1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN CHẤT 2020) dạy bài công dân với tình yêu, hôn nhân, gia đình theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

20 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 172,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình trạng giải pháp đã biết: Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay của ngành Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.. Nghị quyết Hội nghị lần thứ VI

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

MÔ TẢ GIẢI PHÁP

Mã số:

1. Tên sáng kiến: “Dạy bài công dân với tình yêu, hôn nhân, gia đình theo

hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh”.

(@THPT Huỳnh Tấn Phát, Trần Thị Kim Huệ, Huỳnh Nhã Trân, Trần Minh Trí,

Lê Thị Phương Duyên, Lê Ngọc Nhân)

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chuyên môn – môn GDCD

3 Mô tả bản chất của sáng kiến:

3.1 Tình trạng giải pháp đã biết:

Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay của ngành Giáo dục và Đào tạo Việt Nam Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam Khóa XI khẳng định:” Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.”

Xuất phát từ mục tiêu của chương trình Giáo dục phổ thông nói chung, mục tiêu của môn Giáo dục công dân nói riêng trong việc đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của công cuộc hiện đại hóa đất nước: những con người có tri thức, có đạo đức, có năng lực sáng tạo, chủ động trong cuộc sống Muốn đạt được điều đó, trong quá trình dạy học Giáo dục công dân, người giáo viên phải biết cách vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực một cách linh hoạt, phù hợp đối với từng đối tượng học sinh, nội dung bài học, kiểu bài để học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, có hứng thú trong giờ học

Trang 2

download by : skknchat@gmail.com

Trang 3

Trong luật giáo dục, điều 24, mục 2 có ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện

kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

Từ thực tế giảng dạy Giáo dục công dân trong nhà trường phổ thông, từ việc nghiên cứu phương pháp dạy học tích cực, bản thân tôi nhận thấy: “ Tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tâp Vì thế tất cả các phương pháp nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh đều được coi là phương pháp dạy học tích cực Ứng với nội dung từng bài học cụ thể nếu được áp dụng những phương pháp tích cực hóa phù hợp sẽ góp phần nâng cao tính chủ động, tích cực của học sinh và nội dung bài học sẽ được truyền tải một cách hiệu quả, tạo hứng thú cho học sinh

Và cụ thể bản thân tôi đã vận dụng: “Một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh khi dạy bài 12, Giáo dục công dân lớp 10: “ Công dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình”,tiết 1

3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:

3.2.1 Mục đích của giải pháp:

Để cho việc giảng dạy các kiến thức về tình yêu thông qua các bài Giáo dục công dân đạt hiệu quả, chất lượng cao, để nâng cao ý thức tự học của học sinh, đồng thời thực hiện theo yêu cầu của Bộ GD-ĐT về việc đổi mới phương pháp dạy

và học GDCD, làm cho môn GDCD thật sự xứng đáng với vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của bộ môn trong nhà trường THPT

3.2.2 Tính mới của giải pháp:

Vận dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt các phương pháp mới giúp giáo viên truyền đạt các kiến thức về tình yêu một cách sinh động, lôi cuốn, hấp dẫn, nâng

Trang 2

Trang 4

cao khả năng tự học của học sinh, đồng thời phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

3.2.3 Bản chất của giải pháp:

Đối với việc giảng dạy môn giáo dục công dân, giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp cả truyền thống (thuyết trình, hỏi đáp, kể chuyện…) lẫn hiện đại (phương pháp mảnh ghép, phương pháp trò chơi, tạo tình huống có vấn đề) Mỗi phương pháp đều có đặc thù riêng, vì vậy giáo viên phải biết vận dụng và kết hợp nhuần nhuyễn, khoa học các phương pháp phù hợp với đặc trưng, nội dung bài học cụ thể, phù hợp với đặc điểm của lớp, phù hợp với năng lực nhận thức và trình

độ của học sinh để bài giảng của mình thêm hấp dẫn và sinh động hơn Trong dạy học bài 12 Giáo dục công dân 10: “Công dân với tình yêu, hôn nhân, gia đình” bản thân tôi đã vận dụng phương pháp: đặt vấn đề, phương pháp mảnh ghép, sử dụng tình huống có vấn đề, phương pháp trò chơi phù hợp với đặc thù của bài học nhằm giúp học sinh hình thành tri thức mới, hình thành kĩ năng sống, giúp trang bị cho học sinh các kiến thức về tình yêu, biểu hiện của một tình yêu chân chính, một số điều nên tránh tong tình yêu Đồng thời về phía học sinh, các em sẽ nghiên cứu bài học thông qua nội dung sách giáo khoa và các câu hỏi mà tôi đã đăng lên mạng trường học kết nối.Các em sẽ tự hình thành kiến thức bằng việc sẽ tìm kiến tư liệu,

ví dụ, trả lời thông qua phiếu học tập

1 Biện pháp áp dụng: “Dạy bài công dân với tình yêu, hôn nhân, gia

đình theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh”.

