1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN CHẤT 2020) dạy học hồn trương ba, da hàng thịt (tiết 53) của lưu quang vũ theo định hướng phát triển năng lực học sinh

36 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy Học Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt Của Lưu Quang Vũ Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh
Thể loại Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Năm xuất bản 2020
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế ấyđòi hỏi những người giáo viên trực tiếp giảng dạy trên lớp phải có những tìm tòi,nghiên cứu để đưa ra cách vận dụng những đổi mới phương pháp dạy học theođịnh hướng phát triển

Trang 1

7 Mô tả bản chất của sáng kiến

7.1 Về nội dung của sáng kiến

7.1.1 Cơ sở lý luận

7.1.2 Cơ sở thực tiễn

7.1.3 Các giải pháp tiến hành cụ thể khi dạy học Hồn Trương

Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ (Giải pháp cũ và mới)

Giáo án thực nghiệm dạy học Hồn Trương Ba, da hàng thịt

của Lưu Quang Vũ theo hướng phát triển năng lực học sinh

7.1.4 Kết quả đạt được và kết luận

7.2 Về khả năng áp dụng của sáng kiến

8 Những thông tin cần được bảo mật

9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến

10 Đánh giá lợi ích thu được

11 Danh sách cá nhân/ tổ chức tham gia áp dụng sáng kiến

Trang 2

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu:

Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển

từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáodục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sángtạo của người học Định hướng quan trọng trong đổi mới Phương pháp dạy học(PPDH) là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hànhđộng, năng lực cộng tác làm việc của người học Đó cũng là những xu hướngquốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường

Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện

giáo dục và đào tạo xác định “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố

cơ bản của giáo dục và đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất và năng lực của người học”; và “đổi mới căn bản hình thức, phương pháp thi, kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo đảm bảo tính trung thực, khách quan”.

Việc đổi mới phương pháp dạy học đã được ngành giáo dục triển khainhiều năm nay những vẫn chưa nhận được những kết quả cụ thể Thực hiệnThực hiện Chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT ngày 26/8/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo (GDĐT) về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dụcphổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2016-2017; Chỉ thị số 13/CT-UBND ngày 31/8/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dântỉnh Quảng Ninh Về một số nhiệm vụ trọng tâm năm học 2016-2017; công văn

số 4235/BGDĐT-GDTrH ngày 1/9/2016 của Bộ GDĐT về việc hướng dẫn thựchiện nhiệm vụ Giáo dục trung học năm học 2016-2017, công văn 2242-SởGDĐT Quảng Ninh hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2016-2017 toànngành nói chung, cấp học phổ thông nói riêng đang cố gắng thực hiện tốt những

nội dung trọng tâm, trong đó có : “Đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và

kiểm tra đánh giá kết quả học tập và rèn luyện theo hướng phát triển năng lực học sinh” Nhiều kế hoạch được phác thảo, nhiều chuyên đề về đổi mới phương

pháp dạy học bộ môn từ cấp trường đến cấp sở được tổ chức, tập huấn ; tuynhiên, vẫn chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, mang tính định hướng Thực tế ấyđòi hỏi những người giáo viên trực tiếp giảng dạy trên lớp phải có những tìm tòi,nghiên cứu để đưa ra cách vận dụng những đổi mới phương pháp dạy học theođịnh hướng phát triển năng lực người học vào những bài học cụ thể, đối vớinhững đối tượng học sinh cụ thể của trường mình, nhằm mang lại sự hứng thúhọc tập và kết quả học tập cao

Thực tế dạy học văn ở trường phổ thông cho thấy, với cách dạy và học lâunay đã ít nhiều mang lại sự nhàm chán cho cả người dạy và người học Điều

Trang 3

đáng nói nhất là, sau mỗi bài học, học sinh – kể cả những học sinh khá, giỏi đềuchưa hình thành cho mình được những kỹ năng, năng lực vận dụng kiến thứcvào thực tế đời sống Vì lẽ đó mà khi đứng trước một yêu cầu tương tự như đãđược học nhưng các em vẫn lúng túng Các em thiếu hẳn năng lực độc lập suynghĩ, chủ động trong xử lí tình huống cuộc sống do thói quen nghe và làm theo.Mặt khác, văn bản kịch là loại văn bản có những nét đặc thù riêng So vớicác thể loại khác, trong chương trình Ngữ văn THPT, văn bản kịch chiếm tỉ lệrất khiêm tốn (ở chương trình Ngữ văn lớp 11 học sinh được học hai trích đoạn

trong hai vở kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét của ếch-xpia; Vũ Như Tô - Nguyễn Huy

