1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Phân dạng và phương pháp giải một số dạng bài tập hóa học lớp 9

34 866 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân dạng và phương pháp giải một số dạng bài tập hóa học lớp 9
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 508 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó việc không biết giải các bài tập hóa học hoặcthường xuyên giải sai đã làm cho các em cảm thấy môn hóa là môn học khó, trở nênchán nản, không yêu thích môn học ảnh hưởng không

Trang 1

.PHÂN DẠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI MỘT SỐ DẠNG

BÀI TẬP HểA HỌC LỚP 9

I: PHẦN MỞ ĐẦU

I.1 ĐẶT VẤN Đấ̀

Để bồi dưỡng cho học sinh năng lực sỏng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, lýluận dạy học hiện đại khẳng định: Cần phải đưa học sinh vào vị trớ chủ thể hoạt độngnhận thức, học trong hoạt động HS bằng họat động tự lực, tớch cực của mỡnh màchiếm lĩnh kiến thức Quỏ trỡnh này được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ gúp phần hỡnhthành và phỏt triển cho học sinh năng lực tư duy sỏng tạo

Hoỏ học là bộ mụn khoa học quan trọng trong nhà trường phổ thụng Mụnhoỏ học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thụng, cơ bản và thiếtthực đầu tiờn về hoỏ học, giỏo viờn bộ mụn hoỏ học cần hỡnh thành ở cỏc em một

kỹ năng cơ bản, thúi quen học tập và làm việc khoa học làm nền tảng cho việc giỏodục xó hội chủ nghĩa, phỏt triển năng lực nhận thức, năng lực hành động Cú nhữngphẩm chất thiết như cẩn thận, kiờn trỡ, trung thực, tỉ mỉ, chớnh xỏc, yờu chõn lớ khoahọc, cú ý thức trỏch nhiệm với bản thõn, gia đỡnh, xó hội cú thể hoà hợp với mụi tr-ờng thiên nhiên.Việc nắm vững cỏc kiến thức cơ bản gúp phần nõng cao chất lượngđào tạo ở bậc phổ thụng, chuẩn bị cho học sinh tham gia cỏc hoạt đụng sản xuất vàcỏc hoạt động sau này

Trong mụn hoỏ học thỡ bài tập hoỏ học cú một vai trũ cực kỳ quan trọng nú lànguồn cung cấp kiến thức mới, vận dụng kiến thức lớ thuyết, giải thớch cỏc hiện tượngcỏc quỏ trỡnh hoỏ học, giỳp tớnh toỏn cỏc đại lượng: Khối lượng, thể tớch, số mol ,giỳp giỏo viờn kiểm tra đỏnh giỏ đợc kết quả học tập của học sinh, Từ đú phõn loạihọc sinh để cú kế hoạch sỏt với đối tượng Việc giải bài tập sẽ giỳp học sinh đượccủng cố kiến thức lớ thuyết đó được học, vận dụng linh hoạt kiến thức vào làm bài Đểgiải được bài tập đũi hỏi học sinh khụng chỉ nắm vững cỏc tớnh chất hoỏ học của cỏcđơn chất và hợp chất đó học, nắm vững cỏc cụng thức tớnh toỏn, biết cỏch tớnh theophương trỡnh húa học và cụng thức hoỏ học Đối với những bài tập đơn giản thỡ họcsinh thường đi theo mụ hỡnh đơn giản: Như viết phương trỡnh hoỏ học, dựa vào cỏcđại lượng bài ra để tớnh số mol của một chất sau đú theo phương trỡnh hoỏ học để tớnh

số mol của cỏc chất cũn lại từ đú tớnh được cỏc đại lượng theo yờu cầu của bài Nhưngđối với nhiều dạng bài tập thỡ nếu học sinh khụng nắm được bản chất của cỏc phảnứng, khụng phõn dạng được bài tập, khụng nắm được phương phỏp giải thỡ việc giảibài húa học của học sinh sẽ gặp rất nhiều khú khăn và thường là giải sai

