Hệ thống phân loại Cảnh quan được đưa ra phải đảm bảo theo những nguyên tắc nhất định: - Hệ thống phân loại phải phản ánh đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa các quy luật phân hoá không
Trang 1Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường khu
vực Ba Vì, thành phố Hà Nội
Dương Thị Giang
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn ThS ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
Mã số: 60 85 15 Người hướng dẫn: PGS.TS Phạm Quang Tuấn
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Thu thập và nghiên cứu tài liệu có liên quan đến khu vực Ba Vì, thành
phố Hà Nội Xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan và thành lập bản đồ cảnh quan huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Đánh giá mức độ thích nghi sinh thái các đơn vị cảnh quan cho việc phát triển kinh tế (nông – lâm nghiệp và du lịch) nhằm sử dụng
nguồn tài nguyên sẵn có trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Keywords Tài nguyên môi trường; Bảo vệ môi trường; Đánh giá cảnh quan
Content
Đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho phát triển kinh tế -
xã hội và bảo vệ môi trường khu vực Ba Vì, thành phố Hà Nội gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận trong đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế -xã hội
huyện Ba Vì
Chương 2: Đặc điểm các nhân tố thành tạo và cấu trúc cảnh quan huyện Ba Vì
Chương 3: Đánh giá thích nghi sinh thái và định hướng sử dụng hợp lý cảnh quan
huyện Ba Vì
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN BA VÌ
1.1 Khái niệm chung về cảnh quan
1.1.1 Khái niệm cảnh quan
Đề tài đưa ra một số khái niệm về cảnh quan của một số tác giả nước ngoài như: L.C.Berg; N.A Xolsev; A.G Ixatsenko Đề tài cũng đưa ra khái niệm cảnh quan của Vũ Tự Lập khi ông nghiên cứu cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam
Hiện nay trong khoa học địa lý tồn tại 3 quan niệm về cảnh quan tùy theo ý và nội dung người ta muốn diễn đạt bao gồm: quan niệm chung; khái niệm loại hình; và khái niệm
cá thể Chúng được áp dụng để chỉ các hình thức cảnh quan khác nhau:
a Quan niệm chung:
Trang 2b Quan niệm kiểu loại:
c Quan niệm cá thể:
Ở Việt Nam, các nhà khoa học tiếp tục đi sâu vào những hướng tiếp cận khoa học tổng hợp nghiên cứu cảnh quan vùng, đồng thời ứng dụng các kết quả nghiên cứu đó cho các mục đích phát triển, bảo vệ môi trường trên quan điểm phát triển bền vững
1.1.2 Hệ thống phân loại cảnh quan
Hệ thống phân loại Cảnh quan được đưa ra phải đảm bảo theo những nguyên tắc nhất định:
- Hệ thống phân loại phải phản ánh đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa các quy luật phân hoá không gian phổ biến của địa lý quyển, đây là nguyên nhân chính của sự hình thành nên các cấp cảnh quan
- Hệ thống phân loại phải đầy đủ các cấp để có thể áp dụng cho việc thành lập bản đồ Cảnh quan ở mọi tỉ lệ, cho mọi lãnh thổ lớn nhỏ, cho cả miền núi lẫn đồng bằng Hệ thống phân loại phải bao quát đầy đủ các cá thể, cũng như một cá thể có thể xếp vào nhiều bậc
- Hệ thống phân loại phải được thể hiện rõ ràng bằng một mô hình phản ánh những
mối quan hệ giữa các cấp Tuỳ thuộc vào mức độ phân hoá của lãnh thổ mà lựa chọn hệ thống phân loại cũng như tập hợp chỉ tiêu phân loại thống nhất Nhưng không nên quá cồng kềnh và không bỏ qua những bậc và những chỉ tiêu cần thiết