Tưởng, ở chương trìnhNgữ văn lớp12 học sinh được học một trích đoạn trong vở

kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt - Lưu Quang Vũ) Chúng ta giảng dạy kịch

trên phương diện văn học, nhưng kịch không đơn thuần giống như tự sự bởi nó

là môn nghệ thuật tổng hợp, nó có mối quan hệ với sân khấu như hình với bóng

Do vậy, dạy học kịch bản văn học quả là một việc làm không dễ đối với cả giáoviên và học sinh Việc tìm kiếm một hướng tiếp cận tối ưu luôn là vấn đề đặt racho mỗi người dạy Trong thực tế, việc dạy, học văn bản kịch nói chung, cáctrích đoạn kịch trong trương THPT hiện nay đang gặp nhiều khó khăn hơn khigiảng dạy các thể loại văn học khác Nhiều giáo viên và học sinh không thíchcác giờ dạy học kịch bản văn học Đây là tâm lý ảnh hưởng lớn tới bài giảng và

sự tiếp nhận của học sinh Dù thực tế chúng ta phải thừa nhận rằng tác phẩmkịch được đưa vào giảng dạy trong chương trình THPT đều là những tác phẩmhay, thiết thực

Từ thực tế đó, đòi hỏi việc đổi mới phương pháp dạy học văn phải theođịnh hướng phát triển năng lực người học Mỗi bài học, thông qua nội dung kiếnthức, phương pháp tìm hiểu, phải hình thành và rèn luyện cho học sinh một hoặcmột số năng lực nhất định, để khi bước vào cuộc sống, các em có thể vận dụngđược, làm được

2. Tên sáng kiến: Dạy học Hồn Trương Ba, da hàng thịt (tiết 53) của Lưu

Quang Vũ theo định hướng phát triển năng lực học sinh.

3. Tác giả sáng kiến:

- Họ và tên: Nguyễn Thị Thủy

- Địa chỉ : Trường THPT Yên Lạc

- Số điện thoại: 0987263759 Email: muasaobang221087@gmail.com

4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Không có chủ đầu tư Người làm sáng kiến tự

đầu tư các chi phí liên quan đến đề tài

5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:

- Dạy học môn Ngữ văn cho học sinh THPT

6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 5/12/2019

7. Mô tả bản chất của sáng kiến:

Trang 4

7.1 Về nội dung của sáng kiến:

Nội dung của sáng kiến chia làm 4 phần:

- Phần 1: Cơ sở lí luận: Vấn đề năng lực, đổi mới dạy học theo hướng

phát triển năng lực học sinh, phát triển năng lực học sinh qua môn Ngữ văn

- Phần 2: Thực trạng của việc dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường phổ

7.1.1.1 Năng lực – khái niệm và cấu trúc

Năng lực (NL) là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau và cách diễn đạt không giống nhau Tuy nhiên, để tạo cơ sở lý luận cho việc triển khai các nội dung của đổi mới giáo dục phổ thông sau 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định khái niệm “năng lực” như sau :

NL là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất

định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhânkhác như hứng thú, niềm tin, ý chí, NLcủa cá nhân được đánh giá qua phươngthức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộcsống

Tóm lại, có thể hình dung cấu trúc của NL qua bảng dưới đây :

7.1.1.2 Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực của học sinh.

Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trìnhgiáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗquan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái

gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương

Trang 5

pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụngkiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăng cườngviệc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộngtác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc họctập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sungcác chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết cácvấn đề phức hợp.

Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành vàphát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếmthông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của

tư duy Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phươngpháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phươngpháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thànhnhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”

Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạyhọc Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có nhữnghình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ởngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảmbảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn,nâng cao hứng thú cho người học

Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã quiđịnh.Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nộidung học và phù hợp với đối tượng học sinh.Tích cực vận dụng công nghệ thôngtin trong dạy học

Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thểhiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp họcsinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những trithức được sắp đặt sẵn Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hànhcác hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đãbiết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn

Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và cáctài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi vàphát hiện kiến thức mới Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích,tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hìnhthành và phát triển tiềm năng sáng tạo

Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trởthành môi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và

Trang 6

kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tậpchung.

Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốttiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chútrọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiềuhình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêuchí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót

7.1.1.3 Xác định các năng lực cần phát triển qua môn Ngữ văn cấp THPT

Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chứckiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…., nhằm đápứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.Năng lực thể hiện sự vận dụng kết hợp nhiều yếu tố (phẩm chất, kiến thức và kỹnăng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện mộtloại công việc nào đó Năng lực có các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động,mọi công dân đều cần phải có đó là các năng lực chung cốt lõi cơ bản như:

Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự học, năng lực giao tiếp tiếng Việt, năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ.

Môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, nó mang đặc thù riêng củamôn học, do đó năng lực tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học/cảm thụthẩm mĩ là những năng lực đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các nộidung dạy học của môn học, ngoài ra các năng lực còn lại đóng vai trò là cácnăng lực chung

Trong quá trình hướng dẫn học sinh tiếp xúc với văn bản, môn ngữ văngiúp học sinh từng bước hình thành và nâng cao các năng lực học tập của môn

học, cụ thể là năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe, đọc) và năng lực

tạo lập văn bản (gồm kỹ năng nói và viết) Năng lực đọc- hiểu văn bản của học

sinh thể hiện ở khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức về Tiếng Việt, về cácloại hình văn bản và kỹ năng, phương pháp đọc, khả năng thu thập các thông tin,cảm thụ cái đẹp và giá trị của tác phẩm văn chương nghệ thuật

7.1.2 Cơ sở thực tiễn.

7.1.2.1.Về nhà trường

Từ những năm học trước cho đến năm học 2019- 2020, nhà trường coi hoạtđộng dạy học theo định hướng năng lực người học là một trong những yếu tốquan trọng hàng đầu trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục Chính vì vậy nêntrong kế hoạch chuyên môn của nhà trường đã triển khai kế hoạch dạy học ngay

từ đầu năm học được quan tâm, chú trọng

7.1.2.2 Về giáo viên

Trang 7

download by : skknchat@gmail.com

Trang 8

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ýtích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyếtvấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắnhoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn, đổi mới quan hệ giáo viên-học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xãhội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn họcchuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lựcgiải quyết các vấn đề phức hợp.

Đối với nhóm giáo viên dạy Ngữ văn của trường, từ năm học 2018- 2019chúng tôi đã triển khai dạy học theo hướng phát huy năng lực, phẩm chất ngườihọc Tuy nhiên, có một số giờ dạy vẫn chưa phát huy hết năng lực, phẩm chấtcủa học sinh Một số giáo viên đã chú ý hình thành các năng lực, phẩm chất chohọc sinh qua bài học tuy nhiên phần đánh giá năng lực, phẩm chất và cũng chỉmang định tính

7.1.2.3 Về học sinh

Học sinh lớp 12 cấp học THPT có những hạn chế nhất định về năng lựcphân tích đánh giá, phản biện, hợp tác… và một số năng lực khác nên việc rènluyện năng lực qua bài dạy là cần thiết

Học sinh chưa có ý thức chuẩn bị bài chu đáo, bài cũ học sơ sài, qua quýt;bài mới soạn cho có lệ, chưa có ý thức và tâm thế hứng thú đối với bài học, chưaxác định được mình sẽ tiếp thu được điều gì, rèn luyện được năng lực nào đốivới mỗi bài học

7.1.3 Các giải pháp tiến hành cụ thể khi dạy học Hồn Trương Ba, da hàng thịt (tiết 53) của Lưu Quang Vũ.

7.1.3.1 Giải pháp cũ.

GV cho HS đọc và tìm hiểu phần tiểu dẫn rồi cho phân tích văn bản đểlàm nổi bật giá trị về nội dung và nghệ thuật Cách dạy học như vậy nghiêng vềnghệ thuật nhiều hơn khoa học, và năng khiếu của GV quyết định kết quả giờhọc nhiều hơn là tri thức, phương pháp; HS có thể hứng thú lắng nghe nhưng thụđộng, tiếp cận kiến thức rời rạc, học môn nào biết môn đó; chưa chủ động liên

hệ, phối hợp kiến thức khi vận dụng lí giải vấn đề nhất là những tình huống cụthể trong thực tiễn

7.1.3.2 Giải pháp mới: Đọc- hiểu Hồn Trương Ba, da hàng thịt (tiết

53) của Lưu Quang Vũ theo định hướng phát triển năng lực học sinh.