Trang 2

Qua nghiên cứu bài tập Hoá học và trực tiếp giảng dạy bản thân tôi thấy hầu hếthọc sinh chưa biết phân dạng và chưa có phương pháp giải bài tập hóa học nên mỗikhi giáo viên đưa ra một dạng bài tập nào đó học sinh gặp rất nhiều khó khăn trongviệc xác định hướng giải Bên cạnh đó việc không biết giải các bài tập hóa học hoặcthường xuyên giải sai đã làm cho các em cảm thấy môn hóa là môn học khó, trở nênchán nản, không yêu thích môn học ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả Dạy - Học.

tòi phương pháp dạy học thích hợp, làm giảm đi những khó khăn của học sinh trongquá trình học tập môn hóa, gây hứng thú học tập và lòng yêu thích bộ môn, nhằm pháttriển tư duy lô gic giúp các em tích cực, tự lực, chủ động tìm tòi chiếm lĩnh tri thức,tạo tiền đề quan trọng cho việc phát triển tư duy của các em ở các cấp học cao hơn

góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo Nên tôi đã chọn đề tài: " Phân dạng và

phương pháp giải một số dạng bài tập hóa học lớp 9".

I.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Phân dạng được một số dạng bài tập hóa học và tìm ra được phương pháp giảicác dạng bài tập đó một cách dễ hiểu, phù hợp với từng đối tượng học sinh, giúp các

em giải tốt các dạng bài tập, từ đó có hứng thú với môn hóa học nhằm nâng cao chấtlượng giảng dạy bộ môn

Quá trình tìm hiểu, nghiên cứu sẽ giúp giáo viên nâng cao trình độ chuyên mônnghiệp vụ cho bản thân đồng thời tích luỹ thêm kinh nghiệm trong quá trình giảngdạy

I.3 THỜI GIAN – ĐỊA ĐIỂM

I.3.1 Thời gian:

- Một năm trong các giờ chính khóa, giờ ôn tập và tự rèn luyện ở nhà

I.3.2 Địa điểm:

- Trường THCS Thị Trấn Ba chẽ - Quảng Ninh

I.3.3 Phạm vi của đề tài:

I.3.3.1 Khách thể nghiên cứu: Học sinh khối 9 trường THCS Thị Trấn Ba chẽ

I.3.3.2 Đối tượng nghiên cứu: Bài tập hóa học lớp 9.

I.3.3.3 Địa bàn nghiên cứu: Trường THCS Thị Trấn ba chẽ

I.4 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MẶT LÍ LUẬN THỰC TIỄN.

I.4.1 Lí luận:

- Học sinh phân dạng được các dạng bài tập hóa học và có phương pháp giảicác dạng bài tập đó thì việc làm bài tập hóa học không còn là vấn đề khó khăn đối vớicác em nữa, các em sẽ tránh được những sai lầm trong khi giải bài, khi gặp bất kể một

Trang 3

bài toán hóa học nào các em cũng có thể làm được một cách dễ dàng, không ngầnngại, giáo viên cũng có nhiều thời gian hơn để đào sâu, mở rộng, nâng cao kiến thức,đưa ra được nhiều cách giải hay, cách giải nhanh giúp các em học tập tốt bộ môn từ

đó yêu thích và hứng thú với môn hóa học hơn, chất lượng dạy - học sẽ được nânglên

I.4.2 Thực tiễn:

Qua các giờ giảng dạy trên lớp, giờ phụ đạo học sinh yếu kém, bồi dưỡng họcsinh khá giỏi GV tổ chức, hướng dẫn học sinh phân dạng bài tập hóa học trongchương trình hóa học lớp 9 đồng thời hướng dẫn các em xây dựng phương pháp giảicho các dạng bài tập đó nhằm phát triển kỹ năng làm bài tập hóa học, giúp các em chủđộng giải quyết các bài tập hóa học một cách dễ dàng

II: PHẦN NỘI DUNG

II.1:CHƯƠNG1: CƠ SỞ LÍ LUẬN II.1 1.Lịch sử vấn đề nghiên cứu:

- Trong những năm gần đây SGK biên soạn theo hướng tích cực hóa hoạt độngcủa học sinh nên nội dung thường rất ngắn gọn và tương đối khó hiểu, dòi hỏi giáoviên phải nghiên cứu, tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp đặc biệt là việc phândạng và đề ra phương pháp giải các dạng bài tập hóa học, hiện nay khối lượng bài tậphóa học dành cho học sinh tự luyện ở nhà cũng tăng lên nhiều so với trước đặc biệt là

có đầy đủ các dạng bài tập để học sinh luyện tập tuy nhiên để học sinh tự phân dạng

và tự đưa ra phương pháp giải các dạng bài tập là một điều rất khó đối với các em

