn phi thương mại), vị trí của L/G ngày càng được củng cố một cách chắc chắn
Có thể khẳng định rằng hầu hết những giao dịch lớn trong phạm vi quốc tế còng nh nội địa đều có sự hỗ trợ của bảo lãnh ngân hàng Doanh
số của dịch vụ này đã gia tăng một cách đáng kinh ngạc ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết băng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ
và hoàn trả nợ cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay
Đây là một loại hình tài trợ thương mại trong thương mại quốc tế nhằm chống đỡ những tổn thất của người thụ hưởng bảo lãnh do sù vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác liên quan
Bảo lãnh ngân hàng có các đặc điểm sau:
Trang 34- Là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau
Trong một nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng thường có sự kết hợp giữa
3 hợp đồng độc lập: Hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh, hợp đồng giữa bên nhận bảo lãnh và bên bảo lãnh
Bên bảo lãnh (Guarantor): Là người phát hành thư bảo lãnh (Letter of guarantee – L/G) cam kết bồi thường cho người hưởng lợi nếu đến hạn mà người được bảo lãnh không hoàn thành nghĩa vụ quy định trên L/G Người bảo lãnh thường gồm có các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng trung ương, bộ tài chính, kho bạc nhà nước, các tổ chức tín dụng, các tổ chức trung gian tài chính như công ty bảo hiểm, công ty tài chính, công ty factoring, công ty forfaiting
Bên được bảo lãnh (Principal) hay là người yêu cầu phát hành L/G: Là khách hàng phải thực hiện các nghĩa vụ chi trả,gồm:
Người xuất khẩu yêu cầu người bảo lãnh phát hành: Thư bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu,thư bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước, thư bảo lãnh hoàn trả tiền đặt cọc, thư bảo lãnh bảo hành máy thiết bị
Người nhập khẩu yêu cầu người bảo lãnh phát hành: Thư bảo lãnh thanh toán hợp đồng nhập khẩu, thư bảo lãnh nhận hàng chưa có vận đơn gốc, thư bảo lãnh thuế quan nhập khẩu
Người vay nợ yêu cầu người bảo lãnh phát hành thư bảo hành tín dụng Người dự thầu yêu cầu người bảo lãnh phát hành thư bảo lãnh đảm bảo dự thầu
Người thụ hưởng bảo lãnh hay còn gọi là người nhận bảo lãnh:
là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng các cam
Trang 35- Bảo lãnh ngân hàng có tính độc lập so với hợp đồng
Mặc dù mục đích của bảo lãnh ngân hàng là bồi hoàn cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh trong quan hệ hợp đồng, nhưng việc thanh toán một bảo lãnh chỉ hoàn toàn căn cứ vào các điều khoản và điều kiện được quy định trong bảo lãnh
- Tính phù hợp của bảo lãnh
Khi người thụ hưởng bảo lãnh đến yêu cầu tổ chức tín dụng thanh toán thì tổ chức tín dụng có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người thụ hưởng xuất trình Tổ chức tín dụng bảo lãnh có quyền từ chối thanh toán nếu như chứng từ có dấu hiệu không hợp lệ hay những điều kiện của bảo lãnh không được đáp ứng
Khách hàng được bảo lãnh phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự
và chịu trách nhiệm dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật
- Mục đích đề nghị tổ chức tín dụng bảo lãnh là hợp pháp
- Có bảo đảm hợp pháp cho nghĩa vụ được bảo lãnh
Các hình thức đảm bảo cho bảo lãnh gồm: ký quỹ, cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba và các biện pháp bảo đảm khác theo quy định của pháp luật
Cơ sơ tài trợ thương mại
- Bảo lãnh là công cụ tài trợ thực sự về mặt tài chính cho người được hưởng bảo lãnh Trong rất nhiều trường hợp, thông qua bảo lãnh mà người được hưởng bảo lãnh không phải ký quỹ, thu hồi vốn nhanh Vì vậy, cho dù không trực tiêp cấp vốn, nhưng với việc phát hành thư bảo
Trang 36lãnh, ngân hàng đã giúp khách hàng được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như khi được vay thực sự
- Bảo lãnh ngân hàng còn có chức năng thúc đẩy thực hiện hợp đồng