Định hướng thiết kế bài học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực của học sinh

- Để phát triển năng lực của học sinh trong giờ Ngữ văn cấp THPT, cầnđổi mới mạnh mẽ việc thiết kế bài học từ phía giáo viên Trong thiết kế, giáoviên phải cho thấy rõ các hoạt động của học sinh chiếm vị trí chủ yếu Với giáo

Trang 9

viên, phương pháp thuyết trình nên giảm thiểu tới mức tối đa, thay vào đó là tổchức hoạt động cho học sinh bằng việc nêu vấn đề, đề xuất các tình huống, dựán.

- Để phát huy được vai trò chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo của họcsinh THPT trong quá trình học tập cần vận dụng lý thuyết kiến tạo của J Brunervào trong quá trình dạy học Tiến trình dạy học kiến tạo bao gồm 3 bước:

Bước 1: Làm bộc lộ quan niệm của học sinh

- Trong bước này, giáo viên giúp học sinh hệ thống, ôn lại những kiến thức cũ

có liên quan đến kiến thức mới bằng cách sử dụng các câu hỏi, các bài tập Sau

đó giáo viên hoặc học sinh sẽ nêu vấn đề, tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ quanniệm của mình về vấn đề học tập

Bước 2: Tổ chức điều khiển học sinh tiến hành thảo luận

- Giáo viên tổ chức cho học sinh đề xuất các giả thuyết, kiểm tra giả thuyết (thử

và sai) phân tích kết quả và từ đó rút ra kết luận chung cho cả lớp

Bước 3: Tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức

- Giáo viên tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề về lý thuyết cũng như thực tiễn, qua đó giúp học sinh khắc sâu hơn kiến thức mới

- Theo tinh thần trên, thiết kế bài học được biên soạn theo các chủ đề, tổ chức

hoạt động cho học sinh theo 5 bước gồm: hoạt động khởi động, hoạt động hình

thành kiến thức mới, hoạt động luyện tập, hoạt động vận dụng, hoạt động mở rộng, nâng cao Mỗi hoạt động trong tiến trình học tập được xây dựng với mục

tiêu, nội dung và cách thức cụ thể như sau:

a Hoạt động khởi động *

Mục đích của hoạt động

- Hoạt động khởi động giúp học sinh huy động vốn kiến thức và kỹ năng để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức và kỹ năng mới

- Giúp học sinh tạo hứng thú để bước vào bài học mới

- Giúp giáo viên tìm hiểu xem học sinh có hiểu biết như thế nào về những vấn

đề trong cuộc sống có liên quan đến nội dung bài học

* Nội dung, hình thức khởi động

- Câu hỏi, bài tập: có thể là quan sát tranh/ảnh để trao đổi với nhau về một vấn

đề nào đó có liên quan đến bài học; hoặc trực tiếp ôn lại kiến thức đã học ởcấp/lớp dưới, thiết kế dưới dạng kết nối hoặc những câu hỏi đơn giản, nhẹnhàng

- Thi kể chuyện một số hoạt động yêu cầu học sinh đọc diễn cảm, kể chuyệnhoặc hát về chủ đề liên quan đến bài học Các hoạt động này trong một sốtrường hợp được thiết kế thành các cuộc thi, nhằm tạo ra không khí sôi nổi,hứng thú trước khi tiến hành học bài mới

Trang 10

- Trò chơi: một số trò chơi trong hoạt động khởi động giúp tạo ra hứng thú trướckhi vào bài học mới Các trò chơi này cũng cần có nội dung gắn với mỗi bài học.

