1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức qua thực tiễn viện khoa học và công nghệ việt nam

17 543 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức qua thực tiễn viện khoa học và công nghệ việt nam
Tác giả Vũ Đức Anh
Người hướng dẫn TS. Trần Nho Thìn
Trường học Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 347,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một cán bộ làm việc tại Trung tâm Đào tạo, Tư vấn và Chuyển giao công nghệ thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, qua nghiên cứu, tìm hiểu, tôi nhận thấy hoạt động đào tạo, bồi dư

Trang 1

Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức - qua thực tiễn Viện Khoa học và Công nghệ

Việt nam

Vũ Đức Anh

Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 60 38 01 Người hướng dẫn: TS Trần Nho Thìn

Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Làm rõ một số vấn đề lý luận về công chức, viên chức và đào tạo, bồi

dưỡng công chức, viên chức Đánh giá đúng thực trạng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức qua thực tiễn tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động

đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Keywords: Công chức; Viên chức; Pháp luật Việt Nam

Content

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là một trong những nội dung của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 Tại thời điểm cuối của giai đoạn nhìn về chặng đường đã qua, có thể nói, công tác đào tạo, bồi dưỡng đã có những bước tiến rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Bên cạnh

đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng hiện nay vẫn còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế

Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức đóng góp vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ, năng lực thực thi công việc của công chức, viên chức đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hoàn thành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Hiện nay, trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức, càng khảo sát kỹ, đi sâu vào các lĩnh vực càng thấy bộc lộ rõ sự mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng Công việc cần giải quyết ngày càng nhiều, đa dạng và phức tạp hơn, căng thẳng hơn về áp lực thời gian

và chất lượng thực thi công vụ Trong khi đó, những gì được xem là năng lực của công chức, viên chức thường được tích lũy từ trải nghiệm của bản thân hơn là thu hoạch được qua đào tạo, bồi dưỡng (dù kinh phí, công sức đầu tư cho công tác mở các loại hình đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức hoàn toàn không phải là nhỏ)

Trang 2

Là một cán bộ làm việc tại Trung tâm Đào tạo, Tư vấn và Chuyển giao công nghệ thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, qua nghiên cứu, tìm hiểu, tôi nhận thấy hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức của cả nước nói chung và của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói riêng trong những năm qua, bên cạnh những thành tích

đã đạt được, cũng còn bộc lộ nhiều thiếu sót, khuyết điểm cần phải tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung về đối tượng, chương trình, nội dung, chế độ chính sách, cơ sở vật chất kỹ thuật, cả về cơ cấu đào tạo ở trong nước và nước ngoài; giải quyết mối quan hệ giữa đào tạo,

bồi dưỡng với sử dụng chính vì vậy tác giả chọn đề tài: “Đào tạo, bồi dưỡng công chức,

viên chức - qua thực tiễn Viện Khoa học và Công nghệ Việt nam” làm luận văn thạc sĩ là

xuất phát từ yêu cầu thực tế của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức và mong muốn góp một tiếng nói vào lĩnh vực quản lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức cho nơi tác giả đang làm việc là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức đã được một số bài viết, công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung, các bài viết, công trình đó cũng đã đưa ra một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cán bộ, công chức cũng như đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Tuy nhiên, các bài viết, công trình đó chỉ mới đề cập đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung, chưa

đi sâu nghiên cứu một cách chuyên biệt các vấn đề về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức trong lĩnh vực khoa học, công nghệ

Đề tài “Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức - qua thực tiễn Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam” là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu một cách chuyên biệt về về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, về những bất cập, hạn chế của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng từ thực tiễn tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam từ đó đưa ra một số các biện pháp cụ thể nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích nghiên cứu:

Trên sở sở đánh giá thực trạng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức hiện nay (qua thực tiễn ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), nhằm đề ra những giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức ở nước ta nói chung và ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói riêng

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về công chức, viên chức và đào tạo, bồi dưỡng công chức,

viên chức;

+ Đánh giá đúng thực trạng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức qua thực

tiễn tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói riêng;

+ Đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cơ bản nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt

Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức của cả nước

nói chung, nhưng chủ yếu qua thực tiễn ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Chủ yếu ở phạm vi Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, có

tham khảo kinh nghiệm của một số nước

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 3

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và công chức, viên chức của Đảng và Nhà nước ta

