1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ định hướng phát triển bền vững thị xã ayun pa, tỉnh gia lai

28 615 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ định hướng phát triển bền vững thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hoa
Người hướng dẫn PGS.TSKH. Phạm Hoàng Hải
Trường học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Chuyên ngành Sử dụng và Bảo vệ Tài nguyên Môi trường
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Ayun Pa
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 479,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu  Mục tiêu Xây dựng các căn cứ khoa học trên cơ sở phân tích và đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn để xác lập một số mô

Trang 1

Nghiên cứu xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ định hướng phát triển bền vững

thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai

Nguyễn Thị Thanh Hoa

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn Thạc sĩ ngành: Sử dụng và Bảo vệ Tài nguyên Môi trường

Mã số: 60.85.15 Người hướng dẫn: PGS.TSKH Phạm Hoàng Hải

Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Nghiên cứu cơ cở lý luận về mô hình kinh tế sinh thái Phân tích và đánh giá tổng

hợp nguồn lực tự nhiên, kinh tế-xã hội và nhân văn thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai Nghiên cứu đánh giá thực trạng và hiệu quả các mô hình hệ kinh tế sinh thái có tại khu vực nghiên cứu Xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với tiềm năng của khu vực nghiên

Ayun Pa là một thị xã của tỉnh Gia Lai, được thành lập theo Nghị định số 50/2007/NĐ-CP ngày 30-3-2007 của Chính phủ, trên cơ sở tách huyện Ayun Pa thành lập thị xã Ayun Pa (phía Đông Nam) và huyện Phú Thiện (phía Tây) Đây sẽ là cực phát triển mới, đóng vai trò là trung tâm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đối với các huyện đông nam của tỉnh Gia Lai Tuy nhiên, trong quá trình phát triển Ayun Pa cũng đã và đang gặp phải những khó khăn, hạn chế, đặc biệt trong việc nâng cao đời sống của nhân dân, trong giải quyết những vấn đề môi trường cấp bách nảy sinh, trong giải quyết các những mâu thuẫn, xung đột mạnh mẽ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên, môi trường cũng như khắc phục các hậu quả của tai biến thiên nhiên cho mục tiêu phát triển bền vững

Vấn đề quan trọng và bức thiết được đặt ra đối với Ayun Pa hiện nay đó là cần có sự rà soát,

Trang 2

đánh giá tổng hợp các nguồn lực tự nhiên, kinh tế xã hội và nhân văn để qua đó đưa ra được các mô hình hệ kinh tế sinh thái phát triển hợp lý, đề xuất được những bước đi thích hợp, các giải pháp tổng thể và cụ thể phù hợp cho phát triển bền vững, lâu dài của vùng Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn

đề tài nghiên cứu với tên gọi: “Nghiên cứu xác lập một số mô hình kinh tế sinh thái phục vụ định hướng phát triển bền vững thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai” Thông qua việc nghiên cứu thực hiện đề

tài này, học viên tin rằng với phương pháp tiếp cận tổng hợp, với các nội dung nghiên cứu chi tiết,

cụ thể và các kết quả nghiên cứu mang tính đầy đủ, đồng bộ, luận văn sẽ có thể góp phần giải quyết những yêu cầu cấp bách, giải quyết được các vấn đề quan trọng nảy sinh trong phát triển theo hướng bền vững của vùng trong tương lai Các kết quả của đề tài sẽ là cơ sở khoa học cho việc hoạch định không gian sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

 Mục tiêu

Xây dựng các căn cứ khoa học trên cơ sở phân tích và đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn để xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ định hướng phát triển bền vững thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai

 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về mô hình hệ kinh tế sinh thái;

- Phân tích và đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai;

- Nghiên cứu đánh giá thực trạng và hiệu quả các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện có tại khu vực nghiên cứu;

- Xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với tiềm năng của khu vực