*) Một số hệ thống phân loại Cảnh quan của tác giả nước ngoài
Đề tài đưa ra hệ thống phân loại cảnh quan của các tác giả nước ngoài:
- Hệ thống phân loại Cảnh quan của A.G Ixatsenco năm 1961 gồm 8 bậc cảnh quan: Nhóm kiểu, Kiểu, Phụ kiểu, Lớp, Phụ lớp, Loại, Phụ loại, Thể loại
- Hệ thống phân loại cảnh quan của N.A Gvozdexki bao gồm 5 bậc cảnh quan: lớp cảnh quan, kiểu cảnh quan, phụ kiểu cảnh quan, nhóm cảnh quan, loại cảnh quan:
- Hệ thống phân loại Cảnh quan của Nhikolaiev (1966) ra đời gần sát với đối tượng cần phải phân chia hơn Hệ thống này gồm 12 bậc và được xây dựng cho nghiên cứu các cảnh quan đồng bằng nên khi áp dụng cho cảnh quan miền núi có bị hạn chế
*) Hệ thống phân loại của các tác giả Việt Nam
Khoa học Cảnh quan tuy xuất hiện ở Việt Nam tương đối muộn song cũng thu được những thành quả tương đối đặc biệt trong lĩnh vực ứng dụng; và có một hệ thống phân loại luôn theo các nguyên tắc và phương pháp chung
- Hệ thống phân loại nhiều cấp của Vũ Tự Lập (1974) áp dụng cho nghiên cứu Cảnh
quan địa lý miền Bắc Việt Nam (gọi tắt là hệ thống phân vị)
1.1.3 Bản đồ cảnh quan
Bản đồ cảnh quan: Đây là bản đồ mang tính tổng hợp cao phản ánh một cách đầy đủ, khách quan các đặc điểm của tự nhiên, mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa các thành phần riêng lẻ của tự nhiên
Trong thực tiễn nghiên cứu tự nhiên, công tác đánh giá các ĐKTN và TNTN để phục vụ mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên và BVMT đòi hỏi trước hết phải có những nghiên cứu tổng hợp chung, đặc biệt là xây dựng một bản đồ tổng hợp - bản đồ cảnh quan của lãnh thổ Để qua các đơn vị cảnh quan cụ thể, cấu trúc hệ thống phân loại sẽ cho ta thấy một cách khách quan các đặc điểm về thành phần, yếu tố tự nhiên và nhưng thông tin quan trọng khác, đặc biệt là mối quan
hệ giữa chúng, những quy luật hình thành và phát triển, sự phân bố tự nhiên theo lãnh thổ
* Nguyên tắc thành lập bản đồ cảnh quan
Đề tài sử dụng 3 nguyên tắc thành lập bản đồ cảnh quan:
- Nguyên tắc phát sinh hình thái
- Nguyên tắc tổng hợp
- Nguyên tắc đồng nhất tương đối
* Phương pháp thành lập bản đồ cảnh quan
Các phương pháp chính sử dụng thành lập bản đồ cảnh quan trong đề tài:
Trang 3+ Các phương pháp truyền thống như: phương pháp yếu tố trội, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp
+ Phương pháp bản đồ, viễn thám
+ Phương pháp khảo sát thực địa
1.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
1.2.1 Phân tích cảnh quan
Phân tích cảnh quan bao gồm việc phản ánh thực trạng cấu trúc cảnh quan, chức năng của chúng cũng như các vấn đề khác liên quan Trong quá trình phát triển của học thuyết cảnh quan thì vấn đề phân tích cảnh quan được đề cập đến rất nhiều Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, vấn đề này được đề cập đến với nhiều cơ sở và phương pháp mới, đáng chú ý nhất
là phương pháp liên ngành và sử dụng các tiếp cận hệ thống, tiếp cận sinh thái, xử lý bằng máy tính,… để xác định cấu trúc, chức năng của các cảnh quan nói chung trong việc giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn
Phân tích cảnh quan không tách rời với phân loại cảnh quan, vì mỗi cảnh quan là một