2. Lựa chọn thời gian áp dụng:

- Áp dụng khi dạy bài 12, GDCD 10” Công dân với tình yêu, hôn nhân, gia

đình”

- Lựa chọn nội dung bài học khi áp dụng phương pháp tạo hứng thú cho học sinh phải phù hợp với nội dung bài học về giáo dục kiến thức về tình yêu và một số điều nên tránh trong tình yêu

Trang 5

download by : skknchat@gmail.com

Trang 6

3 Phương pháp tạo hứng thú cho học sinh vận dụng trong giảng dạy môn giáo dục công dân:

3.1 Phương pháp vấn đáp, trò chơi

Mở đầu bài học, để giới thiệu phần 1.” Tình yêu “ giáo viên gọi một học sinh đọc bài thơ “ Nhớ” của Nguyễn Đình Thi, SGK trang 76, 77 Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: “ Em hiểu thế nào về tình yêu qua bài thơ này”

Sau khi học sinh trả lời, giáo viên giảng giải: Bài thơ nói về tình yêu của anh chiến sĩ với cô gái gắn liền với tình yêu đất nước Vậy để hiểu tình yêu là gì chúng

ta sang phần a Tình yêu là gì?

Ở phần này, giáo viên sử dụng phương pháp trò chơi tạo hứng thú cho học sinh theo cách sau: Giáo viên chia lớp thành 4 đội chơi Quy định thời gian trong vòng 3 phút, mỗi đội đọc những câu thơ, tục ngữ, ca dao về đề tài tình yêu và nêu biểu hiện của tình yêu qua những câu thơ đó

Hết thời gian, các đội lần lượt trình bày phần thi của mình

Đội 1:Trời còn có bữa sao quên mọc Anh

chẳng đêm nào chẳng nhớ em

Mà sao sớm sớm chiều chiều Lòng tôi vẫn nhớ mong nhiều tới ai

Mà sao những giấc chiêm bao Hình ai vẫn cứ đi vào giấc mơ

Xin cho ta được làm giọt nắng Đan tóc ai sợi vắn sợi dài

Nụ hôn đầu thoảng nhẹ bay làn gió Dậy men lòng dư âm mãi không phai

Để một mai khi trở về cát bụi

Trang 7

Nguyện xin làm đá cuội mãi bên nhau.

Biểu hiện: nhớ, mong, tha thiết, gắn bó suốt đời bên nhau

Đội 2: Yêu nhau mấy núi cũng leo

Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua

Yêu em anh biết để đâu

Để vào tay áo lâu lâu lại dòm

Hẹn chiều nay mà sao không thấy em Gió hiu hiu lòng bỗng nghe lạnh thêm

Biểu hiện: yêu đương, hò hẹn.

Đội 3: Anh yêu em một tình yêu thầm lặng

Như thâm trầm từng chiếc lá vàng thu

Tôi yêu em đến nay chừng có thể Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai

Biểu hiện: Yêu đương mãnh liệt

Đội 4: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Nắng mưa là bệnh của giời Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

Yêu là chết ở trong lòng một ít

Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu

Biểu hiện: Yêu đương, nhớ mong

Trang 5

Trang 8

Hết 3 phút, đội 1 nêu được nhiều câu thơ và biểu hiện tình yêu qua những câu thơ đó Đội một thắng cuộc, chúng ta cùng cho bạn một tràng pháo tay

Giáo viên: Giảng giải: Thơ về tình yêu rất đa dạng, phong phú thể hiện nhiều cung bậc, cảm xúc khác nhau: Từ nhớ nhung, chẳng hạn:

Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình Anh nhớ ảnh Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi

Trích “ Tương Tư Chiều” của Xuân Diệu

Cho đến những tình cảm tha thiết mãnh liệt:

“ Anh xin làm sóng biếc Hôn mãi cát vàng em Hôn thật khẽ, thật êm Hôn êm đềm mãi mãi

Đã hôn rồi hôn lại Cho đến mãi muôn đời Đến tan cả đất trời Anh mới thôi dào dạt”

Trích thơ “ Biển” Xuân Diệu.

Cho đến sự gần gũi, gắn bó giữa hai tâm hồn:

“Em bước điềm nhiên không vướng chân Anh đi lững thững chẳng theo gần

Vô tâm nhưng giữa bài thơ dịu Anh với em như một cặp vần.”

Trích “ Thơ Duyên” của Xuân Diệu.