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

 Phạm vi

- Phạm vi không gian: thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai gồm 4 phường và 4 xã với tổng diện tích

là 287,52 km2

- Phạm vi khoa học: nghiên cứu đánh giá các nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội, nhân văn

và các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện trạng từ đó xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với tiềm năng của khu vực nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu

Các nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội, nhân văn và các mô hình hệ kinh tế sinh thái thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai

4 Cơ sở dữ liệu

Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đã sử dụng những tài liệu như sau: Các tài liệu về

mô hình hệ kinh tế sinh thái, đánh giá cảnh quan (theo tiếp cận kinh tế sinh thái); Các công trình khoa học liên quan đến các mô hình hệ kinh tế - sinh thái; Các bản đồ địa hình tỉnh Gia Lai 1:25.000; Niên giám thống kê thị xã Ayun Pa và tỉnh Gia Lai qua các năm do UBND thị xã Ayun

Pa và tỉnh Gia Lai cung cấp; Các báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã Ayun

Pa đến năm 2020; Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, kế hoạch sử dụng đất 5 năm

Trang 3

(từ năm 2006 đến năm 2010) tỉnh Gia Lai; Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Gia Lai năm 2010

5 Kết quả và ý nghĩa

 Kết quả

- Thành lập các bản đồ chuyên đề thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai tỉ lệ 1:50.000;

- Đánh giá hiệu quả của các mô hình hệ kinh tế sinh thái thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai;

- Xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với tiềm năng của thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai

Trang 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận về mô hình hệ kinh tế sinh thái

1.1.1 Khái niệm chung về kinh tế sinh thái và mô hình hệ kinh tế sinh thái

Khái niệm hệ kinh tế sinh thái đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu từ những năm 70 của thế kỷ trước đưa ra dưới nhiều góc độ và trên các quan điểm khác nhau, trong đó

hệ kinh tế sinh thái được coi là một hệ thống chức năng nằm trong tác động tương hỗ giữa sinh vật

và môi trường dưới sự điều khiển của con người để đạt được mục đích phát triển lâu bền, là hệ thống vừa đảm bảo chức năng cung cấp (kinh tế) vừa đảm bảo chức năng bảo vệ (sinh thái) và bố trí hợp lý trên lãnh thổ [15]

Mô hình hệ kinh tế sinh thái (Ecological Economic System Model) là một hệ kinh tế sinh thái cụ thể được thiết kế và xây dựng trong một vùng sinh thái xác định - nơi diễn ra hoạt động sinh hoạt, sản xuất, khai thác, sử dụng tài nguyên của con người [15]

Hình 1.1 Cấu trúc và mối liên hệ giữa các hợp phần trong mô hình hệ kinh tế sinh thái [9]

1.1.2 Nguyên tắc nghiên cứu và phân loại hệ mô hình kinh tế sinh thái

a) Nguyên tắc nghiên cứu mô hình hệ kinh tế sinh thái

Các mô hình hệ kinh tế sinh thái được xây dựng trên cơ sở: (1) Kiểm kê, đánh giá hiện trạng môi trường, tài nguyên và tiềm năng sinh học, bao gồm công tác điều tra tự nhiên, điều tra kinh tế

xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuật và tổ chức sản xuất xã hội; (2) Phân tích chính sách và chiến lược sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường ; (3) Hoàn thiện các cơ chế kinh tế (theo chu trình sản xuất năng lượng) và cơ chế sinh học (theo chu trình sinh - địa - hoá) [7]

Phân hệ tự nhiên:

Phân hệ sản xuất:

- Nguồn lực: quỹ đất, lao động, vốn, vật tư (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,…), hệ thống thủy nông,…

- Hoạt động sản xuất: phương thức sản xuất, trình độ canh tác, phương tiện kỹ thuật,…