cá thể, một hệ thống độc lập, song cũng đồng thời là một phần nào đó của tập hợp kiểu loại cảnh quan bậc cao hơn Mặt khác, trong tự nhiên chúng ta có thể gặp rất nhiều hiện tượng cụ thể riêng biệt, song giữa chúng vẫn có những cái chung, cái thống nhất và đặc trưng nhất để có thể xếp chúng vào một hệ thống thống nhất logic có trật tự
1.2.2 Những vấn đề về đánh giá cảnh quan
Trong đánh giá cảnh quan, những kết quả đạt được của đánh giá thành phần là tiền đề cho sự ra đời hướng tổng hợp trong địa lý nên có thể nói, đánh giá cảnh quan là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên phục vụ cho mục đích cụ thể nào đó
Đánh giá cảnh quan nhằm mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên và BVMT là một nhiệm vụ quan trọng trong nghiên cứu địa lý ứng dụng Nó có vị trí và đúng vai trò quan trọng đối với các hoạt động phát triển kinh tế, giúp các nhà quản lý, quy hoạch có được những quyết định phù hợp với từng đơn vị lãnh thổ cụ thể
Đánh giá cảnh quan thực chất là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên cho mục đích phát triển cụ thể nào đó Đánh giá tổng hợp tài nguyên lãnh thổ hết sức phức tạp, là một bộ môn khoa học liên ngành: tự nhiên, kinh tế - xã hội, vì vậy đối tượng, phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu phải là tập hợp các phương pháp nghiên cứu của các hợp phần riêng biệt Đối tượng của đánh giá tổng hợp không chỉ là các địa tổng thể mà còn là mối quan hệ, tác động qua lại giữa các hệ thống tự nhiên và kinh tế - xã hội Nhiệm vụ của đánh giá phụ thuộc vào từng mục đích đánh giá được xác định trước mỗi một đơn vị tổng hợp thể tự nhiên lãnh thổ, dựa trên đặc điểm về điều kiện tự nhiên và mối quan hệ giữa hai hệ thống nêu trên
để tìm ra hướng khai thác và sử dụng tài nguyên đạt hiệu quả cao nhất, đồng thời bảo vệ và phát huy được tiềm năng tự nhiên, kinh tế - xã hội của lãnh thổ nghiên cứu
Đánh giá cảnh quan là một nhiệm vụ trong nghiên cứu địa lý ứng dụng, có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động kinh tế, giúp các nhà quản lý, quy hoạch đưa ra quyết định phù hợp với từng đơn vị lãnh thổ cụ thể Do đó, đánh giá cảnh quan là bước trung gian giữa nghiên cứu cơ bản (NCCB) và quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (SDHLTN&BVMT)
NCCB ĐGCQ SDHLTN&BVMT
1.2.3 Vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
Cơ sở khoa học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trước hết phải được lựa chọn từ các đặc điểm đặc trưng của tự nhiên, các điều kiện môi trường sinh thái – lãnh thổ Sử dụng các kết quả nghiên cứu cảnh quan và nhất là qua bản đồ cảnh quan ở các tỷ lệ khác nhau sẽ cho một phương thức tiếp cận tổng hợp nhất, tương đối gần gũi, xác thực với hiện trạng tự nhiên mỗi vùng
Trang 4Qua việc phân tích các quy luật hình thành, các đặc trưng về động lực phát triển của cảnh quan, mối tương quan và tác động tương hỗ giữa các yếu tố và thành phần của tự nhiên cũng như giữa các tổng hợp thể tự nhiên với nhau,… đặc biệt là việc đánh giá tổng hợp các đơn vị cảnh quan sẽ cho phép xác định mức độ “thích hợp nhất”, “tương đối thích hợp” hay
“không thích hợp” của mỗi một đơn vị lãnh thổ cho từng ngành sản xuất, từng dạng sử dụng tài nguyên,…