Trên cơ sở phương pháp luận trên, đề tài này sử dụng các phương pháp nhận thức khoa học cụ thể như: phương pháp trừu tượng khoa học; phương pháp so sánh; phương pháp tổng hợp, thống kê; phương pháp phân tích, đánh giá…

6 Những đóng góp và ý nghĩa của luận văn

Luận văn đã phân tích rõ được một số cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức trong lĩnh vực khoa học, công nghệ Đánh giá đúng thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Trên cơ

sở đó đề xuất các yêu cầu và một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức trong thời gian tới

Kết quả của luận văn giúp cho những nhà quản lý có thêm thông tin, vận dụng vào việc

tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhằm nâng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức đáp ứng

yêu cầu của xu thế nhập kinh tế quốc tế

7 Kết cấu của của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; Luận văn bao gồm 3

chương chính, cụ thể như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công chức, viên chức và đào tạo, bồi

dưỡng công chức, viên chức ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học và

Công nghệ Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp nhằm đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức,

viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Trang 4

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN

CHỨC Ở VIỆT NAM

Trong chương này, tác giả trình bày các khái niệm về công chức, viên chức theo quy định của Pháp luật Việt Nam, phân biệt công chức, viên chức qua một số tiêu chí cơ bản Nêu lên thực trạng về đội ngũ công chức, viên chức cũng như thực trạng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Việt Nam

1.1 Khái niệm về công chức, viên chức và đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức theo pháp luật Việt Nam

Ở mục này, tác giả đưa ra hai nội dung: khái niệm về công chức, viên chức và đào tạo, bôi dưỡng công chức theo Pháp luật Việt Nam

1.1.1 Khái niệm về công chức, viên chức

1.1.1.1 Khái niệm về công chức

Theo quy định tại Điều 4 - Khoản 2 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 “Công chức

là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của

pháp luật”

1.1.1.2 Khái niệm về viên chức

Theo quy định tại Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 “viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”

1.1.1.3 Phân biệt công chức, viên chức

Phần này, tác giả đưa ra một số tiêu chí để phân biệt công chức và viên chức, đó là:

Thứ nhất, về chức năng, quyền hạn; Thứ hai, về hình thức tuyển dụng; Thứ ba, về lương; Thứ

tư, về nơi làm việc

1.1.2 Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức và quan điểm của Đảng

và Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức

1.1.2.1 Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức

Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức là quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác nhau cho công chức, viên chức phù hợp với yêu cầu giải quyết có chất lượng công việc được các cơ quan nhà nước giao, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức thực hiện

Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức giữ vai trò bổ trợ, tăng cường kiến thức, kỹ năng để người công chức, viên chức có đủ năng lực đáp ứng hoạt động quản lý, điều hành

1.1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức

Trang 5

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng ta coi việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là việc làm thường xuyên, cần được ưu tiên trong sự nghiệp đổi mới theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Thực hiện chủ trương chung của Đảng, trong thời gian qua Chính phủ đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhằm đẩy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã được xác định

là một trong bảy nội dung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010; là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức và được coi là hoạt động có tác động trực tiếp đến các khâu khác của công tác cán bộ

1.2 Mục tiêu, nội dung đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức và những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức

1.2.1 Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức

1.2.1.1 Trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ

Để thực hiện tốt nhiệm vụ, công vụ của mình, bên cạnh những kiến thức về chuyên môn, công chức, viên chức cần phải có những kiến thức, kỹ năng và phương pháp thực hiện nhiệm vụ công vụ

Để đáp ứng mục tiêu trên, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức phải trang bị những kiến thức và kỹ năng cơ bản, bổ sung kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý nhằm xây dụng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ; trung thành với chế độ xã hội chủ nghĩa, tận tuỵ với công vụ; có trình độ, quản lý tốt, đáp ứng yêu cầu của việc kiện toàn và nâng cao hiệu quả của bộ máy Nhà nước; thực hiện chương trình cải cách nền hành chính Nhà nước

