1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ tỉnh thanh hóa lãnh đạo phát giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2010

19 513 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng Bộ Tỉnh Thanh Hóa Lãnh Đạo Phát Giáo Dục Phổ Thông Từ Năm 1996 Đến Năm 2010
Tác giả Lê Thị Yến
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Trọng Phúc
Trường học Trung Tâm Đào Tạo, Bồi Dưỡng Giảng Viên Lý Luận Chính Trị
Chuyên ngành Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 363,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục đào tạo, GDPT và đề ra các chủ trương, chính sách cũn

Trang 1

Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2010

Lê Thị Yến

Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Mã số: 60 22 56

Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc

Năm bảo vệ: 2012

Abstract Phân tích các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội,

những thuận lợi và khó khăn tác động đến việc thực hiện đường lối đổi mới sự nghiệp Giáo dục phổ thông ở tỉnh Thanh Hóa Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng

bộ tỉnh Thanh Hóa vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục đào tạo, GDPT và đề ra các chủ trương, chính sách cũng như chỉ đạo thực hiện phát triển Giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh từ năm 1996 đến năm 2010 Nêu những thành tựu cơ bản và những hạn chế trong quá trình Đảng bộ Thanh Hóa lãnh đạo phát triển Giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2010 Rút ra những kinh nghiệm thực tiễn trong lãnh đạo phát triển Giáo dục phổ thông ở địa phương

Keywords Lịch sử Đảng; Thanh Hóa; Đường lối lãnh đạo; Phát triển giáo dục

Content

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục phổ thông là nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta,

nó đặt những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người cũng là tiền đề cho học sinh tiếp tục học lên những bậc cao hơn như: trung cấp, cao đẳng, đại học, đi vào cuộc sống,…

Bước sang thế kỉ XXI, khoa học công nghệ tiếp tục phát triển như vũ bão và trở thành một yếu tố trực tiếp của lực lượng sản xuất Sự hội nhập kinh tế thế giới đòi hỏi trình độ ngày càng cao của các quốc gia.Nền kinh tế tri thức ra đời, hàm lượng trí tuệ kết tinh trong sản phẩm ngày càng tăng.Chính vì thế, Đảng ta đã sớm xác định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu và là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu.Tại Hội nghị TW2 khóa VIII (1996), Đảng ta đã đưa ra định hướng Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Tư tưởng này tiếp tục được nhấn mạnh và cụ thể hóa qua các Đại hội: IX, X, X

Nhận thức đúng đắn về đường lối đổi mới, đẩy mạnh phát triển giáo dục phổ thông thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã kịp thời đề ra những chủ trương, chính sách nhằm hiện thực hóa các chủ trương của Đảng

Trang 2

Nhờ vậy, trong những năm qua giáo dục phổ thông ở Thanh Hóa đã có những bước phát triển đáng kể, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Tuy nhiên, giáo dục phổ thông ở Thanh Hóa còn tồn tại không ít khó khăn, yếu kém

Việc tổng kết 15 năm Đảng bộ địa phương lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông, rút ra những kinh nghiệm cho thời gian tới và làm phong phú thêm kho tư liệu giảng dạy về lịch sử địa phương cũng là một việc làm cần thiết

Vì những lí do trên, tác giả đã chọn vấn đề: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo

phát triển giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2010 làm đề tài luận văn Th.s lịch

sử của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Giáo dục nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng là một nội dung quan trọng trong sự phát triển của đất nước Chính vì vậy, nó là đề tài quan tâm của nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, có thể nêu ra một số cuốn sách, công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài:

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo đến sự nghiệp “trồng người”.Người đã viết

cuốn "Bàn về công tác giáo dục", Nxb Sự thật, Hà Nội, 1972.Trong cuốn sách này

Người đã nêu bật vai trò cực kỳ quan trọng của công tác giáo dục, đặc biệt tác phẩm đã khái quát, phản ánh sự cần thiết của một nền giáo dục dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, Bác còn có nhiều bài viết, nhiều thư gửi các thầy cô giáo và các em học sinh để nói về giáo dục Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng đã có các tác

phẩm, bài viết về giáo dục - đào tạo như "Về vấn đề giáo dục - đào tạo" của đồng chí Phạm Văn Đồng - xuất bản 1999 của Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Bài "Phát triển

mạnh mẽ giáo dục - đào tạo phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước" của