Vì nhà xuất khẩu là người xin bảo lãnh, do đó nếu anh ta vi phạm hợp đồng thì phải bồi thường tổn thất cho nhà nhập khẩu, chính vì vậy, bảo lãnh ngân hàng đã buộc nhà xuất khẩu thực hiện hợp đồng một cách nghiêm túc để không bị bồi thường Mặt khác, do chịu trách nhiệm cam kết bồi thường, nên ngân hàng phát hàng cũng thường xuyên kiểm tra, giám sát tạo ra một áp lực thực hiện hợp đồng, giảm thiểu vi phạm từ phía nhà xuất khẩu
- Với hình thức bảo lãnh ngân hàng, các ngân hàng không thực hiện việc giúp các doanh nghiệp thực hiện các nghiệp vụ thanh toán hay cấp tín dụng cho doanh nghiệp, mà ở đây các ngân hàng đứng ra lấy
uy tín của mình cung cấp cho bên thụ hưởng bảo lãnh một sự đảm bảo về việc thực hiện hợp đồng, thực hiện thanh toán, hay thực hiện một nghĩa vụ nào đó Điều này giúp cho các doanh nghiệp tăng sự tin tưởng vào đối tác, các bên yên tâm thực hiện các thương vô
1.3.3 Stand-by L/C
Theo qui tắc thực hành tín dụng dự phòng quốc tế ISP 98, tín dụng
dự phòng được định nghĩa là “cam kết không hủy ngang, độc lập, bằng văn bản và ràng buộc khi được phát hành…” “…Người phát hành cam kết với người hưởng lợi thanh toán chứng từ xuất trình trên bề mặt phù hợp với các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng dự phòng theo đúng các qui tắc này” và “Người phát hành phải thanh toán chứng từ xuất trình bằng việc chuyển số tiền theo phương thức trả tiền ngay…., hoặc cam kết trả tiền sau hoặc chiết khấu…”
Các loại L/C dự phòng
Trang 37- Tín dông dự phòng đảm bảo thực hiện (Performance stand-by): Là loại tín dụng dự phòng được phát hành nhằm đảm bảo cho nghĩa vụ thực hiện hợp đồng chứ không phải nghĩa vụ trả tiền, bao gồm cho
cả mục đích trang trải các khoản thiệt hại phát sinh do vi phạm của người xin mở tín dụng trong quá trình thực hiện hợp đồng cơ sở
- Thư tín dụng dự phòng cho khoản ứng trước (advance payment standby): Đảm bảo trách nhiệm đối với khoản tiền ứng trước mà người thụ hưởng đã cấp cho người xin mở tín dụng thư
- Thư tín dụng dự phòng đảm bảo đấu thầu hay dự thầu (Bid bond/Tender bond standby): đảm bảo cho trách nhiệm phải thực hiện hợp đồng của người yêu cầu mở thư tín dụng dự phòng khi anh ta tróng thầu
- Tín dông dự phòng đối ứng (Counter standby): Loại tín dụng thư này được phát hành một thư tín dụng riêng biệt hay mét cam kết khác của chính người hưởng lợi qui định trong thư tín dụng dự phòng đối ứng
- Tín dông dự phòng tài chính (Financial standby): Là loại thư dự phòng bảo lãnh trách nhiệm trả lại khoản tiền đã vay
- Thư tín dụng dự phòng trả tiền trực tiếp (Direct-pay standby): Là loại thư tín dụng dự phòng đảm bảo thanh toán khi nghĩa vô thanh toán trong hợp đòng cơ sở đến hạn Nó có đặc trưng tương tự như tín dụng dự phòng tài chính, nhưng lại không quan tâm đến việc nó xảy
ra vi phạm hay không Đây là loại thư tín dụng dự phòng chưa có hình thức bảo lãnh ngân hàng tương ứng
- Tín dông dự phòng bảo hiểm (insurance standby): Là loại thư tín dụng dự phòng bảo đảm nghĩa vụ bảo hiểm hoặc tái bảo hiểm của người xin được phát hành tín dụng thư Đây là cam kết của ngân hàng phát hành sẽ thanh toán khoản tiền phí bảo hiểm nếu như người
Trang 38yêu cầu mở thư tín dụng dự phòng không nép phí bảo hiểm, hoặc tái bảo hiểm đúng hạn Nhờ vào loại thư tín dụng dự phòng này, người yêu cầu mở tín dụng có thể tạm thời chưa phải trả phí bảo hiểm, nên
có thể sử dụng nguồn vốn này vào kinh doanh Điều đó sẽ có ý nghĩa lớn nếu khoản phí bảo hiểm lớn (trong thương mại quốc tế, phí bảo hiểm chiếm tới 10% giá trị hàng hóa)
- Tín dông dự phòng thương mại (Commercial standby): Là loại thư tín dụng dự phòng được phát hành nhằm bảo lãnh cho trách nhiệm của người xin mở thư tín dụng phải thanh toán cho hàng hóa, hay dịch vụ trong trường hợp không thanh toán không than toán bằng các phương thức thanh toán khác
Phạm vi sử dụng của tín dụng dự phòng
- Tín dông dự phòng có thể được sử dụng như một bảo lãnh của ngân hàng phát hành nhằm đảm bảo việc thực hiện hợp đồng thương mại, hợp đồng gia công, hợp đồng liên doanh hay hợp tác hay đảm bảo cho việc tham gia dự thầu
- Bên cạnh đó, tín dụng dự phòng cũng thường được phát hành để bảo lãnh các khoản vay của các hợp đồng vay nợ trong nước như: trong xây dựng công trình hay quốc tế như các khoản tín dụng thương mại dành cho nhà nhập khẩu hay để bảo đảm việc hoàn trả các khoản tiền ứng trước