Ngoài việc xem xét, đánh giá đúng tiềm năng các nguồn lực tự nhiên thì yếu tố con người luôn có ý nghĩa hết sức quan trọng, đây là nguồn động lực quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển xã hội, khống chế và tác động lên các quá trình tự nhiên, đặc biệt là vai trò của con người trong điều tiết, sử dụng các ĐKTN, TNTN từng lãnh thổ Do đó, trong quá trình đánh giá tổng hợp cần chú trọng đến những yếu tố con người cùng các đặc điểm chung của các điều kiện KT - XH và yếu tố nhân văn
1.3 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Các quan điểm nghiên cứu
a, Quan điểm hệ thống và tổng hợp
b, Quan điểm lịch sử
c, Quan điểm phát triển bền vững
1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu
a, Phương pháp khảo sát điều tra thực địa
b, Phương pháp phân tích và xử lý tài liệu
c, Phương pháp phân tích tổng hợp
d, Phương pháp đánh giá thích nghi sinh thái
1.3.3 Các bước nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã thực hiện 4 bước nghiên cứu sau:
Bước 1: Công tác chuẩn bị:
Bước này cần xây dựng mục tiêu, đối tượng, nội dung, quan điểm, phương pháp nghiên cứu cụ thể Đồng thời phải xây dựng kế hoạch cho quá trình nghiên cứu đề tài
Bước 2: Nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa những đặc điểm thành tạo cảnh quan và
những đặc điểm về kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu từ đó đưa ra khánh thể đánh giá
A
Bước 3: Nghiên cứu nhu cầu sinh thái, kỹ thuật của các chủ thể cần đánh giá ở đây
tác giả đã lựa chọn đối tượng là các loại cây chè, đậu tương, cây keo tai tượng
Bước 4: Từ những kết quả nghiên cứu ở bước 2, bước 3 đi đến những đánh giá cho
từng chủ thể X đối với khách thể A Bước đầu tiên cho đánh giá cần phải xây dựng bảng đánh giá chuẩn, sau đó thực hiện các bước đánh giá từng thành phần, đánh giá chung sau đó đánh giá tổng hợp
Từ đó tạo ra kết quả đánh giá, thấy được mức độ phù hợp, thận lợi của chủ thể X đối với khác thể A Trên cơ sở đó xây dựng được sơ đồ định hướng cảnh quan cho phát triển kinh
tế trên lãnh thổ nghiên cứu
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO
VÀ CẤU TRÚC CẢNH QUAN HUYỆN BA VÌ
2.1 Các nhân tố thành tạo cảnh quan
Đề tài nêu rõ các nhân tố thành tạo cảnh quan: Vị trí địa lý, đặc điểm địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, điều kiện kinh tế - xã hội:
2.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Ba Vì là vùng bán sơn địa nằm ở phía tây của thủ đô Hà Nội, được nối với thủ
đô bằng con đường cao tốc Láng – Hoà Lạc và cách thủ đô khoảng 50km Đây là khu vực có
Trang 5nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi để quy hoạch thành khu đô thị đối trọng với Hà Nội Khu vực được giới hạn bởi toạ độ địa lý: từ 210
đến 21019’40” vĩ độ Bắc, 105017’35” đến
105028’22” kinh độ Đông Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 428,57 km2
2.1.2 Đặc điểm địa chất
Ba Vì nằm trong vùng kiến tạo Tây Bắc - Bắc Bộ thuộc các đới tướng cấu trúc sông Hồng, Ninh Bình và Hà Nội ở đới sông Hồng là các thành tạo của móng kết tinh Proterozoi, trong đới Ninh Bình phát triển các đá lục nguyên và phun trào Palezoi thượng và Mezozôi Các đới trên bị trũng Hà Nội phủ chồng mà phần móng của nó là các thành tạo Proterozoi bị cắt xẻ bởi các địa hào lấp đầy các trầm tích Neogen
Khu vực Ba Vì khá đa dạng các thành tạo địa chất với các đá có tuổi từ Proterozoi đến
Đệ tứ
2.1.3 Đặc điểm địa hình