b Hoạt động hình thành kiến thức mới

* Mục đích của hoạt động

Hoạt động này giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua hệ thống các bài tập/nhiệm vụ

* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ

Các tri thức ở hoạt động này thuộc các phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn trong sách giáo khoa hiện hành được tiến hành theo trình tự sau:

vụ trong mục này nêu lên các yêu cầu tìm hiểu về đặc điểm thể loại, nội dung,nghệ thuật của văn bản

* Tích hợp kiến thức kĩ năng Tiếng Việt

- Tích hợp với nhiệm vụ tìm hiểu văn bản Giáo viên đưa ra một số bài

tập/nhiệm vụ yêu cầu học sinh tìm hiểu các kiến thức Tiếng Việt

- Các khái niệm thuộc ngôn ngữ học được giảm tải, chuyển hóa thành dạng kỹ năng, giúp học sinh dễ tiếp nhận hơn

* Tích hợp kiến thức, kĩ năng làm văn

- Các kiến thức làm văn cũng được dạy tích hợp với Đọc hiểu và Tiếng Việt.Cũng như phần kiến thức Tiếng Việt, những nội dung lý thuyết Làm văn đượcgiảm tải và chuyển hóa thành kỹ năng

Lưu ý:

- Giáo viên cần dự kiến những trường hợp học sinh không làm được bàitập/nhiệm vụ để có phương án giải quyết Có thể kích thích lại hứng thú hoặc rabài tập/nhiệm vụ khác, từ những bài tập dễ hơn, phù hợp hơn, rồi từ đó nâng dầnhiểu biết của các em

- Các hoạt động của học sinh trong mục này gồm: Hoạt động cá nhân, hoạt độngnhóm Kết thúc hoạt động nhóm, học sinh phải trình bày kết quả và thảo luậnvới giáo viên

c Hoạt động luyện tập

* Mục đích của hoạt động

Trang 11

Yêu cầu học sinh phải vận dụng những kiến thức vừa học được ở hoạt động hìnhthành kiến thức mới để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể Thông qua đó giáoviên xem học sinh đã nắm được kiến thức hay chưa và nắm được ở mức độ nào.

* Nội dung và hình thức các bài tập/nhiệm vụ

- Hoạt động thực hành gồm các bài tập/nhiệm vụ yêu cầu học sinh củng có các tri thức vừa học và rèn luyện các kỹ năng liên quan

- Các bài tập/nhiệm vụ trong phần thực hành cũng theo trình tự; Đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt và Tập làm văn

- Các bài tập/nhiệm vụ trong Hoạt động thực hành tập trung hướng đến việchình thành các kỹ năng cho học sinh, khác với bài tập trong Hoạt động hìnhthành kiến thức mới chủ yếu hướng tới việc khám phá tri thức Đây là hoạt độnggắn với thực tiễn bao gồm những nhiệm vụ như: trình bày, viết văn…

d Hoạt động vận dụng

* Mục đích của hoạt động

Hoạt động này giúp học sinh sử dụng kiến thức, kỹ năng đã học để giải quyếtcác vấn đề, nhiệm vụ trong thực tế “Thực tế” ở đây được hiểu là thực tế trongnhà trường, trong gia đình và trong cuộc sống của học sinh Hoạt động này sẽkhuyến khích học sinh nghiên cứu, sáng tạo, tìm ra cái mới theo sự hiểu biết củamình; tìm phương pháp giải quyết vấn đề và đưa ra những cách giải quyết vấn

đề khác nhau; góp phần hình thành năng lực học tập với gia đình và cộng đồng

* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ

- Tiếp tục rèn luyện kỹ năng làm văn

e Hoạt động mở rộng, nâng cao

* Mục đích của hoạt động

Trang 12

Hoạt động này giúp học sinh tiếp tục mở rộng kiến thức, kỹ năng Hoạt độngnày dựa trên lập luận cho rằng, quá trình nhận thức của học sinh là khôngngừng, như vậy cần có sự định hướng để đáp ứng nhu cầu tiếp tục học tập, rènluyện sau mỗi bài học cụ thể.

* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ cụ thể

-Đọc thêm các đoạn trích, văn bản có liên quan

- Trao đổi với người thân về nội dung bài học như: kể cho người thân nghe về câu chuyện vừa học, hỏi về ý nghĩa câu chuyện…

- Tìm đọc sách, báo, mạng in-tơ-nét…một số nội dung theo yêu

+ Hoạt động cá nhân: là hoạt động yêu cầu học sinh thực hiện các bài

tập/nhiệm vụ một cách độc lập Loại hoạt động này nhằm tăng cường khả nănghoạt động độc lập của học sinh, diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là đối với các bàitập/nhiệm vụ có yêu cầu khám phá, sáng tạo, hoặc rèn luyện đặc thù Giáo viêncần đặc biệt coi trọng hoạt động cá nhân vì nếu thiếu nó, nhận thức của học sinh

sẽ không đạt tới mức độ sâu sắc và chắc chắn cần thiết, cũng như các kỹ năng sẽkhông được rèn luyện một cách tập trung

+ Hoạt động cặp đôi và hoạt động nhóm nhỏ: là những hoạt động nhằm giúp

học sinh phát triển năng lực hợp tác, tăng cường sự chia sẻ và tính cộng đồng Khi tổ chức hoạt động này, giáo viên cần xác định rõ mục đích, nội dung bài tập/nhiệm vụ cho phù hợp với hoạt động cặp đôi hay hoạt động nhóm Thông thường, hình thức hoạt động cặp đôi được sử dụng trong những trường hợp, những bài tập cần sự chia sẻ Ví dụ: kể cho nhau nghe, nói với nhau một nội dung cần chia sẻ, đổi bài cho nhau để đánh giá chéo,…Hình thức hoạt động nhóm được sử dụng trong trường hợp cần sự hợp tác

+ Hoạt động chung cả lớp: là hình thức hoạt động phù hợp với số đông học

sinh Đây là hình thức nhằm tăng cường tính cộng đồng, giáo dục tinh thần đoànkết, sự chia sẻ, tinh thần chung sống hài hòa

Trang 13

+ Hoạt động cộng đồng: là hình thức hoạt động của học sinh trong mối tương

tác với xã hội Hoạt động với cộng đồng bao gồm các hình thức từ đơn giảnnhư: tham gia bảo vệ môi trường, tìm hiểu các di tích văn hóa, lịch sử ở địaphương…

- Định hướng thiết kế bài học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực của họcsinh cấp THPT trên đây là một hướng đi mới Đổi mới phương pháp dạy họchiện nay nên đi theo định hướng thiết kế bài học ngữ văn như trên

Thiết kế bài Hồn Trương Ba, da hàng thịt (tiết 85) của Lưu Quang Vũ

theo hướng phát triển năng lực của học sinh

* Hoạt động khởi động Trò

chơi “Đoán ý đồng đội”

Đây là một luật chơi vô cùng quen thuộc, có thể sử dụng hiệu quả trongphần khởi động để kích hoạt kiến thức nền của tiết học Giáo viên chuẩn bị gói

từ khóa, hình ảnh…, sau đó mời một học sinh quay lưng lại với bảng, chuẩn bịđoán từ khoá GV chiếu từ khoá trên máy chiếu cho cả lớp nhìn thấy để các họcsinh khác gợi ý để học sinh này trả lời Lời gợi ý không được phép nhắc đến bất

kì tiếng nào trong gói từ khóa giáo viên đưa ra Việc quan sát từ khoá và tư duy

để trả lời từ khoá sẽ giúp học sinh khơi dậy kiến thức nền đã học lớp 11 (Bài

Một số thể loại văn học: Kịch, Văn nghị luận).

Trong tiết học Hồn Trương Ba, da hàng thịt , để kích thích phản ứng

nhanh và sự hào hứng của học sinh, GV kết hợp luật trò chơi này với trò chơi

“Ai nhanh hơn?” bằng cách không chỉ gọi 1 học sinh mà gọi 3 học sinh cùng trảlời, ai đoán được từ khoá trước là người chiến thắng

- Một số từ chìa khóa:

+ Kịch

+ Bi kịch

+ Xung đột, nhân vật, hành động, ngôn ngữ

+ Thắt nút- phát triển- cao trào- mở nút

* Hoạt động hình thành kiến thức mới

Phần hình thành kiến thức chung về Lưu Quang Vũ và tác phẩm.