1.2.1.2 Xây dựng đội ngũ công chức, viên chức chuyên nghiệp có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại

Công cuộc đổi mới đất nước cùng tiến trình hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu to lớn và cấp bách về xây dựng đội ngũ công chức, viên chức có đủ phẩm chất và năng lực góp phần đáp ứng yêu cầu ngày càng cao sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ mới Đội ngũ công chức, viên chức nhà nước đóng vai trò trực tiếp và quan trọng tác động đến quá trình đổi mới Trong tiến trình hội nhập nền kinh tế, đòi hỏi đội ngũ công chức, viên chức nhà nước phải có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức vững vàng, sự tận tụy và khả năng giải quyết công việc nhanh nhạy

1.2.2 Nội dung đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức

Thứ nhất, đối với đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước: nội dung đào tạo, bồi dưỡng bao gồm: Đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị; Chuyên môn, nghiệp vụ; Kiến thức pháp luật; kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành; Tin học, ngoại ngữ, tiếng dân tộc

Thứ hai, đối với bồi dưỡng ở ngoài nước: Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng quản lý hành chính nhà nước và quản lý chuyên ngành và Kiến thức, kinh nghiệm hội nhập quốc tế

1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức

Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡng bao gồm: Một là, quản

lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức; Hai là, hệ thống đánh giá, báo cáo trong đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức; Ba là, chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức; Bốn là, giáo trình, tài liệu và đội ngũ giảng viên; Năm là, cơ sở vật chất và trang thiết bị; Sáu là, hợp tác quốc tế

Trang 6

1.3 Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Việt Nam

1.3.1 Đội ngũ công chức, viên chức và năng lực công chức, viên chức ở Việt Nam

Hiện nay, nước ta có khoảng 2.435.840 cán bộ, công chức, viên chức Trong đó có khoảng 635.840 cán bộ, công chức và khoảng 1.800.000 cán bộ, viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp

Phần lớn cán bộ, công chức, viên chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với

sự nghiệp Cách mạng Kiến thức, trình độ và năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từng bước trưởng thành về mọi mặt Bên cạnh những mặt mạnh, đội ngũ công chức, viên chức nhà nước còn bộc lộ những nhược điểm, đặc biệt là về năng lực và trình độ chuyên môn Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức nước ta chưa có điều kiện để rèn luyện những năng lực cần thiết, chưa được trang bị những phương pháp mới, và đặc biệt là về quản lý Nhà nước, về pháp luật, về kỹ thuật và nghiệp vụ hành chính để quản lý một cách

có hiệu quả trong xu thế hội nhập Một bộ phận thiếu tu dưỡng, rèn luyện học tập thường xuyên, phai nhạt lý tưởng, sa sút đạo đức cách mạng, cá nhân chủ nghĩa, quan liêu, tham nhũng, làm sói mòn lòng tin của dân, giảm hiệu lực quản lý, điều hành của bộ máy công quyền

1.3.2 Đặc thù của công chức, viên chức trong lĩnh vực hoạt động khoa học, công nghệ

Khác với công chức, viên chức hoạt động trong các đơn vị hành chính nói riêng và trong các cơ quan nhà nước nói chung; Công chức, viên chức hoạt động trong lĩnh vực khoa

học và công nghệ có những đặc điểm sau đây: Một là, lao động khoa học, công nghệ là lao động trí óc; Hai là, lao động khoa học, công nghệ là lao động có tính sáng tạo; Ba là, lao động khoa học, công nghệ là lao động mang tính mạo hiểm cao; Bốn là, lao động khoa học, công nghệ là lao động mang tính độc lập cá thể cao; Năm là, lao động khoa học, công nghệ là lao động mang tính kế thừa và tích luỹ; Sáu là, lao động khoa học, công nghệ luôn coi trọng

lý tưởng nghề nghiệp

Phân tích, tìm hiểu về đặc thù của công chức, viên chức lao động trong lĩnh vực này là nhiệm vụ quan trọng để từ đó có những kế hoạch đúng đắn về đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng

1.3.3 Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Việt Nam

Theo thống kê, trong giai đoạn 2001-2010, khoảng 4,8 triệu lượt cán bộ, công chức, viên chức đã được đào tạo, bồi dưỡng Trong các năm 2006-2008 đã cử 42.800 lượt công chức hành chính, lãnh đạo, quản lý và cử 27.180 chuyên gia đầu ngành, công chức nguồn đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài

Theo Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ, Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã bước đầu được đổi mới theo hướng phù hợp với các đối tượng đào tạo, bồi dưỡng Song song với quá trình này là sự đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng Việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tham gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã được chú trọng Đã có sự phân cấp cụ thể giữa các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Tuy nhiên, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng hiện nay vẫn còn nhiều bất cập Nội dung đào tạo bồi dưỡng vẫn nặng về hình thức tiêu chuẩn bằng cấp, chưa chú trọng đến bồi dưỡng nâng cao thực hành và không gắn với chức trách, nhiệm vụ của từng loại công chức Phương thức đào tạo chưa chú trọng khuyến khích tính tích cực của người học Năng lực, trình độ đội ngũ giảng viên không đồng đều, còn thiếu kiến thức thực tiễn, kỹ năng sư phạm hạn chế Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu giảng dạy

1.4 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Trang 7

1.4.1 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Slovenia

Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức như sau:

- Xây dựng khung pháp lý cho việc đào tạo, bồi dương, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức

- Chú trọng xây dựng cơ sở đào tạo, bồi dương và đội ngũ giảng viên

- Phân loại công chức, viên chức thành những nhóm đối tượng khác nhau

- Hợp tác với các nước để đào tạo đội ngũ giảng viên phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng như mời các giảng viên nước ngoài tham gia giảng dạy cho các khóa đào tạo, bồi dưỡng công chức

1.4.2 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Cộng hòa Pháp

Ở Cộng hoà Pháp phân cấp đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức được thực hiện một cách triệt để Phân loại, đánh giá chất lượng công chức, viên chức để đưa ra các quy định đào tạo, bồi dưỡng cụ thể Các ngành khác nhau có chế độ đào tạo, bồi dưỡng khác nhau

Các hình thức đào tạo công chức ở Pháp gồm có: Đào tạo ban đầu cho người mới được tuyển dụng; Đào tạo thi nâng ngạch; Đào tạo thường xuyên (trong đó công chức có thể chọn các loại đào tạo phù hợp với công tác, nguyện vọng của mình)

1.4.3 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Từ các kinh nghiệm của các nước kể trên, các bài học bổ ích rút ra là:

Thứ nhất, xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công

chức, viên chức Xác định rõ mục đích của việc đào tạo, bồi dưỡng

Thư hai, có sự phân loại công chức, viên chức thành các nhóm khác nhau từ đó đề ra

nội dung các khoá đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp với nhóm đối tượng

Thứ ba, chú trọng công tác xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo, bồi

dưỡng và phát triển đội ngũ giảng viên cho công tác đào tạo, bồi dưỡng

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao

trình độ của đội ngũ giảng viên phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng như trình độ của đội ngũ công chức, viên chức

Thứ năm, các đơn vị, cơ quan quản lý, sử dụng đội ngũ công chức, viên chức phải đầu

tư kinh phí để phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực làm việc của đội ngũ công chức, viên chức./

Trang 8

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC Ở VIỆN

KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

Trong chương này, tác giả trình bày về thực trạng đội ngũ công chức, viên chức cũng như hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Nêu lên những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế, tồn tại của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nêu lên những nguyên nhân của những kết quả và hạn chế, tồn tại

2.1 Đội ngũ công chức, viên chức của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

2.1.1 Khái quát chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính phủ; Tiền thân là Viện Khoa học Việt Nam được thành lập theo Nghị định 118/CP ngày 20/5/1975 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ)

Hiện tại, theo Nghị định số 62/2008/NĐ-CP ngày 12/5/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, chức năng chủ yếu của Viện là nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ theo các hướng trọng điểm của Nhà nước nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý khoa học, công nghệ và xây dựng chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao cho đất nước theo quy định của pháp luật