Ba Vì có địa hình khá đa dạng với các dạng núi, đồi gò và đồng bằng, thung lũng Ở phía Tây khu vực khối núi Ba Vì có dạng đẳng thước nổi lên với ba đỉnh cao trên 1.000m đó
là các đỉnh Vua cao 1.296m, đỉnh Tản Viên cao 1.227m và đỉnh Ngọc Hoa cao 1.131m Nhìn một cách tổng thể, khối núi Ba vì có dạng đẳng thước, song xét chi tiết trên bình đồ thì dễ dàng nhận thấy sự định hướng của khối núi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam hướng chung của cấu trúc địa chất vùng Tây Bắc Sườn của khối núi có dạng bất đối xứng với sườn Tây dốc, sườn Đông thoải Xung quanh khối núi Ba Vì là hệ thống các đồi có hình thái và kích thước khác nhau
Địa hình sườn núi Ba vì bị chia cắt mãnh liệt, độ dốc của sườn tăng nhanh từ chân (200- 300) đến đỉnh (400
- 450), nhiều nơi lộ ra các vách đá dựng đứng rất hiểm trở và khó qua lại
Vùng đồi gò: Vùng này địa hình thấp dần từ độ cao 100m xuống khoảng 20m theo hướng Tây Bắc chủ yếu là đồi gò xen lẫn ruộng cao
Vùng đồng bằng: có địa hình tương đối bằng phẳng, gồm 12 xã
2.1.4 Đặc điểm khí hậu
Ba Vì nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc nên có mùa đông tương đối lạnh Khí hậu phân hoá thành 2 mùa rõ rệt là mùa đông lạnh bắt đầu từ tháng 11 kéo dài đến tháng 3 năm sau và mùa hè thì từ tháng 4 đến tháng 10 Ở nửa đầu mùa đông khí hậu khô hanh và lạnh trong khi đó vào cuối mùa thì có mưa phùn, ẩm ướt Mùa hè khí hậu nóng ẩm mưa nhiều là thời kỳ hoạt động của gió mùa tây nam Tính phi địa đới của khí hậu thể hiện khá rõ theo đai cao, được biểu hiện ở sự thay đổi
về nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm Trên đỉnh núi Ba Vì, ở độ cao địa hình trên 1000m, khí hậu khá mát mẻ vào mùa hè, thuận lợi cho việc xây dựng các trung tâm nghỉ dưỡng, mùa đông thường xuyên có mây mù phủ
2.1.5 Đặc điểm thủy văn
Mạng lưới thủy văn khu vực hết sức độc đáo Tại khu vực khối núi Ba vì, bản chất nâng vòm kiến tạo của nó đã tạo ra ở đây mạng lưới thuỷ văn dạng toả tia rất điển hình với các dòng chảy sườn Tây và Tây Nam ngắn hơn so với dòng chảy sườn Bắc và Đông Bắc
Sông Hồng là con sông lớn nhất miền Bắc chảy qua khu vực nghiên cứu Đây là con sông có lượng nước lớn, lưu lượng hàng năm tại Sơn Tây là 36,30m3
/s
Sông Đà là một phụ lưu lớn của sông Hồng cũng chảy qua khu vực nghiên cứu với chiều dài 20 km
Ở phía Bắc và phía Đông của khu vực có các con suối lớn chảy theo hướng Bắc - Đông Bắc và đổ vào hồ suối Hai hoặc sông Hồng
Phía Tây núi Ba Vì các con suối thường ngắn và dốc bắt nguồn từ núi Ba Vì và đổ vào sông Đà như các suối Mít, suối Ninh, suối Ngòi Lạt Và cũng tạo nên các thung lũng nửa kín Mạng lưới sông suối ở đây đã chia cắt mạnh mẽ địa hình với mật độ chia cắt ngang từ 1,2 – 2 km/km2
Trang 62.1.6 Đặc điểm thổ nhưỡng
Khu vực Ba vì là một vùng đồi núi trung du, các quá trình phong hóa đá xảy ra mạnh tạo nên một lớp vỏ phong hóa khá dày
Trong khu vực nghiên cứu gồm 12 loại đất:
- Đất mùn vàng đỏ trên riolit (HFa)
- Đất vàng đỏ trên riolit (Fa)
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp)
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (Fl)
- Đất phù sa không được bồi hàng năm (Pk)
- Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb)
- Đất đỏ, vàng trên phiến đá sét (Fs)
- Đất vàng nhạt trên cát kết (Fq)
- Đất đỏ vàng trên đá magma bazơ và trung tính (Fd)
