1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN CHẤT 2020) giải pháp dạy bài toán nhiều hơn, ít hơn cho học sinh lớp 2 trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc

13 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 20,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên sáng kiến: lĩnh vực áp dụng; mô tả bản chất của sáng kiến; các thông tincần được bảo mật nếu có: - Tên sáng kiến: Giải pháp dạy bài toán nhiều hơn, ít hơn cho học sinh lớp 2 trên đ

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện Bình Xuyên.

1 Tác giả sáng kiến: Bùi Thị Xuân

- Đơn vị công tác (hoặc hộ khẩu thường trú): Trường tiểu học Phú Xuân Bình Xuyên – Vĩnh Phúc

- Chức danh; Phó hiệu trưởng

- Trình độ chuyên môn; Đại học

- Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến (ghi rõ đối với từng đồng tác giả, nếu có): 100%

2 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Bùi Thị Xuân

Trang 2

3 Tên sáng kiến: lĩnh vực áp dụng; mô tả bản chất của sáng kiến; các thông tin

cần được bảo mật (nếu có):

- Tên sáng kiến: Giải pháp dạy bài toán nhiều hơn, ít hơn cho học sinh

lớp 2 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

- Lĩnh vực áp dụng: Sáng kiến được áp dụng dạy cho học sinh tiểu học ở lớp

2 trong tất cả các trường tiểu học để giải quyết việc học sinh còn giải toán chưa

thành thạo về dạng nhiều hơn, ít hơn trong chương trình toán lớp 2 cũng như cả

bậc học ở tiểu học.

- Mô tả sáng kiến:

+ Về nội dung của sáng kiến:

Môn toán trong chương trình tiểu học là môn học chiếm vị trí quan trọng, ngoài việc cung cấp các kiến thức, kĩ năng tính toán cơ bản về toán học nó còn nhằm trang bị cho học sinh một hệ thống các kĩ năng, các phương pháp học toán Thông qua môn học rèn luyện cho học sinh phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề, phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập , linh hoạt sáng tạo Ngoài ra nó còn đóng góp không nhỏ trong việc hình thành các phẩm chất cần thiết của con người như: tính cần cù, cẩn thận, ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và có tác phong khoa học

Trong thự tế làm công tác giảng dạy trong nhiều năm học qua tôi nhận thấy kĩ năng làm tính, giải toán đặc biệt là giải toán có lời văn về dạng toán nhiều hơn, ít hơn của học sinh lớp 2 rất yếu Đặc biệt hơn nữa khi bài toán được nâng cao lên thì hầu như các em đều tính sai.Việc tính sai là do các em chưa hiểu rõ bản chất của bài toán Một phần các em không hiểu rõ bản chất của dạng toán là do thầy cô giáo chưa cho học sinh phân tích rõ dạng toán để học sinh nắm được bản chất mà dạy học sinh một cách máy móc: cứ bài toán có chữ nhiều hơn các em làm tính cộng, bài toán có chữ ít hơn các em làm tính trừ Cũng có thể thầy

cô không nói thế nhưng các em tự đúc rút từ một số bài toán các em thường gặp trong sách giáo khoa Việc

Trang 3

học như vậy các em sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi bài toán đã được năng cao lên Do vậy làm cho các em hiểu rõ bản chất của dạng toán thì dù bài toán có nâng cao lên hay ở mức bình thường thì hầu hết các em học sinh ở mọi trình độ đều nắm được cách giải bài toán một cách đúng nhất

Qua thực tiễn làm công tác giảng dạy dạng toán nhiều hơn, ít hơn ở lớp 2 tôi đã tư duy, nghiên cứu đưa

ra “Giải pháp dạy bài toán nhiều hơn, ít hơn cho học sinh lớp 2 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.” với

mong muốn nâng cao chất lượng dạy và học dạng toán nhiều hơn, ít hơn ở lớp 2

Trong chương trình sách giáo khoa, có rất nhiều các bài tập về dạng toán

nhiều hơn, ít hơn Có bài toán về ít hơn thì ta làm tính trừ, có bài toán về ít hơn

ta lại làm tính cộng Tương tự cũng với dạng toán nhiều hơn: có bài toán nhiều

hơn ta làm tính cộng, có bài toán nhiều hơn ta lại làm tính trừ Vậy làm thế nào

để giúp học sinh nắm bắt được phương pháp giải các bài toán dạng nhiều hơn, ít

hơn một các nhanh nhất Tôi đã vận dụng giải pháp sau:

Giải pháp: Xác định số lớn, số bé trong dạng toán nhiều hơn, ít hơn

Bước 1: Học sinh cần đọc kĩ đề bài

Khi cần giải một bài toán có lời văn nào chúng ta không thể bỏ qua việc đọc kĩ đề bài Vì khi đọc kĩ đề bài HS sẽ xác định được bài toán cho biết gì và bài toán hỏi ta cái gì Việc đọc đề toán tưởng chừng rất đơn giản nhưng nếu không hướng dẫn học sinh đọc rõ ràng, ngắt ý, câu cho đúng thì dẫn đến học sinh đọc nhưng không hiểu bài toán nói gì

Bước 2: Tóm tắt bài toán

Tóm tắt bài toán cũng là khâu quan trọng không thể bỏ qua, vì khi học sinh hiểu được nội dung yêu cầu của bài toán thì các em mới tóm tắt được nội dung bài toán Có hai cách tóm tắt nội dung bài toán là: tóm tắt bằng lời văn hoặc sơ đồ đoạn thẳng Tuy nhiên riêng về bài toán dạng nhiều hơn, ít hơn ta nên hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng để học sinh dễ nhận biết được bản chất của bài toán

Bước 3: Xác định số lớn, số bé trong bài toán

Trang 4

Đây là bước quan trọng cũng là mấu chốt để học sinh có cách giải đúng dạng toán này Sau khi tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng, các em nhìn vào sơ đồ sẽ dễ dàng nhận thấy: đoạn thẳng nào dài hơn thì

đó chính là số lớn, đoạn thẳng nào ngắn hơn thì đó chính là số bé Hay giáo viên cần cho học sinh biết rõ cái gì nhiều hơn ta gọi đó là số lớn, cái gì ít hơn ta gọi đó là số bé

Ví dụ 1: Lan có 12 bút chì, Minh có nhiều hơn Lan 5 bút chì Hỏi Minh có bao nhiêu cái bút chì?

GV hỏi: Lan có bao nhiêu bút chì?

HS: 12 cái bút chì

GV: Minh có nhiều hơn Lan mấy bút chì?

HS: Minh có nhiều hơn Lan 5 bút chì

GV: Minh có nhiều hơn Lan 5 bút chì Minh nhiều hơn Lan, vậy Minh sẽ có số bút chì là một số lớn Còn Lan sẽ có số bút chì là một số bé Bài toán hỏi gì?

HS: Bài toán hỏi Minh

GV: Vừa rồi ta xác định Minh là số lớn hay số bé?

HS: Minh là số lớn

GV: Vậy tìm số bút chì của Minh ta làm tính gì?

HS: Ta làm tính cộng

GV: Khi xác định được số lớn, số bé trong bài toán nhiều hơn, ít hơn Nếu bài toán yêu cầu đi tìm số lớn ta

sẽ làm tính cộng

Ví dụ 2: Bò có 13 con, bò nhiều hơn trâu 4 con Hỏi trâu có bao nhiêu con?

GV: Bò có bao nhiêu con?

HS: Bò có 13 con

GV: Bò có nhiều hơn trâu mấy con?

HS: Bò có nhiều hơn trâu 4 con

Trang 5

GV: Bò nhiều hơn trâu 4 con Vậy bò là số lớn hay số bé?

HS: Bò là số lớn

GV: Bò là số lớn, vậy trâu là số bé

Bài toán hỏi trâu hay bò?

HS: Bài toán hỏi số trâu

GV: Vậy tìm số trâu ta làm tính gì?