Ở chương trình THCS môn hóa học bắt đầu được học từ lớp 8, các em học sinhcũng mới được làm quen với các dạng bài tập hóa học đặc biệt là các dạng bài tập hóahọc lớp 9 mặc dù thời gian tiếp xúc với bộ môn là rất ngắn so với bộ môn Toán, văn

và một số bộ môn khác, tuy nhiên việc giải tốt các dạng bài tập hóa học lớp 9 sẽ tạonền móng vững chắc cho việc học hóa học của các em ở cấp THPT

Đã có nhiều chuyên đề bàn về bài tập hóa học nhưng sáng kiến kinh nghiệm về "

Phân dạng và phương pháp giải một số dạng bài tập hóa học lớp 9" ít được nghiên

cứu mặc dù trong quá trình dạy học giáo viên cũng đã đưa ra nhưng chưa có hệthống , còn rời rạc và chưa thường xuyên

- Qua quá trình giảng dạy tôi nhận thấy đa số các em học sinh không xác địnhđược dạng bài tập và chưa có phương pháp giải bài tập nên tôi mạnh dạn đi sâunghiên cứu chuyên đề này, để giúp học sinh tháo gỡ những khó khăn trong quá trìnhlàm bài tập hóa học Nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh và nâng caochất lượng trong giảng dạy

Trang 4

II.1.2 Cơ sở lý luận:

Bài toán hoá học được xếp trong giảng dạy là một trong hệ thống các phươngpháp quan trọng nhất, để nâng cao chất lượng giảng dạy và nó có những tác dụng rấtlớn

Làm cho học sinh hiểu sâu các khái niệm đã học: Học sinh có thể học thuộclòng các định nghĩa, khái niệm nhưng nếu không thông qua việc giải bài tập, học sinhchưa thể nào nắm vững được cái mà học sinh đã thuộc

Mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú và không làm nặng nềkhối lượng kiến thức của học sinh

Củng cố kiến thức cũ một cách thường xuyên và hệ thống hoá các kiến thứchoá học

Thúc đẩy thường xuyên sự rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, cần thiết về hoá học.Việc giải quyết các bài tập hoá học giúp học sinh tự rèn luyện các kỹ năng viếtphương trình hoá học, nhớ các ký hiệu hoá học nhớ các hoá trị của các nguyên tố, kỹnăng tính toán v.v

Tạo điều kiện để tư duy phát triển, khi giải một bài toán hoá học bắt buộc phảisuy lý, quy nạp, diễn dịch, loại suy

tính kiên nhẫn, trung thực trong lao động học tập, tính sáng tạo khi sử lý các vấn đềđặt ra Mặt khác rèn luyện cho học sinh tính chính xác của khoa học và nâng cao lòngyêu thích môn học

Phân dạng bài tập hóa học thực chất chính là việc lựa chọn, phân loại các bàitập có những đặc điểm tương tự nhau, cách giải giống nhau để xếp vào cùng mộtnhóm

Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích nhấtđịnh, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định do đó phương pháp giải bài tập hóa họccũng chính là cách thức, là con đường, phương tiện để giải các bài tạp hóa học

Trong giáo dục đại cương, bài tập được xếp trong hệ thống phương pháp dạyhọc, thí dụ phương pháp luyện tập Phương pháp này được coi là một trong nhữngphương pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Đây cũng làmột phương pháp học tập tích cực đối với học sinh Ở nhà trường THCS, giáo viênhóa học cần nắm vững các khả năng vận dụng bài tập hóa học, nhưng quan trọng hơn

là cần lưu ý tới việc sử dụng bài tập hóa học sao cho phù hợp, đúng mức nhằm nâng

co khả năng học tập của học sinh nhưng không làm quá tải hoặc nặng nề khối lượngkiến thức của học sinh Muốn làm được điều này, trước hết người giáo viên hóa họcphải nắm vững các tác dụng của bài tập hóa học, phân loại chúng và tìm ra phươnghướng chung để giải

Trang 5

II.2.CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN

II.2.1 Thực trạng của việc giải bài tập hóa học.