đồng chí Đỗ Mười

Ngoài ra còn có các công trình định hướng về giáo dục - đào tạo như: "Giáo dục

Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI"1999 và "Nhân tố mới về giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa", 2002 của GS.TS Phạm Minh

Hạc chủ biên do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản Cuốn sách thứ nhất đã trình bày tính chất của nền giáo dục, nguyên lý, nội dung, hệ thống giáo dục nước ta, mối quan

hệ giữa giáo dục và phát triển nguồn lực Cuốn thứ hai đã nêu bật được những chuyển biến tích cực về chất lượng dạy và học Từ đó xuất hiện những nhân tố mới, những kinh nghiệm hay để góp phần thực hiện thắng lợi đường lối giáo dục và đào tạo của Đảng Còn có thể đề cập đến một số công trình nghiên cứu về giáo dục trên bình diện

chung có liên quan đến đề tài như: “Nhà trường phổ thông Việt Nam qua các thời kỳ

lịch sử”của Viện Khoa học giáo dục, 2001; “Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI;“Đổi mới nâng cao vai trò, trách nhiệm, đạo đức của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong xu thế Việt Nam hội nhập quốc tế” của nhiều tác giả,

Nxb Lao động, 2006;

Nghiên cứu về sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phương đối với giáo dục phổ

thông, có một số công trình như: Lý Trung Thành, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo

sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1997 đến năm 2005, Luận văn Th.s lịch sử,

Trang 3

ĐHQGHN; Trần Xuân Tĩnh, Đảng bộ Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo sự nghiệp Giáo dục

và Đào tạo những năm 1991 - 2000 Luận văn Th.s lịch sử, ĐHQGHN; Nguyễn Thị

Quế Liên: Đảng bộ Thái Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1986 đến

năm 2005” (Luận văn Th.S năm 2007)

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về quá trình Đảng bộ Thanh Hóa lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông của tỉnh trong những năm tiến hành đẩy

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy tác giả tập trung nghiên cứu đề tài: Đảng bộ

tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2010nhằm

góp phần bổ sung vào khoảng trống đó

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích:

- Nghiên cứu và làm sáng tỏ những chủ trương, chính sách và sự lãnh đạo của

Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về phát triển giáo dục phổ thông thời kì từ năm 1996 đến năm

2010, từ đó nêu lên những thành công và những kinh nghiệm

Nhiệm vụ:

- Phân tích thực trạng giáo dục phổ thông tỉnh Thanh Hóa, những thuận lợi và khó khăn tác động đến việc thực hiện đổi mới sự nghiệp giáo dục phổ thông ở tỉnh Thanh Hóa

- Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục đào đạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng và đề ra các chủ trương, chính sách cũng như chỉ đạo thực hiện phát triển giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh từ năm 1996 đến năm 2010

- Làm rõ những thành tựu cơ bản và những hạn chế trong quá trình Đảng bộ Thanh Hóa lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2010

- Nêu lên những kinh nghiệm thực tiễn trong lãnh đạo phát giáo dục phổ thông ở địa phương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng của luận văn là những chủ trương, chính sách chỉ đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2010 của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa

- Phạm vi ngiên cứu:

+Về nội dung: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về giáo dục phổ thông

+ Về không gian: Luận văn nghiên cứu chủ yếu ở địa bàn tỉnh Thanh Hóa

+ Về thời gian: Từ năm 1996 đến 2010

5 Phương pháp nghiên

Trên cơ sở quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí

Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh kết hợp với khảo sát

Trang 4

6 Đóng góp của luận văn

- Đóng góp về mặt khoa học: Hệ thống hóa được những chủ trương, chính sách

của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về việc thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông từ 1996 đến 2010.Từ những thành công và hạn chế tồn tại rút ra kinh nghiệm và chỉ ra phương hướng để tham khảo cho giai đoạn về sau

- Đóng góp về mặt tư liệu : Bổ sung thêm nguồn tài liệu về lịch sử địa phương

- Đóng góp về mặt phương pháp nghiên cứu: Góp phần vào việc sử dụng phương pháp

tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ lí luận, đường lối quan điểm của Đảng

7 Kết cấu dự kiến của luận văn

Ngoài phần mở đầu, tiểu kết, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn dự kiến gồm 3 chương6 tiết

NỘI DUNG Chương 1

SỰ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở TỈNH THANH HÓA TRONG NHỮNG NĂM 1996 – 2000