- Đất đỏ vàng trên đá biến chất (Fj)
- Đất do sản phẩm dốc tụ (D)
- Đất xám bạc màu trên phù sa cổ (B0
2.1.7 Đặc điểm sinh vật
Khu vực Ba Vì là một vùng đồi, núi trung du rất điển hình của vùng Bắc Bộ nhưng cũng lại mang những nét độc đáo riêng của khu vực Trên một nền địa hình tương đối bằng phẳng với độ cao không lớn lắm khối núi Ba Vì có dạng đẳng thước nổi lên với 3 đỉnh có độ cao trên 1.000m Độ cao của khối núi giảm dần ra xung quang tạo nên một số bậc địa hình đặc trưng Chính sự phân hóa địa hình như vậy đã tạo cho vùng có một nguồn sinh vật khá đa dạng
và dồi dào Vườn Quốc Gia Ba Vì được thành lập để lưu giữ nguồn gen động thực vật quý hiếm tiêu biểu củaViệt Nam và của khu vực
2.1.8 Mức độ nhân tác
Dựa trên hiện trạng, diễn thế của thảm thực vật và đặc điểm lớp phủ thổ nhưỡng trên lãnh thổ nghiên cứu, có thể chia mức độ nhân tác thành các mức như sau:
1 Tác động yếu (gần như nguyên trạng) (T1)
2 Tác động mạnh có khả năng phục hồi (T2)
3 Tác động tích cực:
a, Tác động tích cực không thường xuyên (T3)
b, Tác động tích cực thường xuyên (T4)
c, Tác động tích cực theo mùa vụ (T5)
2.1.9 Đặc đểm kinh tế - xã hội
Ba Vì là huyện nằm phía Tây Bắc tỉnh Hà Tây với 31 xã và một thị trấn Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 42.804,37 ha dân số gần 25 triệu người Trong những năm qua kinh tế của huyện đã có những bước phát triển khá, đời sống của nhân dân đã được nâng lên,
cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, bệnh xá đã được huyện quan tâm đầu tư xây dựng và phát triển
Đề tài nêu lên đặc điểm về dân số, lao động, việc làm, cơ sở hạ tầng khu vực nghiên cứu
2.2 Đặc điểm cảnh quan huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
2.2.1 Bản đồ cảnh quan huyện Ba Vì, TP Hà Nội
Trên cơ sở kế thừa hệ thống phân loại cảnh quan của các tác giả trong và ngoài nước
Đề tài đưa ra hệ thống phân loại cảnh quan huyện Ba Vì như sau:
Bảng 2.8: Hệ thống phân loại cảnh quan huyện Ba Vì
Kiểu cảnh
quan
Sự đồng nhất về điều kiện nhiệt - ẩm Kiểu cảnh quan nhiệt đới gió mùa
có mùa đông rét, hơi khô chịu ảnh
Trang 7hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc
Lớp cảnh quan
Các đặc trưng hình thái phát sinh của địa hình lãnh thổ, quyết định các quá trình lớn xảy ra trong chu trình vật chất và năng lượng
- Lớp cảnh quan núi
- Lớp cảnh quan đồi
- Lớp cảnh quan đồng bằng
Phụ lớp cảnh
quan
Các đặc trưng hình thái địa hình trong phạm vi của lớp
- Phụ lớp cảnh quan núi thấp
- Phụ lớp cảnh quan đồi
- Phụ lớp cảnh quan đồng bằng
Hạng cảnh
quan
Dạng địa hình phát sinh với cá c đă ̣c trưng đô ̣ng lực bề mă ̣t
- Bề mặt san bằng tổng hợp;
- Sườn bóc mòn trọng lực
- Sườn xâm thực bóc mòn
- Bề mặt Pediment – pliocen muộn
bị chia cắt bởi các sườn rửa trôi bề mặt
- Bề mặt tích tụ hỗn hợp sông, lũ
- Sườn rửa trôi bề mặt
- Thềm sông bậc I, II tuổi pleistocen
- Bãi bồi trong đề
- Bãi bồi ngoài đê
Loại cảnh quan
Đặc trưng mối quan hệ tương hỗ giữa các nhóm quần xã thực vật với loại đất, quyết định mối cân bằng vật chất của cảnh quan qua các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, cộng với các tác động của các hoạt động con người
Gồm 60 loại cảnh quan trên 12 loại đất (Pb, Pk, B, Fl, Fs, Fp, Fa, Fq, HFa, Fj, D, Fd)
2.2.2 Đặc điểm phân hóa cảnh quan huyện Ba Vì, TP Hà Nội