Khi được phân công giảng dạy môn hóa học khối lớp 9 tôi đã tiến hành khảosát chất lượng bộ môn và thu được kết quả như sau:

Từ kết quả của bảng trên cho thấy số lượng học sinh yếu kém bộ môn hóa học

ở khối lớp 9 còn rất cao chiếm tới 38.5% Qua điều tra và thực tế giảng dạy cho thấy

số học sinh này hầu như không biết làm bài tập, không có hứng thú trong học tập bộmôn, các em luôn cảm thấy sợ khi giáo viên giao bài tập cho làm tại lớp hoặc bài tập

về nhà

* Để nắm được học sinh có hứng thú với môn hóa hay không tôi đã tiến hànhlàm phiếu thăm dò 65 em học sinh khối 9 của trường THCS Thị Trấn

Câu hỏi:

1 Em có thích học môn Hoá không?

a, Có b, Bình thường c, Không thích

Trang 6

* Nhận xét: Qua kết quả điều tra cho thấy phần lớn các em học sinh thích học

môn hoá nhưng khi hỏi các em có phân dạng và xác định được hướng giải các bài tậphóa học không thì hầu hết các em trả lời là không và tất cả các em học sinh đều muốngiáo viên giúp các em phân dạng và xác định phương pháp giải Như vậy có nghĩa làtrong quá trình dạy học người giáo viên ngoài việc truyền thụ đủ kiến thức theo yêucầu của chương trình còn cần sáng tạo hơn trong việc truyền tải kiến thức đến họcsinh, cần có những phương pháp tích cực trong quá trình giảng dạy để đến được đíchcuối cùng là học sinh hiểu bài, làm được các bài tập có liên quan và vận dụng tốttrong học tập, lao động và trong cuộc sống

II.2 2 Nguyên nhân học sinh không phân dạng được bài tập và không xác đinh được hướng giải các bài tập

- Khả năng nhận thức, phân tích tổng hợp của học sinh còn hạn chế

- Nhiều học sinh chưa chủ động trong học tập, còn lười làm bài tập ở nhà

- Sách giáo khoa đã đưa dược ra các dạng bài tập hóa học áp dụng với tính chất

là để củng cố lại phần kiến thức đã học trong bài như củng cố tính chất hóa học củaôxit, axit, bazo, muối mà các dạng bài tập lại không nằm gọn trong một phần kiếnthức nào cả, có thể trong một phần kiến thức rất nhỏ cũng có rất nhiều dạng bài tập đểhọc sinh luyện tập, điều đó đòi hỏi học sinh phải tích cực, tự giác trong việc tự học ởnhà, làm đi làm lại nhiều lần để có kỹ năng từ đó mới phân dạng được bài tập và rút rađược phương pháp giải các dạng bài tập đó

- Thời gian trên lớp chỉ đủ cho giáo viên truyền thụ hết lượng kiến thức mới màchương trình yêu cầu hoặc chỉ giải được rất ít bài tập nên khó khăn cho việc phândạng và đưa ra phương pháp giải cho học sinh

Để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn tôi đã nghiên cứu, tìm tòi, đúc rútkinh nghiệm, tham khảo tài liệu, học hỏi đồng nghiệp, phân dạng được một số dạngbài tập hóa học đơn giản và xác định được phượng pháp giải các dạng bài tập đó

II.3 CHƯƠNG III: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

III.1 Đề xuất biện pháp giúp học sinh học tốt bộ môn hóa học

Trước những thực trang và nguyên nhân trên tôi mạnh dạn đưa ra một số biệnpháp giúp học sinh học tốt bộ môn nhằm nâng cao chất lượng dạy – học đó là:

- Học sinh phải có hứng thú học tập bộ môn

- Biết phân dạng các dạng bài tập hóa học

- Xác định được phương pháp giải các dạng bài tập đó muốn vậy không aikhác giáo viên phải nghiên cứu và đưa vào thực tế giảng dạy

III.2.: Một số dạng bài tập hóa học lớp 9 và phương pháp giải

Dạng 1: Hoàn thành sơ đồ phản ứng Dạng 2: Phương pháp giải bài tập nhận biết Dạng 3: Phương pháp giải bài tập tách biệt

Trang 7

Dạng 4: Bài toán hỗn hợp Dạng 5: Bài tập về lượng chất dư:

Dạng 6: Bài tập về ôxit axit tác dụng với bazo Dạng 7: Tìm công thức hóa học của hợp chất hữu cơ

Dạng 8: Bài tập về đốt cháy hiđrocacbon

III 3 Phương pháp giải các dạng bài tập:

Dạng 1: HOÀN THÀNH SƠ ĐỒ PHẢN ỨNG

Phương pháp: Nắm chắc kiến thức về tính chất hóa học của các chất vô

cơ ,mối quan hệ giữa các hợp chất, điều chế các hợp chất.