Về cơ cấu tổ chức, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam có 24 Viện nghiên cứu khoa học, 3 đơn vị sự nghiệp, 7 cơ quan giúp việc Chủ tịch Viện do Thủ tướng Chính phủ thành lập, 5 Viện nghiên cứu cấp cơ sở và nhiều đơn vị ứng dụng, triển khai công nghệ tại các địa phương, địa bàn kinh tế trọng điểm, cùng tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ theo 8 hướng trọng điểm của Nhà nước là:Công nghệ thông tin; Công nghệ sinh học; Khoa học vật liệu; Nghiên cứu biển, hải đảo và công trình biển; Sinh thái và Môi trường; Tài nguyên sinh học và các hợp chất thiên nhiên; Kỹ thuật điện tử, thiết bị khoa học

và tự động hoá; Dự báo phòng chống và giảm nhẹ thiên tai

2.1.2 Thực trạng đội ngũ công chức, viên chức của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam là cơ quan sự nghiệp khoa học và công nghệ hàng đầu của cả nước, trực thuộc Chính phủ Tính đến cuối năm 2010, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam là 2519 cán bộ, công chức, viên chức, trong đó có 217 giáo sư, phó giáo sư; 675 tiến sĩ, tiến sĩ khoa học và 610 thạc sỹ Ngoài

ra còn có gần 1200 cán bộ khoa học đang làm việc tại các đơn vị trực thuộc theo chế độ hợp đồng dài hạn

2.1.3 Đánh giá chung về năng lực công chức, viên chức của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

- Mặt mạnh: Một là, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam có đội ngũ công chức, viên

chức là các cán bộ khoa học, công nghệ rất đông đảo, được đào tạo chính quy tại nhiều trường

đại học trong và ngoài nước Hai là, Đảng và Nhà nước đã ưu tiên đầu tư cho đào tạo, hạ tầng

cơ sở, trang thiết bị kỹ thuật, thư viện, hệ thống phòng thí nghiệm, đặc biệt là các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia tạo điều kiện thuận lợi cho Viện Khoa học và Công nghệ Việt

Nam trở thành trung tâm đào tạo cán bộ khoa học, công nghệ có trình độ cao của đất nước Ba

là, nghiên cứu cơ bản vẫn luôn là một trong những thế mạnh của đội ngũ cán bộ khoa học,

Trang 9

công nghệ của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Bốn là, các cán bộ lãnh đạo, quản lý

các cấp của Viện Khoa học và Công nghệ đều trưởng thành và có nhiều kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn, đồng thời lại được trang bị tốt về kiến thức quản lý hành chính nhà nước

- Mặt hạn chế: Thứ nhất, sự hẫng hụt về đội ngũ công chức, viên chức là cán bộ khoa

học, công nghệ có trình độ cao, chưa đào tạo được đội ngũ công chức, viên chức trẻ kế cận,

đặc biệt là trong các hướng khoa học, công nghệ trọng điểm; Thứ hai, sự phân bố công chức,

viên chức có trình độ khoa học, công nghệ của Viện chưa thật hợp lý giữa các Viện nghiên

cứu chuyên ngành cả về hướng nghiên cứu và theo khu vực, lãnh thổ; Thứ ba, đội ngũ công chức, viên chức của Viện còn thiếu sự gắn bó và hợp tác trong hoạt động khoa học; Thứ tư,

một sô cán bộ khoa học, công nghệ chưa thực sự yên tâm công tác, chưa toàn tâm, toàn ý cống hiến cho sự nghiệp khoa học

2.2 Hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

2.2.1 Nội dung đào tạo, công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam:

Thứ nhất, đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị: Chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý

luận chính trị gồm có: bồi dưỡng các Nghị quyết của Đảng, đào tạo sơ cấp, trung cấp, cao cấp,

cử nhân chính trị

Thứ hai, đào tạo, bồi dưỡng về quản lý nhà nước: bồi dưỡng cập nhật kiến thức mới;

bồi dưỡng chương trình cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp; đào tạo trung cấp, đại học, sau đại học

Thứ ba, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp

Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng về ngoại ngữ, tin học, hội nhập kinh tế quốc tế và các kiến thức bổ trợ khác

2.2.2 Hình thức đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam:

Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam được thực hiện thông qua hai hình thức: Đào tạo trong nước và hợp tác quốc tế về đào tạo Đối với đào tạo trong nước: được thực hiện thông qua Ban Tổ chức – Cán bộ và Trung tâm Đào tạo, Tư vấn và Chuyển giao công nghệ

Đối với hoạt động hợp tác quốc tế: Hiện nay, Viện có quan hệ hợp tác nghiên cứu khoa học với nhiều nước trên thế giới Trong thời gian qua, Viện đã ký kết hàng trăm dự án, đề án hợp tác nghiên cứu khoa học với các cơ quan khoa học ở nước ngoài và các tổ chức khoa học quốc tế