HS: tìm số trâu ta làm tính trừ

GV: Khi xác định được số lớn, số bé trong bài toán nhiều hơn, ít hơn Nếu bài toán yêu cầu đi tìm số bé ta

sẽ làm tính trừ

Qua hai bài toán trên rõ ràng chúng ta thấy vẫn là dạng toán nhiều hơn nhưng ở ví dụ 1 ta thực hiện tính cộng vì bài toán yêu cầu đi tìm số bút của Minh ( số bút chì của Minh chính là số lớn ) Còn ví dụ 2 ta thực hiện tính trừ vì bài toán yêu cầu đi tìm số trâu ( số con trâu chình là số bé) Qua hai ví dụ trên giáo viên giúp học sinh hiểu được Đối với bài toán về nhiều hơn, ít hơn ta cần đọc kĩ đề bài, tóm tắt được nội dung bài toán để xác định rõ đâu là số lớn, đâu là số bé (cái gì nhiều hơn là số lớn, còn cái gì ít hơn sẽ là số bé) Khi đó giáo viên sẽ nhấn mạnh cho học sinh biết nếu bài toán hỏi số lớn ta sẽ làm tính cộng, bài toán hỏi

số bé ta sẽ làm tính trừ Qua vận dụng làm nhiều bài toán học sinh chỉ cần đọc đề bài xong các em đã xác định ngay được số lớn, số bé trong bài toán nhiều hơn, ít hơn mà không cần phải tóm tắt mới nhận ra được

Sẽ rất nhanh gọn trong trường hợp các em làm bài thi trắc nghiệm chỉ cần yêu cầu ghi kết quả, các em chỉ mất rất ít thời gian đã tìm ra ngay cách tính để nhẩm kết quả

Ví dụ: Cam có 27 quả và ít hơn quýt 7 quả Hỏi quýt có bao nhiêu quả?

Học sinh đọc lên sẽ rễ ràng nhận thấy cam ít hơn quýt, vậy cam sẽ là số lớn, quýt sẽ là số bé Tìm quýt

là tìm số lớn vậy ta sẽ làm tính cộng: lấy 27 + 7 = 34 quả

Ngoài ra giáo viên cần nhấn mạnh để các em nắm thêm các thuật ngữ khác khi vận dụng giải bài toán dạng nhiều hơn, ít hơn vì không phải bài toán nào cũng cho rõ các thuật ngữ nhiều hơn, ít hơn mà các bài toán lại cho các thuật ngữ khác như: cao hơn, dài hơn; to hơn, nặng hơn học sinh phải hiểu ý nghĩa

Trang 6

của các từ đó chính là nhiều hơn Các thuật ngữ: ngắn hơn, thấp hơn, bé hơn, nhẹ hơn đó chính là ít

hơn.

Ví dụ:

a Nam cân nặng 35 kg, Minh nhẹ hơn Nam 5 kg Hỏi Minh nặng bao nhiêu ki-lô-gam?

b Đoạn dây thứ nhất dài 38 cm, đoạn dây thứ hai dài hơn đoạn dây thứ nhất 5 cm Hỏi đoạn dây thứ

hai dài bao nhiêu xăng - ti – mét ?

Bước 4: Trình bày bài giải

-Học sinh đi giải bài toán gồm có 3 bước

+Viết câu trả lời

+Viết phép tính

+Viết đáp số

Để cho câu trả lời của học sinh chính xác khi làm bài cần nhắc các em phải bám sát vào câu hỏi của bài toán để trả lời Còn phần phần danh số hay đơn vị tính học sinh cũng hay dễ nhầm lẫn giáo viên cũng phải lưu ý cho học sinh hiểu bài yêu cầu tìm gì thì danh số chính là cái phải tìm để tránh nhầm lẫn cho học sinh

Bước 5: Kiểm tra kết quả

Học sinh làm bài xong GV yêu cầu HS thử lại bằng cách lấy số lớn trừ đi số bé xem có ra kết quả là số của phần nhiều hơn hay ít hơn mà đề bài cho không

Ví dụ:

Bố 36 tuổi và nhiều hơn con 26 tuổi Hỏi con bao nhiêu tuổi?