Ví dụ 1: Viết phương trình phản ứng hóa học theo sơ đồ chuyển hóa sau:

(4) FeCl3 + 3AgNO3 3AgCl + Fe(NO)3

(5) Fe(NO3)3 + 3NaOH Fe(OH)3 + 3NaNO3

Trang 8

Ví dụ 2: Có những chất sau: Na 2O, Na, NaOH, NaHCO3, Na2SO4,

Na2CO3,NaCl, NaClO

một sơ đồ chuyển hóa không nhánh

b) Viết phương trình hóa học theo sơ đồ trên

a) Sơ đồ chuyển hóa:

Na Na2O NaOH NaHCO3 Na2CO3 NaCl NaClO

Na2SO4 + BaCl2 BaSO4 + NaCl

NaCl + H2O điện phân dd NaClO + H2

Không mn

Ví dụ 3: Có những chất sau: Zn, Zn(OH)2, NaOH, Fe(OH)3, CuSO4, NaCl, HCl.Hãy chọn chất thích hợp điền vào mỗi sơ đồ phản ứng sau và lập phương trình hóahọc:

Trang 9

Phản ứng nhận biết phải là phản ứng đặc trưng: tức là phản ứng xảy ra: Nhanh,nhay, dễ thực hiện, phải có dấu hiệu, hiện tượng dễ quan sát ( kết tủa, hòa tan kết tủa,thay đổi màu sắc, sủi bọt khí, có mùi ).

3 Các kiểu câu hỏi nhận biết thường gặp:

Kiểu 1: Nhận biết với các chất (rắn, lỏng, khí) riêng biệt.

Với kiểu bài nhận biết này, nếu có n chất, ta cần nhận biết n - 1 chất, chất còn lại là chất thứ n VD: Bằng phương pháp hóa học, nhận biết 4 dung dịch đựng trong 4

lọ: NaCl, Na2CO3, NaNO3, Na2SO4

Kiểu 2: Nhận biết hóa chất trong cùng hỗn hợp

Trong trường hợp này với n chất ta phải nhận biết n chất trong cùng một hỗn

hợp VD: Làm thế nào để nhận biết được 3 axit HCl, HNO3, H2SO4 cùng tồn tại

trong một dung dịch loãng

4 Các dạng bài nhận biết trong mỗi kiểu:

Dạng 1: Nhận biết với thuốc thử không hạn chế.

VD: Bằng phương pháp hóa học, nhận biết các dung dịch sau: BaCl2, AgNO3,NaOH, H2SO4

Dạng 2: Nhận biết với thuốc thử hạn chế ( có thể thuốc thử cho sẵn hơcj phải

tìm) VD: Chỉ dùng nước có thể nhận biết 3 chất rắn: BaO, Al2O3, MgO đựng trong 3

lọ sau không? Nếu có hãy nhận biết

Dạng 3: Nhạn biết mà không dùng thuốc thử ngoài.

VD: Không sử dụng thuốc thư ngoài, nhận biết 5 dung dịch sau:HCl, Na2CO3,BaCl2, Na2SO4, NaCl

5 Cách trình bày một bài nhận biết (gồm 4 bước chính).

Cách 1: Dùng phương pháp mô tả.