1.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH THANH HÓA VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TRƯỚC NĂM 1996

1.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lí: Thanh Hoá nằm ở cực Bắc Miền Trung Phía Bắc giáp với ba tỉnh

Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình; phía Nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào); phía Đông là Vịnh Bắc Bộ.Thanh Hoá có địa hình đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông, chia làm 3 vùng rõ rệt: Vùng núi và Trung du; vùng đồng bằng và ven biển

Thanh Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt Diện tích

tự nhiên của tỉnh 1.112.033 ha.Diện tích rừng lớn và là nơi quy tụ của nhiều sinh vật.Thanh Hoá có 102 km bờ biển và vùng lãnh hải Nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng;

1.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội

Năm 2010 Thanh Hoá có khoảng 3,5 triệu người Nguồn lao động của Thanh Hoá tương đối trẻ, có trình độ văn hoá khá

Thanh Hóa có một thành phố, hai thị xã và 24 huyện.Trên địa bàn tỉnh có 7 dân tộc anh em sinh sống, đó là: Kinh, Mường, Thái, H'mông, Dao, Thổ, Hoa

- Kinh tế: Kinh tế của tỉnh trong những năm gần đây liên tục tăng trưởng ở mức khá

cao, giai đoạn 2006- 2010 là 11,3%.GDP năm 2010 gấp 1,7 lần 2005 Nhờ vậy mà đời sống của nhân dân địa phương cũng không ngừng được nâng cao

1.1.3 Thực trạng GDPTở Thanh Hóa trước 1996

Nghị quyết đại hội hội đại biểu đảng bộ Thanh Hóa lần thứ IX nêu rõ: Giáo dục phải theo hướng vừa nâng cao chất lượng dạy và học, vừa có sự phát triển thích hợp; tích cực triển khai cải cách giáo dục

Trang 5

- Trong vòng 6 năm (1979 - 1985), Thanh Hóa thực hiện cải cách giáo dục ở tất cả các lớp cấp I Bốn năm sau đó (1986 - 1990), toàn tỉnh tiến hành tổng kết 5 năm thay sách cấp I (1986); chú trọng cải cách giáo dục theo hướng điều chỉnh, trọng tâm là tăng cường chất lượng lớp 1, cấp I, phổ cập giáo dục và xóa mù chữ Thời kỳ 1986 - 1991: tuy có nhiều hoạt động chất lượng nhưng do nhiều biến động xã hội nên nhìn chung số lượng phát triển các ngành học, cấp học đều giảm Suốt 4 năm tiếp theo (1991 - 1995), tình hình chính trị, xã hội trong nước đã có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển GD-ĐT Thanh Hóa; tạo ra thời kỳ phục hồi, lấy lại phong độ với tinh thần và quyết tâm mới, chuẩn bị đà và tư thế tích cực để đưa giáo dục đào tạo Thanh Hóa phát triển trong một thời cơ mới đầy thuận lợi

1.2 ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA (1996 - 2000)

1.2.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển giáo dục giáo dục

Chủ trương đẩy mạnh phát triển giáo dục của Đảng thể là rõ nhất trong Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII Nghị quyết đã đưa ra Định hướng chiến lược phát triển giáo dục phổ thông trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá với những nội dung cơ bản sau:

-Thứ nhất, đổi mới giáo dục phải giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa

- Thứ hai, phải thực sự coi giáo dục phổ thông, là quốc sách hàng đầu

- Thứ ba, giáo dục phổ thông là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân

- Thứ tư, phát triển giáo dục phổ thông gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh

- Thứ năm, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo

- Thứ sáu, giữ vai trò nòng cốt của nhà trường công lập đi đôi với đa dạng hoá các loại hình giáo dục phổ thông

1.2.2 Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa quán triệt quan điểm của Đảng và đề ra chủ trương phát triển giáo dục phổ thông

- Tỉnh ủy Thanh Hóa đã ban hành Chương trình hành động số 17 CT/TU Thực hiện Nghị quyết TW2 về giáo dục và đào tạo trong những năm 1997-2000

- Đại hội XIV đưa ra phương hướng: Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục đào tào phấn đấu đến 2005 hầu hết trẻ em dưới 5 tuổi hưởng chương trình giáo dục mầm non, hoàn thành xóa mù chữ và phổ cập tiểu học…nâng cao tỉ lệ lao động được đào tạo lên 20%

