1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hệ thống hóa văn bản pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa thương mại

20 595 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ thống hóa văn bản pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa thương mại
Tác giả Đỗ Hoàng Dương
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoàng Anh
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 487,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống hóa văn bản pháp luật Hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa thương mại Đỗ Hoàng Dương Khoa Luật Luận văn ThS ngành: Lý luận lịch sử NN&PL; Mã số: 60 38 01 N

Trang 1

Hệ thống hóa văn bản pháp luật Hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa

thương mại

Đỗ Hoàng Dương

Khoa Luật Luận văn ThS ngành: Lý luận lịch sử NN&PL; Mã số: 60 38 01

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Hoàng Anh

Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Tìm hiểu các một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác hệ thống hoá pháp luật;

về pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác hệ thống hoá pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật

hải quan

Keywords: Luật Hải quan; Xuất nhập khẩu; Hàng hóa; Pháp luật Việt Nam; Văn bản pháp luật

Content

I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.Lý do chọn đề tài

Xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại là một hoạt động quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia Để điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội này, trong những năm gần đây Nhà nước

đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, một mặt có thể hỗ trợ Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý xuất, nhập khẩu, mặt khác có thể thiết lập môi trường pháp lý minh bạch, thông thoáng nhằm hỗ trợ các cá nhân, doanh nghiệp thực hiện có hiệu quả hoạt động kinh doanh

xuất, nhập khẩu, góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước

Tuy nhiên, do hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại ở nước ta chỉ mới phát triển trong một thời gian ngắn, thực tiễn lại luôn có những chuyển biến phức tạp nên đòi hỏi Nhà nước phải liên tục ban hành các văn bản pháp luật nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu quản lý về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại Chính điều này đã tạo nên một khối lượng văn bản pháp luật đồ sộ, gây khó khăn cho công tác tra cứu và áp dụng pháp luật Mặt khác, do trình độ lập pháp còn nhiều hạn chế, kinh nghiệm quản lý về xuất, nhập khẩu chưa nhiều nên không thể tránh khỏi tình trạng cùng lúc tồn tại nhiều quy định mâu thuẫn, chồng chéo hoặc thiếu tính khả thi

Xuất phát từ thực trạng đó, đòi hỏi Nhà nước phải có biện pháp hiệu quả để tiến hành tập hợp, rà soát và đánh giá toàn diện hệ thống pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, nhằm kịp thời khắc phục những hạn chế và hoàn thiện hệ thống pháp luật; tạo điều

Trang 2

kiện thuận lợi cho người dân và cán bộ, công chức ngành hải quan có thể dễ dàng tiếp cận, tra cứu và áp dụng pháp luật Và hệ thống hoá pháp luật chính là một biện pháp hiệu quả có thể đáp ứng các yêu cầu đó

Mặc dù đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác “Hệ thống hoá văn bản pháp luật

hải quan về xuất nhập khẩu hàng hoá thương mại”, tuy nhiên, do cơ sở và pháp lý và lý luận của

vấn đề này còn chưa hoàn thiện nên dẫn đến thực trạng công tác hệ thống hoá pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu trong thời gian qua chưa đạt được kết quả như mong muốn Vì vậy, hoàn thiện cơ sở

lý luận cho công tác hệ thống hoá pháp luật là tiền đề quan trọng để thực hiện có hiệu quả công tác

hệ thống hoá pháp luật, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại và tạo điều kiện cho công tác tiếp cận, tra cứu, áp dụng pháp luật đơn giản và chính xác hơn Đó cũng chính là nhu cầu cấp thiết của đề tài này

2 Mục đích nghiên cứu của luận văn, nội dung, phạm vi nghiên cứu

 Mục đích nghiên cứu chính của đề tài:

 Tìm hiểu các khái quát về công tác hệ thống hoá pháp luật

 Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

 Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác hệ thống hoá pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan

 Nội dung và phạm vi nghiên cứu: Bài luận văn của tôi chủ yếu tập trung đi sâu vào phân tích thực trạng của hệ thống văn bản pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại; thực trạng tiến hành công tác hệ thống hoá pháp luật trong lĩnh vực hải quan, từ đó

đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác hệ thống hoá pháp luật về xuất, nhập khẩu hàng hoá, thương mại

3.Phương pháp nghiên cứu

Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích đánh giá, phương pháp đối chiếu so sánh, … dựa trên những tài liệu, thông tin có được từ các công trình nghiên cứu, các tác phẩm của các tác giả và từ những nhận thức, đánh giá của bản thân

II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành ba chương:

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG HOÁ PHÁP LUẬT VÀ PHÁP LUẬT HẢI QUAN ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ THƯƠNG MẠI

1.1.Hệ thống hoá pháp luật

1.1.1 Khái niệm hệ thống hoá pháp luật

Hệ thống hoá pháp luật là hoạt động hệ thống, sắp xếp, chỉnh lý, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật theo một trật tự nhất định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu và áp

dụng pháp luật

1.1.2 Hình thức thực hiện hệ thống hoá pháp luật

Tập hợp hoá: là hoạt động sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật hoặc các quy phạm

pháp luật riêng biệt theo một trật tự nhất định, có thể theo trình tự thời gian ban hành, theo vần chữ cái hoặc theo từng vấn đề, thậm chí theo một trật tự khác tuỳ thuộc vào chủ thể tiến hành tập hợp Hoạt động này không làm thay đổi nội dung văn bản pháp luật, không bổ sung những quy

Trang 3

định mới mà chỉ nhằm loại bỏ các quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực

Pháp điển hoá: là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trong đó, không

những chỉ tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật đã có theo một trình tự nhất định, loại bỏ các quy phạm pháp luật lỗi thời, mâu thuẫn hoặc chồng chéo, mà còn bổ sung các quy phạm pháp luật mới để thay thế cho các quy phạm pháp luật đã bị loại bỏ, khắc phục những lỗ hổng đã được phát hiện, nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường hiệu lực pháp lý của chúng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Kết quả của công tác pháp điển hoá có thể cho ra đời một văn bản quy phạm pháp luật mới

Trong khoa học pháp lý, pháp điển hóa được phân chia thành hai hình thức: pháp điển hóa về mặt nội dung và pháp điển hóa về mặt hình thức

1.1.3 Chủ thể và trình tự thực hiện hệ thống hoá pháp luật

Chủ thể:

- Tập hợp hoá: có thể được tiến hành bởi cơ quan nhà nước, hoặc bất kỳ cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp

- Pháp điển hoá: chỉ được thực hiện bở cơ quan nhà nước có thẩm quyèn theo quy định của pháp luât

Trình tự thực hiện:

- Tập hợp hoá: không có quy định bắt buộc về trình tự thực hiện

- Pháp điển hoá: trình tự, thủ tục pháp điển hoá chỉ mới được quy định tại Pháp lệnh về Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2013)

1.1.4 Mục đích, ý nghĩa của công tác hệ thống hoá pháp luật

 Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam:

Một cách khái quát, có thể nhận thấy hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của chúng

ta đang tồn tại một số mặt hạn chế, cần phải khắc phục:

- Tản mát, tức là có cùng lúc nhiều quy phạm pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhác cùng điều chỉnh một vấn đề

- Không đồng nhất, tức là có sự khác nhau, thậm chí là mâu thuẫn giữa các quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh một vấn đề

- Không minh bạch Sự không minh bạch này thể hiện ở chổ là cùng một quy phạm pháp luật nhưng có thể có nhiều cách hiểu khác nhau, có nhiều công văn hướng dẫn khác nhau

- Hiệu lực văn bản không rõ ràng Điều này nhận thấy rõ ràng nhất trong trường hợp văn bản luật đã chấm dứt hiệu lực nhưng hệ thống các văn bản hướng dẫn dưới luật vẫn tồn tại và vẫn được áp dụng

 Mục đích, ý nghĩa của công tác hệ thống hóa pháp luật:

- Tập hợp được tất cả các quy phạm pháp luật đang nằm phân tán, rải rác ở nhiều văn bản trong một văn bản pháp luật duy nhất