- Bước 1: Trích mẫu thử( Thường là lấy ra mỗi chất một ít làm mẫu thử)

- Bước 2: Chọn thuốc thử ( tùy thuộc vào yêu cầu đề bài: Thuốc thử không hạnchế, ạn chế hoặc không dùng thuốc thử ngoài)

- Bước 3: Cho thuốc thử vào mẫu thử, trình bày hiện tượng quan sát được từ đótìm ra hóa chất cần nhận biết

- Bước 4: Viết tất cả các phương trình phản ứng xảy ra

Trang 10

Quy ước: (-): Không có dấu hiệu gì xảy ra( mặc dù có thể có phản ứng), (///)

Na2SO4 + BaCl2 BaSO4 + 2NaCl

Mẫu thử nào tạo kết tủa trắng là NaCl:

NaCl + AgNO3 AgCl + NaNO3

Ví dụ 2: Chỉ dùng nước và khí cacbonnic có thể phân biệt 5 chất bột trắng sau

nhận biết

Bài giải:

Ta có sơ đồ nhận biết:

Dd (1)

Phương trình hóa học:

CO2 + H2O + BaCO3 Ba( HCO3)2

Ba( HCO3)2 + Na2CO3 BaCO3 + 2NaHCO3

Ba( HCO3)2 + Na2SO4 BaSO4 + 2NaHCO3

- Dung dich không tạo hiện tượng gì là NaCl

Trang 11

- Dung dịch tạo CO2 với một dung dịch khác là dung dịch HCl.

- Dung dịch tạo kết tủa trắng với một dung dịch khác là Na2SO4

- Dung dịch tạo kết tủa trắng với hai dung dịch khác là Ba(NO3)2

- Dung dịch vừa tạo CO2 vừa tạo kết tủa trắng với hi dung dịch khác là K2CO3

Dạng 3: PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP TÁCH BIỆT

Phương pháp:

1 Nội dung:

Có hỗn hợp nhiều chất trộn lẫn với nhau dùng phản ứng hó học kết hợp với sựtách, chiết, đun sôi, cô cạn, để tách một chất ra khỏi hỗn hợp hay tách các chất ra khỏinhau

2 Các dạng toán tách riêng

a) Tách một chất ra khỏi hỗn hợp.

Dạng toán này chỉ cần tách riêng một chất ra khỏi hỗn hợp, loại bỏ các chấtkhác, ta có một trong hai cách giải sau:

* Cách 1: Dùng hóa chất phản ứng tác dụng lên các chất cần loại bỏ, còn chất

được tách riêng không tác dụng sau phản ứng được tách ra dễ dàng

Ví dụ 1: Có hỗn hợp Cu, zn, Fe Hãy Cu ra khỏi hỗn hợp.

2Al + 2NaOH +2H2O 2NaAlO2 + 3H2

Ví dụ 3: Có hỗn hợp khí CO2 và O2 làm thế nào có thể thu được khí O2 ừ hỗnhợp trên? Trình bày cách làm và viết phương trình hóa học

Bài giải:

theo phản ứng:

CO2 + Ca(OH)2 CaCO3 + H2O

Cách 2: Dùng hóa chất tác dụng với chất cần muốn tách riêng tạo ra sản phẩm

mới, sản phẩm dễ tách khỏi hỗn hợp và dễ tái tạo lại chất ban đầu

Trang 12

Ví dụ: Cĩ hỗn hợp ba muối rắn BaCl2, KCl, NaCl Hỹ tách riêng BaCl2 khỏihỗn hợp.

Bài giải:

BaCl2 + Na2CO3 BaCO3 + 2NaCl

* Đặt ẩn ( a,b …) cho số mol của mỗi chất trong hỗn hợp

* Viết PTHH tính theo PTHH với các ẩn

* Lập các phương trình tốn liên lạc giữa các ẩn và các dữ kiện

* Giải phương trình tìm ẩn

* Hồn thành yêu cầu của đề

3) Dạng 3: Hỡn hợp chứa mợt chất có CTHH trùng sản phẩm của chất kia.

* Tổng quát :

(

mới sinh) (ban đầu )

4) Mợt số điểm cần lưu ý khi giải toán hỡn hợp:

* Nếu hỗn hợp được chia phần cĩ tỉ lệ ( gấp đơi, bằng nhau … ) thì đặt ẩn x,y …cho số mol từng chất trong mỗi phần

* Nếu hỗn hợp được chia phần khơng cĩ quan hệ thì đặt ẩn (x,y,z …)cho số mol

mỗi chất ở một phần và giả sử số mol ở phần này gấp k lần số mol ở phần kia.