Bài giải:

Con có số tuổi là:

36 – 26 = 10 ( tuổi)

Đáp số: 10 tuổi

Trang 7

Thử lại: Lấy tuổi bố trừ đi tuổi con tìm được xem có đúng với đề bài là bố hơn con 26 tuổi không Nếu đúng thì bài toán ta tìm được là đúng

36 – 10 = 26 ( tuổi)

Vậy 26 đúng bằng số tuổi bố hơn con của đề bài ra Vậy kết quả của bài toán là đúng

+ Về khả năng áp dụng của sáng kiến:

Sáng kiến đã được áp dụng tại nhà trường và đem lại hiệu quả rõ rệt Đa số

các em trong một lớp dạy đã nắm bắt tốt dạng toán nhiều hơn, ít hơn kể cả khi

đã được nâng cao hơn và các em làm tốt các bài về dạng toán nhiều hơn, ít hơn.

- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp trong đơn theo ý kiến của tác giả với các nội dung sau:

+ So sánh việc áp dụng sáng kiến trong đơn tôi viết và việc không áp dụng sáng kiến thì kết quả chênh lệch nhau là rất lớn.

Lớp mà tôi sử dụng giải pháp mới học sinh hiểu bài, làm rất tốt các dạng

bài tập dạng toán nhiều hơn, ít hơn ở tất cả các đối tượng học sinh.

Còn lớp không áp dụng phương pháp mới, học sinh lúng túng không nắm

bắt được phương pháp giải bài toán nhiều hơn, ít hơn khi đã được nâng cao.

So sánh chất lượng môn học khi chưa áp dụng sáng kiến và khi áp dụng thử

nghiệm sáng kiến với 69 học sinh.

Trang 8

sáng kiến

7-8 5-6 3-4 1-2

+ Số tiền làm lợi (nếu có thể tính được) và nêu cách tính cụ thể:

Số tiền làm lợi có thể lên đến hàng chục triệu đồng Vì khi tôi sử dụng giải pháp trên học sinh của tôi

hiểu bài, làm được bài không cần cha mẹ các em phải cho các em đến các trung tâm để học thêm và mất

tiền mua thêm sách tham khảo

Ví dụ: Mỗi tuần các em đi học 1 buổi/ tháng x 9 tháng = 9 buổi x 40.000 đồng = 360.000 đồng Cả lớp

30 em x 360.000 đồng = 10.800.000 đồng Chưa kể các em phải mua thêm sách tham khảo

+Mang lại lợi ích xã hội: nâng cao việc tính toán nhanh, vận dụng vào thực tế cuộc sống tốt Đặc biệt

giúp các em có hứng thú học tập tích cực và tạo một môi trường học tập thân thiện gần gũi

- Các thông tin cần được bảo mật (nếu có);

4 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến;

Nhà trường cần trang bị đầy đủ trang thiết bị dạy học để hỗ trợ cho giáo viên

giảng dạy, ngoài ra từng tiết học mà giáo viên chuẩn bị đồ dùng trực quan để

học sinh dễ nắm bắt được nội dung bài học Học sinh có đầy đủ đồ dùng học

tập, sách giáo khoa.

Trang 9

5 Về khả năng áp dụng của sáng kiến cho những đối tượng, cơ quan, tổ chức nào hoặc những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có);

Sáng kiến có khả năng áp dụng cho tất cả các trường tiểu học trong huyện,

trong tỉnh Vĩnh Phúc Đối tượng là các em học sinh lớp 2.

Tôi làm đơn nay trân trọng đề nghị Hội đồng sáng kiến xem xét và công

nhận sáng kiến Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực,

đúng sự thật, không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người khác và hoàn

toàn chịu trách nhiệm về thông tin đã nêu trong đơn.