- Minh bạch hóa và bảo đảm cập nhập kịp thời các quy định mới cũng như pháp hiện những quy định không hợp lý cần sửa chữa, bổ sung

- Đảm bảo tính hệ thống, thống nhất của hệ thống pháp luật

- Nâng cao sự tin tưởng của người dân vào hệ thống pháp luật thông qua việc đơn giản quá trình tra cứu và áp dụng pháp luật

- Tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình sửa đổi, bàn hành pháp luật

1.2 Pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

1.2.1 Khái niệm chung về pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại là tập hợp

Trang 4

tất cả các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện nhằm mục tiêu điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện xuất, nhập khẩu hàng hoá nhằm mục đích sinh lợi

1.2.2 Những vấn đề cơ bản của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

1.2.2.1 Nguồn của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

- Nguồn luật quốc tế

- Nguồn luật quốc gia

1.2.2.2 Phạm vi, đối tượng và phương pháp điều điều chỉnh

- Phạm vi điều chỉnh: các quan hệ pháp luật phát sinh liênh quan đến hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

- Phương pháp điều chỉnh: Phương pháp hành chính – mệnh lệnh

1.2.3 Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

1.2.3.1 Vai trò của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Vai trò chính trị:

- Thể chế hoá chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng về định hướng phát triển lĩnh

vực xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

- Quy định khung pháp lý về tổ chức cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

Vai trò kinh tế:

- Xây dựng khung pháp lý để các cơ quan Nhà nước tiến hành hoạt động quản lý trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

- Xây dựng hành lang pháp lý để các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có thể thực hiện và bảo việ quyền tự chủ trong hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

- Là công cụ để Nhà nước có thể chủ động thực thi một cách đúng đắn các chính sách bảo hộ mậu dịch thương mại nhằm hạn chế các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và góp phần bảo vệ nền sản xuất trong nước

Vai trò xã hội:

- Thông qua cơ chế điều tiết xuất, nhập khẩu, pháp luật hải quan góp phần đảm bảo hài hoà lợi ích của mọi thành phần trong xã hội

- Nhà nước tham gia quản lý, điều hành hoạt động xuất, nhập khẩu đối với một số loại hàng hoá quan trọng, thiết yếu nhằm đảm bảo ổn định xã hội

- Thông qua pháp luật hải quan, Nhà nước có thể chủ động khuyến khích hay hạn chế xuất, nhập khẩu đối với một số loại hàng hoá nhất định, nhất là các sản phẩm không phù hợp với môi trường văn hoá, giáo dục; các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường; hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô;… nhằm đảm bảo một sự phát triển bền vững cho các thế hệ tương lai

1.2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập, khẩu hàng hoá thương mại

- Nhu cầu phát triển kinh tế đất nước: đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ và rõ nét nhất

Sự phát triển của bất kỳ một quốc gia nào cũng trải qua nhiều giai đoạn và trong từng giai đoạn

có thể có những định hướng và mục tiêu khác nhau, từ đó dẫn đến chính sách kinh tế đối ngoại nói chung và chính sách xuất nhập khẩu hàng hoá nói riêng sẽ có những đặc điểm khác nhau Mặc khác, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nhu cầu

Trang 5

và năng lực sản xuất của nền kinh tế trong nước, mà nhu cầu và năng lực này có thể biến đổi theo thời gian Do vậy, từ tình hình thực tiễn của từng giai đoạn mà Nhà nước sẽ đề ra những chính sách chiến lược về xuất, nhập khẩu cụ thể, từ đó tác động trực tiếp đến công tác xây dựng

và thực thi pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

- An ninh quốc gia: Theo cách hiểu truyền thống, an ninh ninh quốc gia là sự ổn định,

phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Với khái niệm này, an ninh quốc gia mang bản chất chính trị rõ nét Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, vấn đề an ninh quốc gia được hiểu không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực quốc phòng, chính trị

mà còn bao gồm nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hoá,… hoặc chậm chí trong phạm vi một vấn đề như an ninh năng lượng, an ninh lương thực,… Trong phạm vi bài viết này, an ninh quốc gia được hiểu theo nghĩa rộng Mục tiêu đảm bảo an ninh quốc gia sẽ trực tiếp tác động đến đường lối kinh tế đối ngoại của đất nước, từ đó ảnh hưởng đến công tác xây dựng và thực thi pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