Sự tương tác giữa hoàn lưu khí quyển và địa hình đã tạo nên những nét đặc thù riêng cho lãnh thổ huyện Ba Vì, sự phân hóa đó được thể hiện qua hệ thống phân loại cùng với những đặc điểm cảnh quan khu vực nghiên cứu
2.2.3 Chức năng cảnh quan huyện Ba Vì
- Chức năng bảo vệ môi trường, phục hồi và bảo tồn: Nhóm cảnh quan phân bố trên các vùng núi trung bình với kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh cây lá rộng (đôi chỗ xen lá kim) ít bị tác động phân bố tập trung ở khu vực VQG Ba Vì (loại cảnh quan số 1, 2, 3, 4, 5, 7,
8, 11, 12, 14, 15, 17, 19)
- Chức năng khai thác sử dụng bền vững tài nguyên: Các cảnh quan cần duy trì chức năng này là các cảnh quan được đặc trưng bởi các địa hình tương đối thấp, độ dốc từ 8o
-15o Các cảnh quan này được chia thành hai nhóm chức năng liên quan đến đặc trưng sinh thái
- Chức năng phát triển kinh tế sinh thái nông nghiệp bền vững: Các cảnh quan cần duy trì chức năng sản xuất, phát triển kinh tế sinh thái bền vững hình thành trên địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc trung bình < 8o, mức độ chia cắt địa hình không lớn, chia cắt sâu nhỏ hơn hoặc lớn hơn 40m, chia cắt ngang trung bình 1,25-2km/km2, hoặc nhỏ hơn 1,25km/km2
2.2.4 Đặc điểm cảnh quan huyện Ba Vì, TP Hà Nội
Trên lãnh thổ huyện Ba Vì có 60 loại cảnh quan, trong đó
Trang 8- Loại cảnh quan trên thảm thực vật rừng kín thường xanh ít bị tác động là 5 loại cảnh quan (1, 3, 4, 7, 14), trên nền thổ nhưỡng chủ yếu là đất Fa, với độ dốc >80, thành phần cơ giới
là đất thịt TB, tầng dày của đất từ 50-70cm
- Loại cảnh quan trên thảm thực vật rừng trồng là 14 loại cảnh quan (2, 5, 8, 11, 12, 15,
17, 19, 22, 36, 37, 39, 42, 44)
- Loại cảnh quan trên thảm thực vật của hệ sinh thái nông nghiệp gồm 41 loại cảnh quan còn lại Các loại cảnh quan này chủ yếu phân bố ở khu vực phía Bắc của huyện Ba Vì
Chương 3: ĐÁNH GIÁ THÍCH NGHI SINH THÁI VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ
DỤNG HỢP LÝ CẢNH QUAN HUYỆN BA VÌ
3.1 Đánh giá cảnh quan cho phát triển cây trồng nông, lâm nghiệp
3.1.1 Lựa chọn cây trồng đánh giá
Qua tham khảo các báo cáo về tình kinh phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của huyện, báo cáo hàng năm về ngành nông nghiệp của huyện tác giả đã lựa chọn ra 02 loại cây đại diện gồm cây chè (cây lâu năm), cây đậu tương (cây hàng năm), cây keo tai tượng (trồng rừng sản xuất)
3.1.2 Đặc trưng sinh thái của các loại cây trồng
Đề tài đưa ra đặc trưng sinh thái của ba loại cây trồng:
a Yêu cầu sinh thái của cây chè
b Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương
c Yêu cầu sinh thái của cây keo tai tượng
3.1.3 Lựa chọn và phân cấp các chỉ tiêu
Đối với tất cả các ngành sản xuất các yếu tố như đất, nước, khí hậu, địa hình có vai trò rất quan trọng và không thể thiếu cho sự phát triển của ngành này Tuy nhiên trên lãnh thổ huyện Ba Vì những đặc trưng về khí hậu tương đối đồng đều, hệ thống sông suối dày đặc, đặc biệt huyện được bao phủ bởi 2 con sông lớn (Sông Hồng và sông Đà) Vì vậy các yếu tố khí hậu và nước là những yếu tố chung, tác giả đã bỏ qua các yếu tố này khi đánh giá cho sự phát triển nông nghiệp huyện Ba Vì Do đó tác giả đã đưa ra các chỉ tiêu đánh giá đối với ngành nông, lâm nghiệp như sau:
- Loại đất
- Độ dốc