Phú Xuân, ngày 30 tháng 01 năm 2020

NGƯỜI VIẾT ĐƠN

(Ký và ghi rõ họ tên)

Bùi Thị Xuân

Trang 10

BẢN NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ

VÀ ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện Bình Xuyên

Đơn vị công tác: Trường tiểu học Phú Xuân nhận được đơn đề nghị công

nhận sáng kiến của Ông (bà): Bùi Thị Xuân

Trang 11

- Đơn vị công tác (hoặc hộ khẩu thường trú): Trường tiểu học Phú

Xuân-Bình Xuyên – Vĩnh Phúc

- Chức danh; Phó hiệu trưởng

- Trình độ chuyên môn; Đại học sư phạm

- Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến (ghi rõ đối với từng đồng tác giả, nếu có): 100%

- Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến (nếu có): Bùi Thị Xuân

- Tên sáng kiến: Giải pháp dạy bài toán nhiều hơn, ít hơn cho học sinh lớp 2 trên địa bàn tỉnh

Vĩnh Phúc.

- Lĩnh vực áp dụng: Sáng kiến được áp dụng dạy cho học sinh tiểu học ở lớp 2 trong tất cả các trường tiểu học để giải quyết việc học sinh còn lúng túng trong

việc giải các bài toán về dạng nhiều hơn, ít hơn.

Sau khi nghiên cứu đơn đề nghị công nhận sáng kiến.

- Tôi tên là: Dương Thị Đức

- Chức vụ: Hiệu trưởng

Thay mặt Cho Trường tiểu học Phú Xuân nhận xét, đánh giá như sau:

1 Đối tượng được công nhận sáng kiến:

- Giải pháp: Học sinh nắm chắc hiểu rõ và làm tốt các dạng toán về nhiều

Trang 12

2 Nhận xét, đánh giá về nội dung sáng kiến: Nêu rõ quan điểm của cá nhân

theo các nội dung (bằng cách trả lời các câu hỏi sau đây):

a)Đảm bảo tính mới, tính sáng tạo vì:

-Không trùng với nội dung của giải pháp trong đơn đăng ký sáng kiến nộp trước;

-Chưa bị bộc lộ công khai trong các văn bản, sách báo, tài liệu kỹ thuật đến mức căn cứ vào đó có thể thực hiện ngay được;

-Không trùng với giải pháp của người khác đã được áp dụng hoặc áp dụng thử, hoặc đưa vào kế hoạch

áp dụng, phổ biến hoặc chuẩn bị các điều kiện để áp dụng, phổ biến;

-Chưa được quy định thành tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm bắt buộc phải thực hiện

b) Giải pháp có khả năng mang lại lợi ích thiết thực:

- Mang lại hiệu quả kinh tế:

Số tiền làm lợi có thể lên đến hàng chục triệu đồng Vì khi sử dụng giải pháp trên học sinh hiểu bài, làm được bài không cần cha mẹ các em phải cho các em đến các trung tâm để học thêm

Ví dụ: Mỗi tuần các em đi học 1 buổi/ tháng x 9 tháng = 9 buổi x 40.000 đồng = 360.000 đồng Cả lớp

30 em x 360.000 đồng = 10.800.000 đồng Chưa kể các em phải mua thêm sách tham khảo

-Mang lại lợi ích xã hội: nâng cao việc tính toán nhanh, vận dụng vào thực tế cuộc sống tốt Đặc biệt giúp các em có húng thú học tập tích cực và tạo một môi trường học tập thân thiện gần gũi

c)Về khả năng áp dụng của sáng kiến cho những đối tượng, cơ quan, tổ chức nào:

Sáng kiến có khả năng áp dụng cho tất cả các trường tiểu học đối tượng là các

em học sinh lớp 2.

3 Kiến nghị đề xuất:

Trang 13

Đề nghị Hội đồng sáng kiến huyện Bình Xuyên công nhận sáng kiến “Giải

pháp dạy bài toán nhiều hơn, ít hơn cho học sinh lớp 2 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”của đồng chí Bùi Thị Xuân.

Xin trân trọng cảm ơn./.

LÃNH ĐẠO CƠ QUAN, ĐƠN VỊ

(Ký ghi rõ họ và tên)

Ngày đăng: 29/03/2022, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w