- Ổn định xã hội: Bất kỳ một chính sách kinh tế nào cũng phải tính đến những tác động

xã hội của nó Một chính sách kinh tế không thể thành công nếu gây ra những tác động tiêu cực (dù là vật chất hay phi vật chất) cho xã hội Quản lý xuất nhập, khẩu hàng hoá thương mại cũng không nằm ngoài quy luật đó Bên cạnh nhu cầu phát triển kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu hàng hoá phải tính đến những tác động của nó gây ra cho đời sống văn hoá, xã hội, nhằm đảm bảo hài hoà lợi ích của mọi thành phần trong xã hội, nhất là thành phần dân cư có thu nhập thấp

Từ đó xây dựng những chính sách, quy phạm pháp luật cụ thể đảm bảo vừa đáp ứng nhu cầu phát triển xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại, vừa duy trì sự ổn định xã hội, đặc biệt là giữ gìn bản sắc văn hoá, truyền thống của dân tộc

- Phát triển bền vững: Hiện nay, phát triển bền vững đang là vấn đề cấp bách và đặc biệt

quan trọng, thu hút sự quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như ở Việt Nam Vấn đề phát triển bền vững chủ yếu được đề cập trên các khía cạnh:

 Phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường và phòng chống biến đổi khí hậu

 Sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên Tăng cường nghiên cứu, phát triển các nguyên vật liệu nhân tạo nhằm thay thế nguồn tài nguyên thiên nhiên Không thể phủ nhận nhu cầu phát triển bền vững đã tác động trực tiếp đến chính sách kinh tế của các quốc gia, trong đó có chính sách xuất nhập khẩu hàng hoá thương mại, cụ thể như:

 Hạn chế sản xuất, xuất, nhập khẩu hàng hoá tác động xấu đến môi trường, từ đó hình thành thói quen và ý thức tiêu dùng sản phẩm thân thiện với môi trường cho người dân

 Hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô, nâng cao công nghệ nhằm sử dụng có hiệu quá và tăng cường giá trị gia tăng cho nguồn tài nguyên thiên nhiên

 Khuyến khích nhập khẩu các sản phẩm, các nguồn nguyên vật liệu sạch, thân thiện với

môi trường,…

Chương 2

THỰC TRẠNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT HẢI QUAN ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG

XUẤT, NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ THƯƠNG MẠI

2.1.Một số chế định pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

2.1.1 Chế định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống cơ quan quản

Trang 6

lý nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá

2.1.1.1 Cơ sở pháp lý

Luật Hải Quan (2001); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải Quan (2005); Quyết định số 02/2010/QĐ-TTg; Quyết định số 1027/QĐ-BTC; Quyết định 2053/QĐ-BTC ; Quyết định số 1169/QĐ-TCHQ

2.1.1.2 Nội dung cơ bản của chế định

 Hệ thống cơ quan Hải quan Việt Nam:

Cơ quan Tổng cục Hải quan ở Trung ương: Tổng cục Hải quan là cơ quan trực thuộc

Bộ Tài Chính, có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, có tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước và có trụ sở tại Thành phố Hà Nội Về cơ cấu tổ chức, Tổng cục Hải quan bao gồm các đơn vị hành chính có chức năng hỗ trợ Tổng Cục trưởng thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan và các đơn vị sự nghiệp

Cơ quan hải quan ở địa phương: Hệ thống cơ quan hải quan ở địa phương được tổ chức

bao gồm:

- Các Cục hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc Tổng cục Hải quan (gọi chung là Cục Hải quan);

- Các Chi cục Hải quan, Đội kiểm soát Hải quan và đơn vị tương đương thuộc Cục Hải quan

 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan hải quan:

- Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng cục Hải quan được quy định tại Điều 2 của Quyết định số 02/2010/QĐ-TTg