- Ô nhiễm môi trường

- Cải thiện môi trường

Trang 5

Theo Nguyễn Cao Huần (2005), đánh giá thích nghi sinh thái là xác định mức độ phù hợp

của các địa tổng thể (cảnh quan trong địa lý học, đơn vị đất đai trong đánh gía đất, lập địa trong khoa học lâm nghiệp) đối với đối tượng quy hoạch phát triển

Khi tiến hành phân tích mô hình kinh tế sinh thái cần đảm bảo 2 nguyên tắc chính là: cấu

trúc - chức năng và kinh tế - sinh thái Nguyên tắc cấu trúc - chức năng: phản ánh mối quan hệ biện

chứng và tác động qua lại của các yếu tố trong hệ thống Nguyên tắc này hướng tới sự tập trung

chức năng chủ yếu của hệ được nghiên cứu Nguyên tắc kinh tế - sinh thái: phản ánh hoạt động của

hệ thống phải đảm bảo tính kinh tế, tính thích nghi sinh thái và tính giữ gìn môi trường

b) Phương pháp nghiên cứu mô hình kinh tế sinh thái

Xuất phát từ bản chất của hệ kinh tế sinh thái, phương pháp nghiên cứu mô hình kinh tế sinh thái phải dựa trên cơ sở khái quát hoá các phương pháp từ các khoa học bộ phận có liên quan

- Nhóm phương pháp nghiên cứu và điều tra cơ bản ở thực địa

- Nhóm phương pháp phân tích, đánh giá tiềm năng và hiện trạng sử dụng tài nguyên

- Nhóm phương pháp dự báo hoạt động của hệ, mô hình hoá

c) Cơ sở phân loại và chỉ tiêu đánh giá mô hình hệ kinh tế sinh thái

Mô hình hệ kinh tế sinh thái có thể được phân loại theo các tiêu chí khác nhau theo mục đích sử dụng

- Phân loại theo cơ cấu sản xuất: tính phức tạp hay đơn giản của mô hình tùy thuộc vào vị trí, đặc điểm tự nhiên: địa chất - địa hình, khí hậu - thủy văn … và các điều kiện kinh tế - xã hội: vốn, lao động, trình độ khoa học kỹ thuật, tập quán canh tác của mỗi dân tộc

- Phân loại theo quy mô sản xuất: tùy thuộc vào diện tích canh tác, hướng sản xuất chuyên môn hóa, trình độ sản xuất, trình độ quản lý … mà ta có thể có mô hình kinh tế hộ gia đình hay mô hình kinh tế trang trại …

- Phân loại theo mức thu nhập: mỗi mô hình có hiệu quả khác nhau tùy thuộc vào cơ cấu sản xuất, phương thức canh tác … Theo quy định chung của nhà nước có 5 kiểu mô hình hệ kinh tế sinh thái với quy mô hộ gia đình: kiểu mô hình có mức thu nhập cao, khá, trung bình, thấp, rất thấp

Các chỉ tiêu đánh giá mô hình hệ kinh tế sinh thái: Để đánh giá tính bền vững của một mô hình kinh tế sinh thái cần xem xét tổng hợp theo các chỉ tiêu sau:

- Chỉ tiêu thích nghi sinh thái: tính thích nghi sinh thái thường được đánh giá thông qua mức

độ phù hợp của cây trồng, vật nuôi, các hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp với các điều kiện tự nhiên của khu vực

- Chỉ tiêu về kinh tế: chỉ tiêu về kinh tế thường được đánh giá ở mức sống của người lao động thông qua thu nhập theo phương pháp phân tích chi phí lợi ích Chỉ tiêu này ngoài việc góp phần nâng cao mức sống của người dân còn gián tiếp tác động tới nâng cao học vân, ý thức, sở thích… của người dân

- Chỉ tiêu bền vững môi trường: mô hình hệ kinh tế sinh thái không chỉ với mục đích đạt hiệu quả kinh tế cao mà còn phải đạt mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường

- Chỉ tiêu bền vững xã hội: chỉ tiêu này được đánh giá thông qua tập quán, truyền thống, phương thức canh tác, khả năng tiếp thu khoa học ký thuật, khả năng chấp nhận mô hình của người

Trang 6

dân, thời gian tồn tại của mô hình, khả năng đầu tư sản xuất…

Một mô hình hệ kinh tế sinh thái bền vững khi đảm bảo được các chỉ tiêu trên, một trong các chỉ tiêu không đảm bảo thì mô hình trở nên kém bền vững

1.2 Cơ sở lý luận về đánh giá cảnh quan

1.2.1 Khái niệm cảnh quan

Từ cuối thế kỷ thứ XIX đầu thế kỷ thứ XX trong các công trình nghiên cứu về sự phân chia địa lý tự nhiên bề mặt Trái đất của một số nhà Địa lý học, cảnh quan học bắt đầu được nghiên cứu Trong khoa học địa lý tồn tại ba quan niệm về cảnh quan tùy theo ý và nội dụng cần diễn đạt: Cảnh quan là một khái niệm chung (F.N Minkov, D.L Armand ), là khái niệm loại hình (B.B Plolưnov ), là khái niệm cá thể (N.A Xoltsev, A.G Ixatrenko, ) [11,21]

Trong nghiên cứu địa lý phục vụ thực tiễn sản xuất, cảnh quan vẫn được xem xét ở cả 3 khía cạnh, như đơn vị địa tổng thể, đơn vị kiểu loại, đơn vị cá thể Dù xem cảnh quan theo khía cạnh nào

đi chăng nữa thì cảnh quan vẫn được xem là một địa tổng thể tự nhiên, còn sự khác biệt của các khái niệm trên ở chỗ coi cảnh quan là đơn vị thuộc cấp phân vị nào, cảnh quan được xác định và thể hiện trên bản đồ theo cách thức nào, theo cách quy nạp hay diễn giải

Vũ Tự Lập (1976) định nghĩa: “Cảnh quan địa lý được phân hoá trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thuỷ văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng và đại tổ hợp thực vật,

và bao hàm một tổ hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất” [1] Sau đó, A.G.Ixatrenco (1991) lại đưa ra một định nghĩa ngắn gọn hơn: ”Cảnh quan là một địa hệ thống nhất về mặt phát sinh, đồng nhất về các dấu hiệu địa đới

và phi địa đới, bao gồm một tập hợp đặc trưng của các địa hệ liên kết bậc thấp” [7]

Chính vì có nhiều quan điểm khác nhau về cảnh quan, nên không phải bất cứ tên một cảnh quan nào cũng có nghĩa đồng nhất như nhau Về bản chất, cảnh quan là một địa tổng thể tự nhiên phức tạp vừa có tính đồng nhất, vừa có tính bất đồng nhất Tính đồng nhất của cảnh quan được hiểu

ở chỗ là một lãnh thổ trong phạm vi của nó, các thành phần và tính chất của mối quan hệ giữa các thành phần coi như không đổi, nghĩa là đồng nhất Tính bất đồng nhất được biểu thị ở hai mặt: thứ nhất, cảnh quan bao gồm nhiều thành phần khác nhau về bản chất (địa hình, khí hậu, thuỷ văn, đất, thực vật) tạo nên Thứ hai, mỗi thành phần trong cảnh quan tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, ví dụ địa hình âm và dương, và ngay trên một dạng địa hình dương (quả đồi - được coi như đồng nhất) cũng có sự khác nhau giữa đỉnh và sườn [11] Do vậy, cần hiểu đúng bản chất cảu nó, không thể hiểu theo nghĩa tên gọi vì chưa có một định nghĩa thống nhất nào cho cảnh quan

1.2.2 Hệ thống phân loại cảnh quan

Hệ thống phân loại và các chỉ tiêu các cấp dựa trực tiếp vào bản thân đối tượng nghiên cứu