Giáo viên giao nhiệm vụ về nhà, yêu cầu học sinh tự phát huy năng lực tìm kiếm thông tin về tác giả, tác phẩm

Sau khi vấn đáp, học sinh trả lời câu hỏi, giáo viên bổ sung, mở rộng vấn

đề và chốt lại kiến thức cơ bản

Phần hình thành kiến thức mới về văn bản Hồn Trương Ba, da hàng thịt

Trong tiết 1, GV tổ chức các hoạt động hướng dẫn HS tìm hiểu về tác giả,

tác phẩm, phần 1 của đoạn trích (Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt) Phần này giáo viên tổ chức học sinh hình thành kiến thức mới bằng

Trang 14

cách giao cho 4 nhóm phiếu học tập có các câu hỏi, bài tập, tập hợp thành cáccâu hỏi theo một hệ thống logic Giáo viên định hướng và kiểm tra học sinhtrong quá trình tự chiếm lĩnh kiến thức mới Học sinh trên cơ sở thảo luận đi đếnthống nhất trong nhóm và cử đại diện trình bày sản phẩm của nhóm mình (họcsinh có thể vẽ tranh minh họa) Giữa các nhóm sau khi trình bày sẽ có sự traođổi, vấn đáp, bổ sung Sau đó giáo viên sẽ nhận xét phần trình bày của các nhóm

và đi đến thống nhất rồi chốt lại kiến thức cơ bản

- Nhóm 1 : Nhan đề và tình huống kịch

- Nhóm 2 : Lời độc thoại của hồn Trương Ba

- Nhóm 3 : Lời đối thoại giữa hồn và xác

- Nhóm 4 : Ý nghĩa triết lí của màn đối thoại

Lời độc thoại của hồn Trương Ba

* Hành động, trạng thái tâm lí của Trương Ba qua những lời độc thoại ?

- Lời độc thoại trước khi diễn ra cuộc đối thoại giữa hồn và xác :

………

* Nhận xét về ngôn ngữ độc thoại của hồn Trương Ba ?

………

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 3:

Đối thoại giữa hồn và xác

* Diễn biến cuộc đối thoại (cử chỉ, xưng hô, mục đích, giọng điệu, vị thế)

………

* Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và tạo xung đột kịch ?

Trang 15

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 4

Ý nghĩa của màn đối thoại

* Qua màn đối thoại, tác giả gửi gắm triết lí gì ?

* Hoạt động luyện tập

Trên cơ sở yêu cầu học sinh thực hiện những thao tác để chiếm lĩnh trithức mới từ bài học, giáo viên cho học sinh vẽ sơ đồ tư duy về cuộc đối thoạigiữa hồn và xác ; hoặc trả lời các câu hỏi trắc nghiệm để củng cố bài học

* Hoạt động vận dụng

- Vận dụng hình thức sân khấu hóa yêu cầu HS nhập vai diễn kịch Hồn

Trương Ba, da hàng thịt HS tập luyện ở nhà và diễn kịch trong một buổi ngoại

khóa

- Hoặc từ kiến thức trong văn bản hãy suy nghĩ về vấn đề một vấn đề xãhội : Không thể sống bên trong một đằng bên ngoài một nẻo, tình trạng sốngnhờ, sống gửi của con người hiện đại

* Hoạt động mở rộng

Hoạt động này yêu cầu học sinh làm ở nhà: giáo viên giao nhiệm vụ/bàitập về nhà yêu cầu học sinh tìm đọc sách, báo mạng và sưu tầm những tác phẩmvăn chương, cảm nhận về những chi tiết, vấn đề đặt ra trong tác phẩm

Trang 16

- Cảm nhận được những nét đặc sắc của kịch Lưu Quang Vũ trên cả haiphương diện: kịch bản văn học và nghệ thuật sân khấu bởi tính hiện đại kếthợp với những giá trị truyền thống, sự phê phán mạnh mẽ, quyết liệt và chấttrữ tình đằm thắm, bay bổng.