1.2.3 Quá trình thực hiện và kết quả

1.2.3.1 Nâng cao chất lượng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục về mọi măt

Hàng năm, ngân sách giáo dục đã giành ra 1,5 đến 2 tỉ đồng để đầu tư cho công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên Vì vậy tốc độ chuẩn hóa giáo viên được tăng nhanh Tính đến năm 2000, tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn ở bậc Tiểu học là 91%,

Trang 6

THCS là 85%, PTTH là 95,31% Khối PTTH vượt chỉ tiêu Bộ giáo dục 3% về đào tạo Thạc sĩ [71,tr.45]

Ngành giáo dục cũng đã có nhiều biện pháp khắc phục hiện tượng thiếu giáo viên Tại các địa phương, phong trào thi đua do ngành giáo dục phát động có tác dụng nâng cao chất lượng dạy và học Nhiều trường có những sáng kiến mới để tổ chức thực hiện kế hoạch một cách khoa học đạt kết quả tốt

Đời sống giáo viên cũng đã được các ngành, các cấp chú trọng quan tâm bằng cách hỗ trợ vật chất cũng như tinh thần để các giáo viên yên tâm công tác như: Giáo viên dạy lớp ghép hưởng 1,5 lần mức lương cơ bản; giáo viên công tác ở biên giới, miền núi, vùng sâu, vùng xa mà phục vụ lâu dài hưởng thêm 100% lương cơ bản…

1.2.3.2 Mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học

Mạng lưới trường lớp phổ thông được quy hoạch một cách đồng bộ, khoa học, phân bố khá đồng đều trên địa bàn các khu dân cư: “các xã, phường, thị trấn đã có hệ thống trường tiểu học và THCS Có 10/11 huyện miền núi có trường THCS dân tộc nội trú.Và 1 trường dân tộc nội trú cấp tỉnh” [84, tr.5]

Đẩy mạnh chủ trương phát triển và sắp xếp lại mạng lưới trường lớp, kết thúc năm học 1999 - 2000 toàn tỉnh đã có tới 685 trường tiểu học và chỉ còn 19 trường phổ thông cơ sở Số trường THCS cũng đã tăng lên con số 622 trường so với 360 trường năm 1995.[62, tr.32] “Năm 2000, toàn tỉnh có 125 truờng Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia, cao nhất là thị xã Bỉm Sơn với 5/8 trường, nhiều nhất là huyện Đông Sơn với 12/22 trường” [62, tr.39]

Đi liền với việc mở rộng mạng lưới trường lớp là sự chỉ đạo sát sao thực hiện công tác phổ cập giáo dục tiểu học theo đúng độ tuổi Nhờ đó nên số lượng các cấp không ngừng tăng lên: Năm 1996 có 985.294 học sinh đến năm 2000 có 1.103.376 học sinh.Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông trong việc đánh giá chất lượng dạy và học, công tác thanh tra thường diễn ra bất thường

Chất lượng Tiểu học từng bước ổn định và có nhiều chuyển biến tích cực.Công tác giảng dạy 2 buổi mỗi ngày cũng được coi là một trong những biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.Năm học 1999 - 2000 trong toàn tỉnh đã có 18 trường với

1954 học sinh học 2 buổi/ngày Các huyện có cơ sở giảng dạy 100 tuần và 120 tuần đã chuyển sang thực hiện chương trình 165 tuần Năm 1997 tỉ lệ này đã đạt đến 96,3% Tỉ

lệ học sinh lưu ban và bỏ học giảm xuống chỉ còn 1% [67, tr.68]

Một thành tựu nổi bật thể hiện chất lượng của giáo dục Thanh hóa là từ năm

1996 đến năm 2000 năm nào Thanh Hóa cũng có học sinh đoạt giải các cuộc thi cấp Quốc gia và Quốc tế: Năm 2000, 2 học sinh đoạt giải quốc tế môn Toán và môn Hóa; 2 học sinh đoạt giải khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; 57 học sinh đoạt giải Quốc gia;

1526 học sinh đoạt giải học sinh giỏi các môn văn hóa cấp tỉnh lớp 12 và 437 học sinh đoạt giải các môn văn hóa lớp 9.[84 tr.5] Số lượng học sinh thi đỗ vào các trường đại học tính đến năm 2000 là: 6317 người; cao đẳng và trung cấp là 1133 người [84, tr.15]