- Tầng dày
- Thành phần cơ giới
- Khả năng thoát nước
- Kiểu thảm thực vật hiện tại
Bảng 3.1: Đánh giá riêng các chỉ tiêu của loại cảnh quan phục vụ phát triển các loại cây
trồng huyện Ba Vì
1 Đối với cây chè
Chỉ tiêu đánh giá Rất thích nghi
(3 điểm)
Thích nghi (2 điểm)
Kém thích nghi (1 điểm)
800-1000 <100; >1000
vàng Đất mùn, D, Pk Đất phù sa được bồi, đất cát, B
Trang 9- Tầng dày (cm) >100 50-100 < 50
2 Đối với cây đậu tương
- Nhiệt độ TB năm (oC) 20-25 10-20; 25-30 <10; >30
- Loại đất
Đất đỏ vàng, đất phù sa, Dốc
tụ
Đât xám, đất bạc màu Đất mặn, đất phèn
3 Đối với cây keo tai tượng
- Lượng mưa năm (mm) >1.800 1.500-1.800 1.000-1.500
- Loại đất Fp, Fs, D, Fd Fa, Fq, Fv, Fl,
Pk, Fj
E, đất cát, mặn, phèn, Pb
3.1.4 Quy trình đánh giá cảnh quan và cách phân hạng điểm mức độ thích nghi của từng loại cảnh quan
Trong luận văn sử dụng phương pháp đánh giá mức độ thích nghi sinh thái các cảnh quan là dạng đánh giá nhằm thể hiện mức độ thích hợp (hay thuận lợi) theo khía cạnh tự nhiên của cảnh quan và và các hợp phần của chúng đối với các dạng hoạt động kinh tế nào
đó, thể hiện theo mức độ thuận lợi của chúng đối với một hay nhiều dạng sử dụng lãnh thổ Các dữ liệu đầu vào cho đánh giá bao gồm các đặc tính của từng loại cảnh quan, nhu cầu sinh thái của các loại hình sử dụng tài nguyên, còn đầu ra là đánh giá mức độ thích nghi của các địa tổng thể với từng loại hình sử dụng (cây chè, cây đậu tương và cây keo tai tượng) dưới dạng cho điểm và phân hạng mức độ thích nghi sinh thái Tuy nhiên, đối với mỗi loại cây khác nhau thì đều có những yếu tố giới hạn khác nhau vì vậy trước khi đánh giá cho từng loại cây tác giả đã loại bỏ những yếu tố giới hạn đưa vào bậc không thích nghi Để đảm báo tính chuẩn xác trong quá trình cho điểm tác giả sử dụng phương pháp ma trận tam giác để đánh giá, những yếu tố nào lặp lại nhiều lần thì có điểm tối đa là 3 điểm và tương tự như vậy đối với những yếu tố nào có độ lặp lại ít nhất thì được cho 1 điểm Như vậy, phương pháp trung bình cộng ở đây được sử dụng như sau: M = (M1t1+Miti)/i; sau khi được điểm đánh giá chung của tất cả các loại cảnh quan, tác giả tiếp tục phân hạng thích nghi với 4 bậc: S1 (rất thích nghi), S2 (thích nghi), S3 (ít thích nghi), N (không thích nghi – mang tính chất tạm thời) bằng công thức: M = (Mmax – Mmin)/4 Tùy thuộc vào điểm đánh giá chung của từng loại cây với mỗi loại cảnh quan khác nhau sẽ cho khoảng cách điểm khác nhau cho chúng
Trang 103.1.5 Đánh giá và phân hạng mức độ thích nghi đối với các loại cây
Đối với khu vực huyện Ba Vì những đơn vị cảnh quan trên đó phát triển kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh ít bị tác động, tác giả không đưa vào đánh giá bởi những đơn
vị này đều nằm trong VQG Ba Vì và cũng là đối tượng ưu tiên công tác bảo tồn (các loại cảnh quan số 1, 2, 3, 4, 7, 14) Đánh giá tổng hợp được tiến hành bằng phương pháp trung bình cộng, trước đó các loại cảnh quan có một trong các yếu tố giới hạn về mặt sinh thái sẽ bị loại và đưa vào cấp không thích nghi Kết quả đánh giá được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 3.2: Kết quả đánh giá tổng hợp và phân hạng thích nghi sinh thái của các loại cảnh
quan đối với cây chè, cây đậu tương và cây keo tai tượng
Loại
CQ
Cây chè Cây đậu tương Cây keo tai tượng