Đó là sự phân hoá thực tế theo không gian Hệ thống phân loại là một trong những khâu quan trọng

để thành lập bản đồ cảnh quan Đối với cảnh quan học cho đến nay vẫn chưa có một hệ thống phân loại nào được mọi người chấp nhận là có đầy đủ cơ sở khoa học và chỉ tiêu cụ thể cho từng cấp Hiện nay đã có rất nhiều hệ thống phân loại chủ yếu là của các tác giả Liên Xô trước đây như: hệ thống phân loại của A.G Ixatrenco (1961) đưa ra 8 đơn vị là nhóm kiểu, kiểu, phụ kiểu, lớp, phụ lớp, loại, phụ loại và thể loại; hay hệ thống phân loại cảnh quan của N.A Gvozdexki (1961), hệ

Trang 7

thống phân loại cảnh quan của Nhikolaev…

Ở Việt Nam, đã có một số công trình đã đưa ra hệ thống phân loại cảnh quan trong khi nghiên như các tác giả như: Vũ Tự Lập (1976), Nguyễn Thành Long và nnk (1983), Phạm Hoàng Hải (1997) Giữa các nghiên cứu này có chung là tương đối thống nhất về hệ thống các đơn vị phân loại cảnh quan Việt Nam: Hệ (phụ hệ cảnh quan) - Lớp (phụ lớp cảnh quan) - Kiểu (phụ kiểu cảnh quan) - Hạng cảnh quan - Loại cảnh quan Dưới loại cảnh quan là các đơn vị hình thái: dạng cảnh quan và diện cảnh quan Tuỳ thuộc vào phạm vi, mục đích nghiên cứu và tỉ lệ bản đồ cảnh quan mà lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp

1.2.3 Đánh giá cảnh quan

Bản chất của đánh giá cảnh quan là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên cho mục đích cụ thể nào đó Đánh giá cảnh quan có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động phát triển kinh tế, giúp các nhà quản lý, quy hoạch đưa ra quyết định phù hợp với từng đơn vị lãnh thổ cụ thể

Vì vậy, đánh giá cảnh quan là bước trung gian giữa nghiên cứu cơ bản và quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường [9,11]

Kết quả của nghiên cứu cơ bản là các bản đồ chuyên đề và dữ liệu thuộc tính các địa tổng thể Từ các kết quả nghiên cứu cơ bản thực hiện đánh giá kinh tế sinh thái các cảnh quan để cho ra mức độ phù hợp của cảnh quan đối với loại hình sử dụng Sử dụng kết quả đánh giá cảnh quan để đưa ra các phương án lựa chọn tổ chức, hoạch định chiến lược lâu dài, tương đối phù hợp và với hiệu quả cao nhất của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên của mỗi vùng, đồng thời bố trí hợp lý nhất các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các ngành sản xuất theo lãnh thổ

Các bước đánh giá cảnh quan bao gồm: đánh giá thích nghi sinh thái, đánh giá ảnh hưởng môi trường, đánh giá kinh tế cảnh quan, đánh giá tính bền vững xã hội và đánh giá tích hợp (đánh giá tổng hợp)

Mối quan hệ giữa mô hình kinh tế sinh thái và đánh giá cảnh quan: đánh giá cảnh quan

một khu vực cụ thể chính là dựa trên các nhân tố thành tạo cảnh quan để đánh giá tiềm năng phát triển của khu vực đó, kết hợp với các mô hình kinh tế sinh thái hiện trạng tại khu vực nghiên cứu làm cơ sở cho việc đề xuất các mô hình kinh tế sinh thái bền vững