2.2.3 Quy trình thực hiện và cơ chế tài chính về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

- Quy trình thực hiện hoạt động đào tạo, bồi dưỡng

Hàng năm, Ban Tổ chức – Cán bộ thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam tổng kết và lập báo cáo về tình hình đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức chung của Viện, từ

đó đưa ra kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức trong năm tới Dựa trên kế hoạch

đó, Trung tâm Đào tạo, Tư vấn và Chuyển giao công nghệ lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng

chi tiết về chương trình đào tạo, nội dung các lớp học; về thời gian và kinh phí đào tạo

- Cơ chế tài chính cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức

Hàng năm, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam được Bộ Nội vụ giao chỉ tiêu đào

tạo, bồi dưỡng là 150 suất đào tạo/năm với kinh phí là 3,6 triệu đồng/suất Từ năm 2006 kinh

phí tăng lên 4,5 triệu đồng/suất

Trang 10

Chỉ tiêu kinh phí hàng năm cấp cho đào tạo sau đại học còn thấp Trong 5 năm trở lại đây, kinh phí hàng năm dành cho đào tạo sau đại học khoảng hơn 2 tỷ Tỷ lệ trung bình cho

mỗi nghiên cứu sinh là 7 triệu/năm và mỗi học viên cao học là 5 triệu/năm

2.3 Đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học

và Công nghệ Việt Nam

2.3.1 Kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

- Về đào tạo công chức, viên chức: Theo thống kê của Ban Tổ chức - Cán bộ, từ năm

1986 đến nay, Viện đã đào tạo được 636 Tiến sỹ và 1216 Thạc sỹ Trong đó, 10 năm đầu (1986-1996) đã đào tạo được 173 Tiến sỹ, 21 Thạc sỹ; những năm trở lại đây (1997-2010) đã đào tạo được 463 Tiễn sỹ, 1195 Thạc sỹ

- Về bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Tổ chức được nhiều lớp bồi dưỡng lý luận chính trị (cao cấp, trung cấp); Tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng kiến thức kinh tế -

kỹ thuật ngạch nghiên cứu viên (nghiên cứu viên cao cấp, nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên); nhiều lớp bồi dưỡng kiến thức kinh tế - kỹ thuật ngạch chuyên viên (cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên); Mở các lớp bồi dưỡng về sở hữu trí tuệ, hội nhập kinh tế quốc tế đồng thời cử nhiều công chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài

2.3.2 Những hạn chế, yếu kém trong hoạt động đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam

Thứ nhất, sự gắn kết giữa công tác đào tạo, bồi dưỡng với việc quy hoạch, bố trí, sử dụng

công chức, viên chức thiếu chặt chẽ; cử đối tượng đi đào tạo, bồi dưỡng chưa chuẩn xác

Thứ hai, chưa xây dựng được hệ thống chương trình đào tạo bồi dưỡng toàn diện, phù

hợp với hệ thống tiêu chuẩn chức danh công chức, viên chức

Thứ ba, phương thức, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cũng như công tác quản lý đào tạo

bồi dưỡng và thực trạng đội ngũ, giảng viên, báo cáo viên chưa theo kịp quá trình đổi mới

Thứ tư, cơ chế tài chính phục vụ công tác đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức còn

những bất cập; việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp trang thiết bị phục vụ dạy và học còn thiếu đồng bộ

Thứ năm, công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá thi đua, thực hiện chế độ báo cáo còn nhiều

yếu kém

2.3.3 Nguyên nhân của những kết quả đã đạt được và những hạn chế, yếu kém trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ở Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam

Nguyên nhân của những thành tựu:

- Sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, chặt chẽ của Ban lãnh đạo Viện Khoa học

và Công nghệ Việt Nam cũng như sự phối hợp giữa các đơn vị trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng

- Công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức được quan tâm

- Ý thức, trách nhiệm cao của phần lớn công chức, viên chức phấn đấu học tập nâng cao trình độ, năng lực công tác

- Công sức đóng góp của đội ngũ giảng viên và báo cáo viên

Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại:

- Một số đơn vị và cá nhân chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc đào tạo, bồi dưỡng

- Thiếu cơ chế, chính sách đồng bộ gắn kết chặt chẽ trong đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật công chức;

Ngày đăng: 11/02/2014, 14:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w