Trang 7

Công tác phổ cập giáo dục Với sự cố gắng của chính quyền địa phương, đến tháng 12/1997, Thanh Hóa được Bộ giáo dục công nhận: “ đạt phổ cập giáo dục tiểu học

và chống mù chữ” [67, tr.34]

Việc giảng dạy môn ngoại ngữ cũng được các nhà trường quan tâm, năm 2000

có 75% học sinh THPT được học môn ngoại ngữ

1.2.3.3.Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật cho GDPT

Ngân sách chi cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo chủ yếu là từ nguồn ngân sách nhà nước Ngoài ra còn có nguồn từ thu học phí, một số nguồn kinh phí khác như: Tài trợ của các tổ chức, tập thể, các chương trình dự án.Năm 1995, chi cho giáo dục là 175 tỉ đồng đồng chiếm 19,63% ngân sách đến năm 2000 mức chi đã tăng lên 367 tỉ đồng chiếm 40% ngân sách địa phương [71,tr.56].Tốc độ xây dựng phòng học kiên cố hóa cao tầng tăng nhanh: Năm 1996 tỉ lệ mới chỉ là 14% đến năm 2000 tỉ lệ này là 21,3% Nhờ vậy đến năm học 1999 - 2000, tỉnh có 72,4% tỉ lệ phòng học cấp 4, 26% tỉ lệ phòng học kiên

cố hóa cao tầng [70, tr.52]

Năm 2000, không còn hiện tượng “sốt sách”, thiếu sách giáo khoa như những năm trước 100% sách giáo khoa dự án tiểu học với 4,5 tỉ đồng đến với học sinh trước ngày khai giảng Mặc dù đã rất cố gắng xây dựng trường lớp, mua sắm trang thiết bị nhưng cơ sở vật chất của ngành vẫn còn khó khăn, thiếu thốn.Tỉ lệ phòng học trên đầu lớp vẫn rất thấp: Bậc Tiểu học là 0,59 phòng/lớp; bậc THCS là 0,7 phòng/lớp; bậc PTTH là 0,73 phòng/lớp

1.2.3.4 Tăng cường quản lí nhà nước về giáo dục phổ thôngvà đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục

1.2.3.4 Công tác quản lí nhà nước về giáo dục đào tạo

Công tác quản lí giáo dục đã được kiện toàn từ cấp trên xuống cấp cơ sở về tổ chức, ổn định về số lượng, nâng cao năng lực và nghiệp vụ chuyên môn.Cơ quan văn phòng Sở giáo dục và đào tạo đã lựa chọn những nhà giáo tiêu biểu về công tác ở đầu ngành

Công tác quản lí việc dạy thêm, học thêm trong các trường phổ thông được theo dõi sát sao hơn Ở thời gian này, Sở giáo dục cũng đã tăng cường các lực lượng thanh tra nhằm chấn chỉnh trật tự kỉ cương trong các trường học.Công tác quản lí thi cử cũng

đã được chú trọng đổi mới Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo quán triệt đổi mới thi cử và

cố gắng làm cho toàn xã hội đồng tình Công tác tham mưu cũng đặc biệt được chú trọng

Thực hiện Nghị quyết TW2 khóa VIII và triển khai nội dung Luật giáo dục, việc xác định duy trì nề nếp, kỉ cương tiếp tục được xác định là nội dung quan trọng của ngành Sở giáo dục và đào tạo đã ban hành nhiều văn bản quy định, hướng dẫn về quản

lí tài chính, quy chế chuyên môn, quản lí việc cấp phát bằng, quản lí việc dạy thêm của giáo viên

Xã hội hóa giáo dục là biện pháp nhằm huy động sức mạnh của toàn xã hội vào phát triển sự nghiệp giáo dục Chính vì thế Đảng bộ và ngành giáo dục luôn xem đây là nội dung quan trọng Trong giai đoạn từ 1996 đến 2000, hàng năm nhân dân đã đóng

Trang 8

góp từ 60- 70 tỷ đồng xây dựng trường học, góp phần quan trọng làm cho cơ sở vật chất trường học ngày càng khang trang và đàng hoàng hơn [62, tr.37]

Công tác này cũng đã tạo điều kiện đa dạng hóa các loại hình trường lớp ngoài công lập, củng cố vững chắc các trường công lập, tạo sự phát triển bình đẳng giữa các loại hình trường lớp.Năm 2000, số lớp và học sinh ngoài công lập đã chiếm 46% trên tổng số