2. Về kĩ năng

- Rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu văn bản; tóm tắt văn bản kịch; phân tích nhân vật kịch

3. Về thái độ

- Biết đấu tranh chống lại sự giả tạo để hoàn thiện nhân cách

- Sống nhân hậu, vị tha, trách nhiệm

- Biết dung hòa trong các mối quan hệ trong gia đình và xã hội

- Giữ được bản lĩnh trước những cám dỗ trong cuộc đời

4. Định hướng phát triển năng lực

- Năng lực đọc hiểu văn bản kịch theo đặc trưng thể loại

- Năng lực giao tiếp (tóm tắt nội dung của vở kịch, diễn đạt trình bày nộidung dưới nhiều hình thức khác nhau như thảo luận nhóm, trình bày bài thuyếttrình, nhận xét bài của các nhóm khác )

- Năng lực hợp tác thông qua hoạt động nhóm

- Năng lực tự học: thu nhận và xử lí thông tin, làm các đề mà giáo viên giao cho làm trước tại nhà, tìm kiếm thông tin trên mạng Internet

- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin thông qua hoạt động tìm kiếm thông tin trên mạng Internet

- Năng lực cảm thụ văn học, tạo lập văn bản: biết viết bài văn nghị luận

- Năng lực vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết những tình huống trong thực tiễn

Trang 17

AI. CHUẨN

BỊ 1 Giáo viên

- Phương tiện:

+ Thiết kế bài dạy

+ Chuẩn bị tư liệu: tài liệu tham khảo về tác giả Lưu Quang Vũ và Hồn

Trương Ba, da hàng thịt, tranh ảnh về tác giả, tác phẩm, phiếu học tập

+ Chuẩn bị thiết bị đồ dùng: máy chiếu, laptop, bút lazer

- Phương pháp: giảng giải, đàm thoại, thảo luận, gợi mở…

2. Học sinh

- Đọc văn bản và trả lời những câu hỏi hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa; những câu hỏi hướng dẫn học bài của giáo viên

- Chuẩn bị bài thuyết trình, phiếu học tập theo hướng dẫn của giáo viên

- Vẽ sơ đồ tư duy và thuyết minh ý tưởng

BI. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY:

1 Ổn định:

2 Kiểm tra bài cũ: Không

3 Tổ chức hoạt động dạy học:

A HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG (5

phút) Trò chơi “Đoán ý đồng đội”

Đây là một luật chơi vô cùng quen thuộc, có thể sử dụng hiệu quả trongphần khởi động để kích hoạt kiến thức nền của tiết học Giáo viên chuẩn bị gói

từ khóa, hình ảnh…, sau đó mời học sinh quay lưng lại với bảng, chuẩn bị đoán

từ khoá GV chiếu từ khoá trên máy chiếu cho cả lớp nhìn thấy để học sinh khácgợi ý để học sinh này trả lời Lời gợi ý không được phép nhắc đến bất kì tiếngnào trong gói từ khóa giáo viên đưa ra Việc quan sát từ khoá và tư duy để trả lời

từ khoá sẽ giúp học sinh khơi dậy kiến thức nền đã học lớp 11 (Bài Một số thể

loại văn học: Kịch, Văn nghị luận).

Trong tiết học Hồn Trương Ba, da hàng thịt , để kích thích phản ứng

nhanh và sự hào hứng của học sinh, GV kết hợp luật trò chơi này với trò chơi

“Ai nhanh hơn?” bằng cách không chỉ gọi 1 học sinh mà gọi 3 học sinh cùng trảlời, ai đoán được từ khoá trước là người chiến thắng

- Một số từ chìa khóa:

+ Kịch

+ Bi kịch

+ Xung đột, nhân vật, hành động, ngôn ngữ

+ Thắt nút- phát triển- cao trào- mở nút 

Sau đó dẫn vào bài mới

Trang 18

B HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI (35 phút)

( HS giới thiệu về * Vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”:

xuất xứ, vị trí, kết - Xuất xứ: Hư cấu sáng tạo từ một cốt truyện

Ngày đăng: 29/03/2022, 12:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Kết quả trước khi thực hiện giải pháp mới - (SKKN CHẤT 2020) dạy học hồn trương ba, da hàng thịt (tiết 53) của lưu quang vũ theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Bảng 1 Kết quả trước khi thực hiện giải pháp mới (Trang 31)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w