- Nhiệm vụ và quyền hạn của các Cục Hải quan được quy định tại Điều 2 của Quyết định

số 1027/QĐ-BTC

- Nhiệm vụ và quyền hạn của các Chi cục Hải quan được quy định tại Điều 2 của Quyết định số 1169/QĐ-TCHQ

- Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các đơn vị hành chính, đơn vị

sự nghiệp trực thuộc Tổng cục Hải quan được thực hiện theo các quyết định do Bộ Tài Chính ban hành

2.1.2 Chế định về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan

2.1.2.1 Cơ sở pháp lý:

Luật Hải Quan (2001); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải Quan (2005); Nghị định số 154/2005/NĐ-CP; Thông tư số 194/2010/TT-BTC

2.1.2.2 Nội dung cơ bản của chế định:

- Nguyên tắc thực hiện thủ tục hải quan;

- Trình tự các bước, thời hạn thực hiện thủ tục hải quan;

- Địa điểm thực hiện thủ tục hải quan;

- Hồ sơ hải quan;

- Nghĩa vụ và quyền của người khai hải quan;

- Trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ, công chức hải quan

- Thủ tục hải quan

- Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu

- Xử lý khiếu nại về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến hàng hoá xuất, nhập khẩu

2.1.3 Chế định về trách nhiệm của hải quan trong việc phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới

2.1.3.1 Cơ sở pháp lý

Luật Hải Quan (2001); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải Quan (2005);

Trang 7

Nghị định số 107/2002/NĐ-CP; Thông tư 102/2005/TT-BTC

2.1.3.2 Nội dung cơ bản của chế định:

- Trách nhiệm, phạm vi hoạt động của hải quan trong công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới

- Thẩm quyền của hải quan trong việc áp dụng các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới

- Thẩm quyền của hải quan, công chức hải quan trong việc xử lý các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới

2.1.4 Chế định về tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu

2.1.4.1 Cơ sở pháp lý

Luật Hải quan (2001); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải Quan (2005); Luật Quản lý thuế (2006); Nghị định số 85/2007/NĐ-CP; Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu (2005); Nghị định số 87/2010/NĐ-CP: Luật thuế giá trị gia tăng (2008); Nghị định số 123/2008/NĐ-CP; Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (2008); Nghị định số 26/2009/NĐ-NĐ; Nghị định số 12/2006/NĐ-CP; Nghị định số 29/2008/NĐ-CP; Quyết định số 33/2009/QĐ-TTg

2.1.4.2 Nội dung cơ bản của chế định

- Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan khi kê khai, tính thuế, nộp thuế

- Trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan hải quan

2.1.5 Chế định về xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

2.1.5.1 Cơ sở pháp lý

Luật Hải quan năm (2001); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan năm (2005); Bộ luật Hình sự năm (1999); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm (2009); Luật xử lý vi phạm hành chính (2012); Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002; Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2007; Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh

xử lý vi phạm hành chính năm 2008; Nghị định số 128/2008/NĐ-CP; Nghị định số 97/2007/NĐ-CP; Nghị định số 18/2009/NĐ-97/2007/NĐ-CP; Thông tư số 193/2009/TT-BTC; Nghị định số 98/2007/NĐ-CP; Thông tư số 61/2007/TT-BTC; Nghị định số 97/2010/NĐ-98/2007/NĐ-CP; Thông tư số 37/2011/TT-BKHCN; Nghị định số 47/2009/NĐ-CP;…

2.1.5.2 Nội dung cơ bản của chế định

 Chủ thể vi phạm là cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trực tiếp tham gia hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

- Nguyên tắc xử lý

- Biện pháp xử lý

Theo Điều 6 Nghị định 97/2007/NĐ-CP, khi chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá, tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị áp dung một trong các hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà chủ thể vi phạm còn có thể bị áp dung một trong các hình phạt bổ sung sau: Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính Ngoài ra, cá nhân, tổ chức vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Buộc tiệu huỷ, tang vật vi phạm là văn hoá phẩm độc hại, hàng hoá gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng; Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hoá, phương tiện vi phạm tại cửa khẩu nhập; Buộc nộp lại số tiền bằng giá trị tang vật, phương tiện vi phạm đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu huỷ trái với quy định của pháp luật Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính đối với từng hành vi vi phạm cụ thể được quy định