Và cao hơn nữa đó sự hòa quyện, gắn bó giữa hai tâm hồn:

Trang 9

“ Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy Lòng anh thôi đã cưới lòng em”

Trích “ Thơ Duyên” của Xuân Diệu.

Tiếp theo giáo viên mời học sinh nêu một vài quan niệm về tình yêu mà em biết

Học sinh trả lời:

Lan: Yêu là chết ở trong lòng một ít

Nga: Yêu là sự gắn bó, gần gũi, quan tâm nhau

Nam: Yêu là hi sinh cho nhau

Long: Yêu là tình cảm quyến luyến, sâu sắc với nhau

Giáo viên: Các em nãy giờ đã nêu rất nhiều quan niêm về tình yêu nhưng chưa đầy đủ, bây giờ cô mời một bạn đọc khái niệm “ Tình yêu” sách giáo khoa

“ Tình yêu là sự rung cảm và quyến luyến sâu sắc giữa hai người khác giới ở

họ có sự phù hợp về nhiều mặt làm cho họ có nhu cầu gần gũi, gắn bó với nhau, tự nguyện sống vì nhau và sẵn sàng hiến dâng cho nhau cuộc sống của mình.”

Tiếp theo giáo viên giảng giải: Tình yêu là tình cảm sâu sắc, đáng trân trọng của cá nhân, tuy nhiên không nên cho rằng đó chỉ là việc riêng tư của mỗi người Tình yêu luôn luôn mang tính xã hội Trước hết, tình yêu được bắt nguồn và bị chi phối bởi quan niệm , kinh nghiệm sống của những người yêu nhau( mà những quan niệm, kinh nghiệm này lại phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà cá nhân đang sống, vào vị trí xã hội và đặc điểm của thời đại.)

Tiếp theo chúng ta sang phần b “Thế nào là một tình yêu chân chính” Trước hết, giáo viên giảng giải: Trong lịch sử, các giai cấp luôn có quan

niệm và thái độ khác nhau về tình yêu, ví dụ: trong chế độ phong kiến, với quan niệm nam nữ thụ thụ bất thân”, nam nữ không được gần gũi nhau Việc hôn nhân phải “môn đăng hổ đối” và hoàn toàn do cha mẹ định đoạt theo nguyên tắc “ cha

mẹ đặt đâu , con ngồi đấy”

Giáo viên đặt câu hỏi: với quan niệm về tình yêu trong xã hội phong kiến như ví dụ trên, có phải là tình yêu chân chính không?

Trang 7

Trang 10

Học sinh nêu ý kiến cá nhân.

Giáo viên nhận xét, giảng giải: Với quan niệm như trên thì không phải là tình yêu chân chính

Vậy thế nào là tình yêu chân chính?

Tình yêu chân chính là tình yêu trong sáng và lành mạnh, phù hợp với các quan niệm đạo đức tiến bộ của xã hội

Giáo viên đặt câu hỏi: Vậy một tình yêu chân chính có những biểu hiện như thế nào?

3.2 Phương pháp mảnh ghép: Để đi vào nội dung này tôi tiến hành phương pháp theo kĩ thuật mảnh ghép như sau:

- Vòng 1:

+Tình huống 1: Giấy màu đỏ

Hiếm có người nào trong cuộc sống không nhận bất kì một sự giúp đỡ nào của người khác Với Nga (Sinh viên) sự giúp đỡ ấy lại càng đáng quí, trân trọng Nga mồ côi cha mẹ từ nhỏ và sống trong sư cưu mang của họ hàng Với sức học khá của mình, cô có thể đỗ bất cứ trường nào, nhưng hoàn cảnh và điều kiện không cho phép, cô đã theo học ngành sư phạm để được miễn tiền học phí Ngoài giờ học,

cô đi dạy gia sư để kiếm tiền sinh hoạt Anh trai người học trò cô kèm rất yêu cô,

đã kín đáo giúp đỡ cô, nhưng anh không dám ngỏ lời vì sợ sẽ bị từ chối và khiến cô khó xử Khi biết được, cô rất cảm động Tuy không yêu anh nhưng cô đã chủ động ngỏ lời Cô cho rằng như vậy là đã đền đáp được tình cảm của anh…

Câu hỏi: 1 Em nhận xét gì về biểu hiện của tình yêu thể hiện qua tình huống này? Theo em tình yêu đó có chân chính hay không?

+ Tình huống 2: Giấy màu xanh

Có một người Thầy giáo đáng kính đã có một tình yêu đẹp với người vợ mến yêu của mình Trước khi kết hôn, họ yêu nhau bằng một tình yêu nồng nàn, luôn nhớ nhung khi không gặp mặt Hai người luôn quan tâm đến tâm tư tình cảm của nhau và cùng chung một niềm đam mê nghề dạy học…Sau khi kết hôn, suốt mấy

Trang 11

chục năm chung sống với nhau, vợ chồng không một lời to tiếng, về già càng yêu thương chăm sóc nhau hơn Khi có người hỏi bí quyết để có cuộc sống hạnh phúc Ông nói:” Nếu các bạn yêu một người nào đấy mà lại có thêm sự tôn trọng người

ta, thì đó là điều quý giá nhất tạo nên một tình yêu bền chặt.”