Trang 13

Ví dụ 1: Hòa tan 20 g hỗn hợp 2 ôxit CuO và Fe2O3 cần vừa đủ 200ml dung dịchHCl 3.5M

a, Viết phương trình phản ứng xảy ra, tính thành phần % theo khối lượng của mỗi ôxittrong hỗn hợp

b, Tính khối lượng muối sinh ra sau phản ứng

Ví dụ 2: Cho 10.5 gam hỗn hợp 2 kim loại Cu, Zn vào dung dịch H2SO4 loàng

dư người ta thu được 2.24 lit khí (đktc)

a) Viết phương trình hóa học

b) Tính khối lượng chất rắn còn lại sau phản ứng

Trang 14

Phương pháp:

Nếu bài toán cho biết lượng của cả hai chất phản ứng và yêu cầu tính lượng chấtmới sinh ra Trong số 2 chất phản ứng sẽ có một chất phản ứng hết, chất kia có thểphản ứng hết hoặc dư Lượng chất mới sinh ra tính theo lượng chất nào phản ứng hết,

do đó phải tìm xem trong 2 chất cho biêt, chất nào phản ứng hết

Ví dụ phương trình: A + B C + D

Cách giải: Lập tỉ số:

Số mol chất A( theo đề bài) Số mol chất B( theo đề bài)

Số mol chất A (theo phương trình) Số mol chất A (theo phương trình)

So sánh 2 tỉ số, tỉ số nào lớn hơn, chất đố dư, chất kia phản ứng hết Tính toán(theo yêu cầu của đề bài) theo chất phản ứng hết

Ví dụ 1: Cho 50 gam dung dịch NaOH tcs dụng với 36.5 gam dung dịch HCl Tính

khối lượng muối tạo thành sau phản ứng

Bài giải:

nNaOH = 5040= 1.25 mol; nNaOH = 36.536.5 = 1 mol

Phương trình phản ứng: NaOH + HCl NaCl + H2O

Theo phương trình: 1 mol 1 mol

Theo dầu bài: 1.25 1 mol 1 mol

Lập tỉ số: 1.25

1 >

1

1=> nNaOH dư Phản ưng: 1 mol 1 mol 1 mol

nNaCl theo nHCl ( nghĩa là tính mNaCl theo mHCl)

nNaCl theo nHCl = 1 x 58.5 = 58.5(g)

Ví dụ 2 Trộn một dung dịch có hòa tan 0,2mol FeCl2 với một dung dịch có hòatan 20g NaOH Lọc hỗn hợp các chất sau phản ứng được kết tủa và nước lọc Nungkết tủa đến khối lượng không đổi

a) Viết các phương trình hóa học xảy ra?

b) Tính khối lượng chất rắn sau khi nung?

c) Tính khối lượng các chất tan trong dung dịch lọc?

Bài giải:

a) FeCl2 + 2NaOH  Fe(OH)2 + 2NaCl (1)

Fe(OH)2  FeO + H2O (2)

Trang 15

b) nFeCl2 = 0.2(mol); nNaOH = 20

0.5

FeCl2 + 2NaOH  Fe(OH)2 + 2NaCl

Theo §B: 1 mol 2 molTheo PT: 0.2mol 0.5 molXÐt tØ lÖ: 0.2

1 <

0.5

Theo PTPU (1) vµ (2) chÊt r¾n sau khi nung lµ FeO

nFeO = nFe(OH)2= nFeCl2=0.2 mol

Dạng 6: BÀI TẬP VỀ ÔXITAXIT TÁC DỤNG VỚI BAZO:

1- Khi cho oxit axit(CO 2 ,SO 2 )vào dung dịch kiềm hoá trị I( NaOH, KOH ) có các trường hợp sau xảy ra:

* Trường hợp 1:

n(CO2 , SO2 ) < n( NaOH, KOH)

Phương trình:

CO2 + 2NaOHdư  Na2CO3 + H2O

SO2 + 2KOHdư  K2SO3 + H2O

* Trường hợp 2:

được là muối axit duy nhất

Tức là:

n( CO2, SO2 ) > n ( NaOH, KOH )Phương trình:

Trang 16

Nếu biết thể tích hoặc khối lượng của oxit axit và dung dịch kiềm thì trước hết

ta phải tính số mol của cả 2 chất tham gia rồi lập tỉ số

a, Nếu:

n n

2 2

(NaOH,KOH) (CO ,SO ) ≤ 1 Kết luận: Sản phẩm tạo ra muối axit và CO2 hoặc SO2 còn dư