Trang 8

chi tiết tại mục 2 Chương I Nghị định 97/2007/NĐ-CP

- Thẩm quyền xử phạt: được quy định tại Điều 28 Nghị định 97/2007/NĐ-CP

- Các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính

Trường hợp hành vi vi phạm nghiêm trọng, tuỳ theo hành vi và mức độ vi phạm, chủ thể

vi phạm có thể bị khởi tố và xử lý theo các quy định của Bộ luật Hình sự như: Tội buôn lậu (Điều 153); Tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 154);

 Chủ thể vi phạm là cơ quan hải quan, công chức hải quan:

Cán bộ, công chức hải quan có trách nhiệm gương mẫu chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan Mọi hành vi vi phạm, tuỳ theo mức độ mà có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Trường hợp có hành vi vi phạm mà gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì cơ quan hải quan phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật

2.2 Thực trạng văn bản pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

2.2.1 Đánh giá tổng quan về giá trị, hiệu quả của pháp luật hải quan điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

2.2.1.1 Đánh giá chung về hiệu quả của pháp luật hải quan

Về cơ bản, pháp luật hải quan đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thực hiện quyền tự

do kinh doanh trong hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại thông qua các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục hải quan Bên cạnh đó, Pháp luật hải quan cũng đóng vai trò tích cực vào việc khuyến khích, bảo hộ đầu tư kinh doanh

Pháp luật hải quan quy định thủ tục cho từng loại hình, rất dễ tiếp cận giúp doanh nghiệp lựa chọn hình thức kinh doanh xuất, nhập khẩu phù hợp với khả năng của doanh nghiệp

Pháp luật hải quan cũng đã góp phần đảm bảo được môi trường cạnh tranh bình đẳng thông qua cách thức quy định thủ tục hải quan như nhau cho từng loại hình xuất nhập khẩu, từ đó tác động tích cực và tạo điều kiện bình đẳng cho các doanh nghiệp

Về phía Nhà nước, pháp luật hải quan cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu quản lý của nhà nước trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu Giúp Nhà nước chỉ đạo hoạt động xuất, nhập khẩu phát triển theo đúng quỹ đạo, đồng thời hài hoà hoá các quy định trong nước với pháp luật và thông lệ quốc tế

Ngoài ra, Pháp luật hải quan cũng đã đề cao vị thế, vai trò của doanh nghiệp thông qua cơ chế quản lý hải quan trên cơ sở tự kê khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệpi

2.2.1.2 Đánh giá tính minh bạch

Luật hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc và tương đối đầy đủ cho việc thực hiện thủ tục hải quan và các quy định về quản lý hải quan Chính

sự đầy đủ, chi tiết này đã tạo được những tác động tích cực như: bảo đảm tính minh bạch của hệ thống pháp luật và trong thực thi thủ tục hành chính; hạn chế cơ chế xin - cho và góp phần hạn chế những điểm sơ hở, bất hợp lý để một số công chức hải quan biến chất nhũng nhiễu, gây khó khăn cho hoạt động thương mại

Tuy vậy, vẫn còn tồn tại một số nội dung chưa được quy định đầy đủ và cụ thể nên chưa có

cơ sở để áp dụng trong thực tiễn hoặc cách hiểu và áp dụng không thống nhất, như: phân định nghĩa

vụ của đại lý trước Nhà nước, quy định về các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, cơ chế phối hợp kiểm tra giữa các ngành, Một số quy định chưa rõ ràng, minh bạch dẫn đến quá trình áp dụng có nhiều cách hiểu khác nhau như: giá trị tờ khai hải quan, đối tượng miễn kiểm tra thực tế hàng hoá, chế độ thông quan đối với hàng hoá phải kiểm dịch,

Trang 9

2.2.1.3 Đánh giá tính thống nhất

Về cơ bản có thể đánh giá các quy định hiện hành của pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại đã tương đối phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về hải quan, hài hoà hoá thủ tục hải quan Việt Nam với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Các quy định về hải quan cơ bản đã thống nhất giữa Luật Hải quan với các luật liên quan, giữa Luật Hải quan với các văn bản quy định chi tiết thi hành; bảo đảm tương đối tính đồng bộ của hệ thống pháp Luật Hải quan