Câu hỏi: 1 Em có nhận xét gì về biểu hiện của tình yêu thể hiện qua tình huống này? Theo em tình yêu đó có chân chính hay không?

+ Tình huống 3: Giấy màu vàng

Hoa là một cô gái giàu có và rất xinh đẹp Xung quanh cô lúc nào cũng có những chàng trai khá giả theo đuổi Cô nhận lời tất cả để tìm cho mình cơ hội tốt nhất Trong công ty, Hùng cũng là người theo đuổi cô nhưng hoàn cảnh của Hùng còn khó khăn nên cô không chấp nhận, còn nói nhiều lời xúc phạm đến Hùng Một thời gian sau cô vướng vào căn bệnh thế kỉ sau những lần quan hệ với các chàng trai trước đó Cô tuyệt vọng tự xa lánh mọi người Lúc này, Hùng mới đến bên cạnh quan tâm chăm sóc và ngỏ lời cầu hôn cô Cảm động trước tấm chân tình của anh ,

cô hỏi: “ Vì sao anh lại yêu em” Hùng trả lời: “ Anh yêu em vì em là chính em, không có một lí do nào khác”

Câu hỏi: 1 Em có nhận xét gì về biểu hiện của tình yêu thể hiện qua tình huống trên? Theo em tình yêu đó có chân chính hay không?

Giáo viên: Chiếu ba tình huống trên máy chiếu

Thực hiện theo kĩ thuật mảnh ghép theo hai bước sau:

Bước 1: Vòng 1: Học sinh các nhóm thảo luận trả lời câu số một của mỗi tình huống

Lớp có 45 học sinh, có 12 bàn học

Giáo viên có thể chia thành 6 nhóm: mỗi nhóm gồm học sinh 2 bàn ghép lại (mỗi nhóm có 7 hoặc 8 học sinh) Giao nhiệm vụ: nhóm 1,2 nhận tình huống 1, nhóm 3,4 nhận tình huống 2, nhóm 5,6 nhận tình huống 3

Phát phiếu học tập cho học sinh Trên phiếu học tập theo màu có đánh số từ

1 đến 15 Thông báo cho học sinh thời gian làm việc cá nhân và theo nhóm

Trang 9

Trang 12

Giáo viên quy định thời gian thảo luận cho cả hai vòng là : 4 phút.

Hết thời gian, các nhóm lần lượt trả lời câu hỏi ở vòng 1

Sau đây là phần trình bày của nhóm 1 và 2 với tình huống 1:

Biểu hiện tình yêu thể hiện trong tình huống 1: Cô sinh viên Nga yêu chàng trai là để trả ơn Vậy với biểu hiện yêu để trả ơn nên đây không phải là tình yêu chân chính

Nhóm 3 và 4 với tình huống 2:

Biểu hiện tình yêu thể hiện qua tình huống: nhớ nhung, quan tâm chăm sóc cho nhau, tôn trọng nhau Đây là biểu hiện của một tình yêu chân chính

Nhóm 5 và 6 với tình huống 3:

Biểu hiện tình yêu thể hiện qua tình huống: Có sự vị tha, chân thành, thông cảm Đây là biểu hiện của một tình yêu chân chính

- Vòng 2:

Giáo viên thông báo chia thành 12 nhóm mới : mỗi nhóm 1 bàn (mỗi nhóm

có từ 3 đến 6 học sinh): nhóm 1 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 1,2; nhóm 2 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 3,4; nhóm 3 gồm các học sinh

có phiếu học tập mang số 5; nhóm 4 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 6;

…nhóm 12 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 14,15 Giáo viên thông báo thời gian làm việc nhóm mới

Giao nhiệm vụ mới: 2 Theo em tình yêu chân chính có những biểu hiện gì? Với 12 nhóm mới được hình thành sẽ cùng giải quyết nhiệm vụ mới là: tìm những biểu hiện của một tình yêu chân chính

Nhóm nào trả lời nhanh nhất sẽ được đại diện lên bảng trình bày

Hết thời gian, đại diện nhóm 3 sẽ trình bày biểu hiện của một tình yêu chân chính:

- Chân thực, gắn bó giữa một nam và một nữ

- Quan tâm sâu sắc, không vụ lợi

- Tôn trọng từ hai phía

Ngày đăng: 29/03/2022, 12:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w