2 2

(NaOH,KOH) (CO ,SO ) ≥ 2 ( không quá 2,5 lần) Kết luận:Sản phẩm tạo ra muối trung hoà do nNaOH, nKOH dư

2 2

(NaOH,KOH) (CO ,SO ) < 2KÕt luËn :S¶n phÈm t¹o ra lµ hçn hîp hai muèi:Muèi axit vµ muèi trung hoµ Phương trình phản ứng

CO2 + 2NaOH  Na2CO3 + H2O

Hoặc cách viết:

CO2 + 2NaOH  Na2CO3 + H2O

CO2 + Na2CO3 + H2O  2NaHCO3 (II) Hoặc:

CO2 + NaOH  NaHCO3

NaHCO3 + NaOH  Na2CO3 + H2O (III)

Nhận xét :

- Trong cách viết phản ứng (II) ta viết phản ứng tạo thành Na2CO3 trước, sau đó

dư CO2 mới tạo thành muối axit

đó phải tạo thành muối trung hoà trước

- Cách viết (I) và (III) nếu như giải bài tập sẽ vẫn ra cùng kết quả như cách viết

dịch trong suốt

CO2 + Ca(OH)2  CaCO3 + H2OCaCO3 + CO2 + H2O  Ca(HCO3)2 tanCách viết (I) chỉ được dùng khi khẳng định tạo thành hỗn hợp hai muối, nghĩa là :

Trang 17

nCO2 < nNaOH < 2 nCO2 Hay:

1 <

n n

2 2

(NaOH,KOH) (CO ,SO ) < 2

Ví Dụ: Dẫn khí CO2 điều chế được bằng cách cho 100 g đá vôi tác dụng vớidung dịch HCl dư, đi qua dung dịch chứa 60 g NaOH.Tính khối lượng muối tạothành:

CO

NaOH

= 1,5 < 2 Kết luận:Sản phẩm tạo ra 2 muối ta có phương trình phản ứng.

*Cách 1:

CO2 + NaOH  NaHCO3 ( 2 )NaHCO3 + NaOH  Na2CO3 + H2O (3)Theo (2)

nNaOH = nNaHCO3 = nCO2 = 1 mol

Theo (3) nNaOH dư = nNaHCO3 = nNa2CO3 = 0,5 (mol)

Sau khi tính số mol lập tỉ số khẳng định sản phẩm tạo ra hai muối:

Ta có thể viết phương trình theo cách sau:

Phương trình phản ứng:

2NaOH + CO2  Na2CO3 + H2O (4)

CO2 + NaOH  NaHCO3 ( 5 )

Ngày đăng: 10/02/2014, 22:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

a, Có b, Bỡnh thường c, Khụng thích - Phân dạng và phương pháp giải một số dạng bài tập hóa học lớp 9
a Có b, Bỡnh thường c, Khụng thích (Trang 5)
Từ kết quả của bảng trờn cho thấy số lượng học sinh yếu kộm bộ mụn húa học ở khối lớp 9 cũn rất cao chiếm tới 38.5% - Phân dạng và phương pháp giải một số dạng bài tập hóa học lớp 9
k ết quả của bảng trờn cho thấy số lượng học sinh yếu kộm bộ mụn húa học ở khối lớp 9 cũn rất cao chiếm tới 38.5% (Trang 5)
Từ bảng thống kờ cho thấy việc ỏp dụng phương phỏp dạy học tớch cực đó phần nào nõng cao chất lượng học tập của học sinh, số lượng học sinh yếu kộm vần cũn tương đối cao tuy nhiờn đề tài đang được nghiờn cứu bước đầu, sẽ tiếp tục được triển khai ỏp dụng t - Phân dạng và phương pháp giải một số dạng bài tập hóa học lớp 9
b ảng thống kờ cho thấy việc ỏp dụng phương phỏp dạy học tớch cực đó phần nào nõng cao chất lượng học tập của học sinh, số lượng học sinh yếu kộm vần cũn tương đối cao tuy nhiờn đề tài đang được nghiờn cứu bước đầu, sẽ tiếp tục được triển khai ỏp dụng t (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w