Mặc dù vậy, vẫn còn một số quy định của Luật Hải quan còn thiếu hoặc chưa thống nhất với quy định của các chuẩn mực quốc tế (Công ước Kyoto) Một số nội dung của Luật hải quan còn thiếu thống nhất với các Luật liên quan hoặc thiếu thống nhất giữa các điều trong Luật hải quan Một số quy định chưa thống nhất giữa Luật, Nghị định, Thông tư

2.2.1.4 Đánh giá tính hợp lý và khả thi

Tính hợp lý:

Pháp luật hải quan đã tạo cơ chế áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động kiểm tra hải quan, giảm thời gian thông quan hàng hoá và chi phí cho doanh nghiệp trong khi làm thủ tục hải quan; đưa ra cơ chế căn bản về quản lý hải quan trên cơ sở tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp Thủ tục hải quan đơn giản, tạo môi trường hoạt động xuất nhập khẩu bình đẳng giữa các doanh nghiệp, tạo sự thuận lợi và bình đẳng trước pháp luật giữa các chủ thể trong quan hệ pháp Luật Hải quan

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số mặt hạn chế như một số chuẩn mực quốc tế (Công ước Kyoto) tạo thuận lợi chưa được áp dụng hoặc áp dụng chưa đầy đủ Một số quy định chưa đầy

đủ hoặc thiếu thống nhất giữa văn bản cấp dưới với văn bản cấp cao hơn, quy định không hợp lý nên hạn chế quyền tự do hoặc chưa thực sự tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu

Tính khả thi:

Qua hơn mười năm triển khai thực hiện, với hiệu quả tích cực đạt được đã chứng minh Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành có tính khả thi cao Tuy vậy, vẫn còn tồn tại một số quy định về thủ tục thiếu khả thi, khó thực hiện trong thực tế như: thời hạn khai và làm thủ tục hải quan ngắn, không có cơ chế chấp nhận việc khai bổ sung sau khi đã thông quan đối với trường hợp không ảnh hưởng đến thuế và chính sách xuất nhập khẩu, quy định đưa hàng hoá đến địa điểm kiểm tra tập trung; quy định thời hạn nộp hồ sơ thanh khoản không phù hợp

2.2.2 Một số bất cập tồn tại cụ thể trong pháp luật hải quan về xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại

 Quy định về khai bổ sung hồ sơ khai thuế đối với hàng hoá xuất khẩu

- Điều 22 Luật Hải Quan quy định, đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, việc khai bổ sung hồ sơ khai thuế phải thực hiện trước thời điểm cơ quan hải quan kiểm tra thực tế hàng hoá hoặc quyết định miễn kiểm tra thực tế hàng hoá Và theo Điều 68 Luật Hải quan, trong thời hạn

6 tháng kể từ ngày đăng ký tờ khai, nếu phát hiện có sự nhầm lẫn trong việc kê khai, tính thuế, nộp thuế thì người khai hải quan có trách nhiệm phải báo cho cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hải quan để điều chỉnh số tiền thuế phải nộp Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 5 Điều 23 Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu thì thời hạn này chỉ là sáu mươi ngày

- Cũng liên quan đến vấn đề này, Điều 34 Luật Quản lý thuế quy định: Đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, việc khai bổ sung hồ sơ khai thuế được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

 Trước thời điểm cơ quan hải quan kiểm tra thực tế hàng hoá hoặc quyết định miễn kiểm tra thực tế hàng hoá, người khai hải quan phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp có sai sót;

 Người nộp thuế tự phát hiện những sai sót ảnh hưởng đến số thuế phải nộp trong thời

Trang 10

hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan nhưng trước khi cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế

Việc khống chế thời gian với trường hợp khai bổ sung hồ sơ khai thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu tại Luật quản lý thuế, Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu là chưa cô ng bằng với người nộp thuế so với các loại thuế khác Thời hạn khai bổ sung hồ sơ thuế đối với người nộp thuế có hoạt động kinh doanh hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu quá ngắn so với người nộp thuế có hoạt động kinh doanh hàng hóa sản xuất trong nước Quy định này chưa khuyến khích được người nộp thuế tự phát hiện những sai sót và khai bổ sung để thu đúng, thu đủ số tiền thuế phải nộp vào Ngân sách nhà nước Và có sự phân biệt giữa hàng hóa sản xuất nội địa với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

 Về thẩm quyền gia hạn nộp thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

Có sự không hợp lý giữa Luật quản lý thuế và pháp luật hải quan về thẩm quyền gia hạn nộp thuế đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu

Theo quy định Điều 50 Luật quản lý thuế thì thẩm quyền gia hạn nộp thuế là “Thủ trưởng cơ

quan quản lý thuế quản lý trực tiếp căn cứ hồ sơ gia hạn nộp thuế để quyết định số tiền thuế được gia hạn nộp, thời gian gia hạn nộp thuế”

Quy định thẩm quyền gia hạn nộp thuế tại Điều 50 Luật quản lý thuế chưa phù hợp với việc gia hạn nộp thuế đối với doanh nghiệp có hoạt động xuất, nhập khẩu Vì theo quy định của Luật Hải quan: DN có thể mở tờ khai xuất khẩu, nhập khẩu ở nhiều cửa khẩu nên việc gia hạn nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu có thể liên quan đến nhiều cơ quan hải quan Để thực hiện đơn giản hoá thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế khi gặp khó khăn, đề nghị cần phân cấp thẩm quyền việc gia hạn nộp thuế đối với hàng hóa xuất khẩu

 Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế, tại trụ sở của người nộp thuế

Theo quy định tại Điều 77 Luật Quản lý thuế thì không giới hạn thời gian kiểm tra Trong khi đó theo quy định tại Điều 32 của Luật Hải quan quy định thời hạn kiểm tra là 5 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai Hải quan Như vậy quy định về kiểm tra thuế ở hai luật này không thống nhất với nhau

 Sự thiếu thống nhất giữa luật hải quan và các luật chuyên ngành khác

Bên cạnh những nội dung trên, Luật Hải quan cũng còn một số vấn đề chưa thống nhất với các ngành Luật khác, như: Luật Hải quan với Luật Thương mại, Luật Hàng hải chưa có hướng dẫn về nội dung sửa chữa, bổ sung về vấn đề manifest Hiện tại Thông tư số 194/2010/TT-BTC bãi bỏ Điều 87 Thông tư 79/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính nhưng các văn bản hướng dẫn Luật Hàng hải chưa có hướng dẫn việc sửa chữa, bổ sung manifest (Về vấn đề này, hiện này chỉ có Quyết định số 19/2011/QĐ-TTg ngày 23-3-2011 về việc thí điểm thực hiện tiếp nhận bản khai hàng hóa, các chứng từ có liên quan và thông quan điện tử đối với tàu biển nhập cảnh, xuất cảnh, nhưng chỉ thí điểm triển khai tại 4 Chi cục Hải quan gồm: Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vũng Tàu, đối với các địa phương còn lại vẫn chưa có quy định) Một số nội dung (quy định đối với hàng gia công, hàng tạm nhập, tái xuất; tạm xuất, tái nhập; hàng quá cảnh; hàng tham dự hội chợ, triễn lãm ) trong Luật Thương mại và Luật Hải quan còn trùng lặp, phân tán Bên cạnh đó, việc áp dụng các biện pháp kiểm soát bảo hộ quyền

sở hữu trí tuệ (Luật Sở hữu trí tuệ) không thống nhất với quy định tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (Luật Hải quan) Tất cả những chồng chéo, mâu thuẫn này khiến cho việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập khẩu hàng hoá thương mại gặp nhiều trở ngại, vừa gây khó khăn cho

cơ quan thực thi, vừa khó cho chủ thể thực hiện xuất, nhập khẩu

Trong vấn đề phối hợp thực hiện pháp luật hải quan, mặc dù pháp luật hải quan cũng đã

Ngày đăng: 11/02/2014, 14:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w