Uỷ ban nhân dân tỉnh cũng đã ra Chỉ thị tổ chức Đại hội giáo dục và coi đây là một trong những biện pháp để thực hiện dân chủ hóa và xã hội hóa trong giáo dục Để tạo động lực học tập hơn nữa cho các em học sinh, công tác thành lập Hội khuyến học được xúc tiến nhanh và có hiệu quả từ tỉnh đến các huyện, xã.Hội khuyến học từ tỉnh đến các huyện, xã đã tổ chức Đại hội và bầu Ban chấp hành.Các huyện xã đã thành lập được quỹ khuyến học, quỹ phát triển giáo dục tại địa phương mình.Đến năm 2000, hệ thống Hội khuyến học đã phát triển khắp các huyện, trường học Hội đã cấp nhiều suất học bổng, phần quà cho học sinh nghèo học giỏi, học sinh nghèo vượt khó, con thương binh, liệt sĩ, các học sinh thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại học, học sinh đạt các giải học sinh giỏi cấp tỉnh, Quốc gia, Quốc tế

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, công tác xã hội hóa giáo dục đã được tổ chức và phát triển thành một phong trào rộng lớn trong quần chúng.Công tác này đã đóng góp rất lớn vào sự nghiệp giáo dục đào tạo của tỉnh

Tiểu kết

Nhờ tiếp thu và vận dụng tốt các chủ trương của Đảng về giáo dục đào tạo vào thực tiễn địa phương, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã đưa ra những quan điểm và có sự chỉ đạo chặt chẽ nên ngành giáo dục và đào tạo Thanh Hóa đã giành được nhiều kết quả lớn

Chương 2 ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở TỈNH THANH HÓA

(2001 - 2010)

2.1 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ TRONG 10 NĂM 2001-2010

2.1.1.Xu thế đổi mới GDPT trên thế giới, tình hình và nhiệm vụ của giáo dục Việt Nam trong thiên niên kỉ mới

Từ những thập kỉ cuối của thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại tiếp tục có bước nhảy vọt vượt bậc với sự bùng nổ thông tin cùng với sự ra đời và phát triển nền kinh tế tri thức.Điều này tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội của thế giới làm chuyển biến nhanh chóng, sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của mọi quốc gia

Thực tiễn thế giới cho thấy, các nước kinh tế phát triển nhảy vọt đều có tiền đề là nền giáo dục phát triển cao và giáo dục đã góp phần nâng cao trí tuệ, làm cho con người nắm bắt được những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ Tình hình đó thúc

Trang 9

đẩy tất cả các quốc gia đều nhận thức được giáo dục là nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước mình

Nhìn một cách khái quát, xu thế đổi mới chương trình GDPT của các quốc gia chủ yếu tập trung vào cải cách nội dung chương trình và sách giáo khoa và thường theo các

xu thế sau:Phổ cập THPT nhằm đào tạo những con người có năng lực đóng góp vào sự tiến bộ của xã hội vào phát triển kinh tế; Làm cho nền giáo dục thích ứng được những thay đổi của thời đại; Xây dựng một xã hội học tập suốt đời;

Trước thực tế và xu thế mới của thế giới, vấn đề đặt ra đối với nước ta là phát huy lợi thế so sánh, chủ động nắm bắt cơ hội, tạo khâu đột phá, đẩy nhanh sự phát triển Khi khoa học và công nghệ trở thành nền tảng, động lực của của quá trình CNH, HĐH thì

“nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn nhân lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH ” [32, tr.21]

2.1.2 Những quan điểm mới của Đảng về phát triển giáo dục GDPTqua các Đại hôi IX, X

Thứ nhất là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

Thứ hai, thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo

dục, đào tạo

Thứ ba, chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở Thứ tư, phát triển giáo dục từ mầm non, giáo dục phổ thông, hướng nghiệp và dạy

nghề

Thứ năm, bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên

Thứ sáu,thực hiện xã hội hoá giáo dục

Thứ bảy, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục

Thứ tám, phát triển kinh tế tri thức trên cơ sở phát triển giáo dục, đào tạo…

2.1.3 Đảng bộ tỉnh chỉ đạo phát triểnGDPTvà quá trình triển khai thực hiện

- Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV tiếp tục quán triệt Nghị quyêt TW2 khóa VIII

về giáo dục ,ổn định quy mô trường công lập, sắp xếp lại các trường chuyên nghiệp, phát động phong trào toàn dân xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật trường học đồng thời nâng cao hiệu quả quản lí giáo dục

- Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI nêu rõ: Hoàn thành vững chắc phổ cập THCS,thúc đẩy phổ cập THPT Đẩy mạnh xây dựng trường chuẩn Quốc gia.Phát triển hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp…

-Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI nhấn mạnh cần thực hiện tốt việc đổi mới nội dung, chương trình ở tất cả các cấp học Phấn đấu 2015 có 47,8% trường đạt chuẩn quốc gia Nâng cao chất lượng giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề…

2.2.KẾT QUẢ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

2.2.1 Tiếp tục mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học

Thứ nhất về mở rộng quy mô giáo dục

Trang 10

Cụ thể hóa chủ trương phát triển giáo dục của Đảng và Đảng bộ tỉnh, năm 2000 Uỷ

ban nhân dân tỉnh ra Đề án: Quy hoạch mạng lưới trường lớp giai đoạn 2001 - 2010 Thực

hiện đề án trên, hệ thống trường phổ thông trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển về quy mô và

dần hợp lí về cơ cấu ở các cấp học

Quy mô trường lớp mở rộng đã tạo điều kiện cho việc huy động học sinh đến trường.Tỉ lệ học sinh được huy động vào lớp 1 tăng mạnh qua các năm học Năm học

2009 - 2010 là 99,9% Các em 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học đạt 92,7%, từ 11 đến 14 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học đạt 92,7% Học sinh tốt nghiệp THCS, hầu hết được tuyển vào THPT hoặc bổ túc THPT

Giáo dục miền núi và dân tộc

Do đặc thù của 1 tỉnh có nhiều huyện miền núi với nhiều đồng bào dân tộc thiểu số nên công tác giáo dục tại khu vực này luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt Đến năm 2010, giáo dục miền núi Thanh Hóa có 501 trường, trong đó có 259 trường tiểu học; 206 trường THCS; 25 trường THPT; 11 trung tâm giáo dục thường xuyên - dạy nghề [80, tr.23]

Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia

Thực hiện, chủ trương của Đảng và Bộ giáo dục công tác xây dựng trường chuẩn Quốc gia trong 10 năm 2001 - 2010 tiếp tục phát triển, số lượng trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia ngày càng nhiều Năm 2006, toàn tỉnh có 346 trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia đến năm 2010 tăng lên 412 trường; số trường THCS tăng từ 53 trường năm 2006 lên 101 trường 2010; số trường THPT tăng từ 05 trường năm 2006 lên 09 trường 2010 Tổng số trường đạt chuẩn Quốc gia tăng từ 399 trường năm 2006 lên 658 trường năm 2010 [79, tr.15]

Thứ hai, nâng cao chất lượng giáo dục

Đối với bậc tiểu học.Ngành giáo dục thực hiện các chương trình như: thay sách

giáo khoa lớp 5 Năm học 2009- 2010, có 521 trường đã tổ chức học 2 buổi/ngày tăng

30 trường so với năm học 2008- 2009 Đối với những vùng khó khăn việc dạy buổi thứ 2không thêm kiến thức mà chủ yếu giúp các em đạt được chuẩn theo sách giáo khoa.Số

trường còn lại đều được học từ 6 đến 9 buổi trên /1 tuần.Số trường tiểu học dạy tin học và

ngoại ngữ tăng nhanh so với 2000 - 2001.Kết quả học tập loại giỏi, khá tăng dần, loại yếu, kém giảm, lưu ban và bỏ học giảm dần qua các năm

Bậc THCS và THPT đã tiếp tục rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình thay mới sách giáo khoa.Việc giảng dạy ở hai bậc này cũng đượchướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo khoa THCS, THPTđảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng.Đồng thời vận dụng phù hợp với sự phát triển tư duy và tâm sinh lí của học sinh từng vùng, từng miền

Cuộc vận động “hai không” sau 4 năm thực hiện cuộc vận động đã có sự chuyển

biến về nhận thức, hành động của các cấp quản lí giáo dục, các nhà trường, các học sinh

và các tầng lớp nhân dân Toàn ngành giáo dục đã nhận được sự quan tâm của các cấp

ủy Đảng và các tầng lớp nhân dân

Ngày đăng: 11/02/2014, 13:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w