- Một vài trường hợp, tín dụng dự phòng còn đóng vai trò như một tín dụng thư thương mại là đảm bảo khả năng thanh toán Việc sử dụng tín dụng thư dự phòng thường chứng tỏ các đối tác làm ăn có sự tin tưởng lẫn nhau, việc thanh toán tín dụng dự phòng chỉ là bất đắc dĩ
và để tăng độ an toàn Chính vì vậy mà tín dụng thư dự phòng rất có triển vọng phát triển như là một công cụ đảm bảo thanh toán khi mối
Trang 39- Ngoài ra, thực tế cho thấy tín dụng thư dự phòng được sử dụng kết hợp cùng các phương thức bảo lãnh và thanh toán khác Ví dụ: Một thương vụ mà người bán và người mua thỏa thuận phương thức thanh toán bằng một thư tín dụng trả ngay Tuy nhiên, họ cũng có thể thỏa thuận thêm là người bán mở thư tín dụng dự phòng cho người mua hưởng để đảm bảo giao hàng đúng hạn hay đảm bảo chất lượng hàng đúng như trong hợp đồng…
- Trong các hợp đồng thuê mua tài chính (leasing contract), bên cho thuê cũng yêu cầu bên thuê cũng có một thư tín dụng dự phòng do ngân hàng phát hành đảm bảo việc thanh toán tiền thuê đúng hạn Tín dụng dự phòng còn được sử dụng để đảm bảo những nghĩa vụ tài chính theo phán quyết của tòa án
2 Tài trợ thương mại gián tiếp
Loại hình tài trợ thương mại gián tiếp là những giải pháp tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các chủ thể tham gia thương mại và cho hoạt động kinh doanh phát triển Môi trường kinh doanh thuận lợi đó chỉ có thể được tạo ra bởi bàn tay của Nhà nước bằng hệ thống các chính sách và biện pháp của Nhà nước nhằm vào mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu và tăng cường, triển khai sự hợp tác và phân công lao động quốc tế
2.1 Chính sách thuế và lệ phí
Thuế và lệ phí là nguồn thu chính của ngân sách Nhà nước Các quốc gia trong hoạch định chính sách tài chính của mình bao giê cũng lấy việc tăng thu ngân sách thông qua việc thu thuế và lệ phí để đảm bảo chi cho ngân sách là giải pháp có ý nghĩa chiến lược Ngân sách quốc gia có quan
hệ logic với với cán cân thanh toán của quốc gia đó Vì vậy, đẩy mạnh xuất khẩu là biện pháp quan trọng góp phần cân bằng cán cân thanh toán của quốc gia đó Vì vậy, đẩy mạnh xuất khẩu là biện pháp quan trọng góp phần
Trang 40cân bằng cán cân thanh toán quốc tế cũng có nghĩa là góp phần tăng thu ngân sách
Thuế và lệ phí là một trong những yếu tố cấu thành nên giá sản phẩm Giảm được thuế và lệ phí cho các nhà xuất khẩu là tạo nên vị thế cạnh tranh có lợi hơn cho họ Nhiều quốc gia cho rằng, việc giảm thuế và lệ phí đó coi nh là một khoản đầu tư cho doanh nghiệp Thuế xuất nhập khẩu vừa dùng như là hàng rào bảo vệ nền kinh tế quốc gia, vừa được dùng như là phương tiện vượt qua các rào cản quốc gia của các nước khác GATT, WTO, AFTA, CEPT…là sản phẩm của sự thỏa hiệp quốc gia về cách sử dụng hợp lý công cụ thuế của các thành viên
Chính sách thuế xuất nhập khẩu tựu trung nhằm vào 2 xu hướng Một là, đánh thuế nhập khẩu cao vào những mặt hàng nội địa mà mình cần bảo vệ, giảm đến miễn thuế xuất khẩu hàng hóa để tạo ra vị thế cạnh tranh của hàng hóa nước mình trên thị trường thế giới
Hai là, cho nước ngoài hưởng biểu xuất thuế ưu đãi trong khuôn khổ hiệp định song phương hoặc đa phương, ví dụ: Chế độ đãi ngộ tối huệ quốc (Most avoured Nation Treatment- MFN), chế độ ưu đãi phổ cập (Generalized System of Preference-GSP) của các nước phát triển dành cho các nước đang phát triển, Quan thuế ưu đãi hiệu lực chung (Common Efecttive Preferentail Tariff-CEPT) của các nước ASEAN…
2.2 Chính sách tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái là giá cả đơn vị tiền tệ nước này được thể hiện bằng một số tiền tệ nước kia và ngược lại Trong thời đại ngày nay, tỷ giá hối đoái được thả nổi tự do Tỷ giá hối đoái biến động từng ngày trên thị trường do sù thay đổi của quan hệ cung cầu ngoại hối và tình hình các ngân
tố kinh tế, chính trị, xã hội quyết định Biến động của tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế trong nước cũng như nước ngoài