1.3 Quan điểm và phương pháp

+ Quan điểm nghiên cứu

- Quan điểm hệ thống

- Quan điểm tổng hợp

- Quan điểm lịch sử

- Quan điểm kinh tế sinh thái

- Quan điểm phát triển bền vững

+ Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu

- Phương pháp khảo sát thực địa

- Phương pháp điều tra xã hội học

- Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý

Trang 8

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ KINH TẾ

- XÃ HỘI THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Thị xã Ayun Pa là một thị trấn nằm ở ngã ba sông Ba và một chi lưu của nó là sông Ayun (còn gọi là Ayun hay Ia Ayun), nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Gia Lai, nằm trên sườn Đông của dãy Trường Sơn, cách thành phố Pleiku 90 km về phía Nam Thị xã có toạ độ từ 13043’29’’ đến

13031’46’’ vĩ độ Bắc; từ 108012’7’’ đến 108043’55’’ kinh độ Đông Diện tích tự nhiên của thị xã là 28.752,4 ha (chiếm 1,9% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh) và dân số năm 2010 là 36.276 người (chiếm 2,9 % dân số toàn tỉnh), gồm 4 phường (Cheo Reo, Hòa Bình, Đoàn Kết, Sông Bờ ) và 4 xã (Chư Băh, Ia Rbol, Ia RTô, Ia Sao) [29]

Thị xã Ayun Pa là cửa ngõ phía Đông Nam tỉnh Gia Lai, có các đường giao thông thuận lợi nối liền với các tỉnh duyên hải miền trung và khu vực Tây Nguyên, tạo nên điều kiện thuận lợi về

thông thương và phát triển các loại hình dịch vụ

2.1.2 Địa chất, địa hình

a) Địa chất

Đặc điểm địa chất - kiến tạo có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát sinh và phát triển của cảnh quan một lãnh thổ, là yếu tố nền móng có ảnh hưởng rất lớn đến các yếu tố khác như: địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, thủy văn và sinh vật trong quá trình thành tạo cảnh quan của lãnh thổ Nền địa chất của thị xã Ayun Pa gồm: Hệ tầng Nha Trang (Knt), phức hệ La Ban (PR1lb), hệ tầng Đăk Bùng/Pha 2 (]-]lT2vc2), phức hệ Bến Giàng - Quế Sơn/Pha 2, hệ tầng Mang Yang (T2my), các trầm tích Đệ Tứ

Cùng với các đặc điểm địa chất, trên địa bàn huyện có một số tài nguyên khoáng sản như: Thạch anh tinh thể, Laterit, Cuôi, cát, Sét, bentonit, phân bố chủ yếu ở khu vực phía bắc, đông bắc

và phía tây bắc

b) Địa hình

Ayun Pa là một vùng trũng trong thung lũng lòng chảo Cheo Reo - Phú Túc của sông Ba, có độ cao trung bình từ 200 - 250 m so với mực nước biển Từ trên cao có thể thấy sự phân hóa địa hình rõ ràng thành thung lũng, đồi, và núi trung bình, xen giữa chúng là các sườn có nguồn gốc và độ dốc khác nhau,

i) Địa hình thung lũng giữa núi (<200m), có độ dốc từ 3 - 80, phân bố khu vực trung tâm thị

xã (gồm 4 phường) và một phần xã Ia Rtô;

ii) Địa hình đồi cao (200 - 500m), có độ dốc từ 8 - 150, phân bố phía tây và phía nam Ayun

Pa ;

iii) Địa hình núi thấp (500 - 1500m), có độ dốc trên 150, phân bổ chủ yếu ở phía nam thị xã

và một phần phía tây, giáp Đăk Lăk

2.1.3 Khí hậu, thủy văn

a) Khí hậu

Ayun Pa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và tính chất vùng khí hậu Tây Nguyên

Trang 9

Nhiệt độ trung bình hàng năm 2010 là 26,40

C Số giờ nắng cả năm 2010 là 2341,9 giờ Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 (thời gian mưa nhiều nhất là vào tháng 10

và tháng 11), mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau (mưa ít nhất vào tháng 3 và tháng 4), lượng mưa trung bình hàng năm 2010 là 1329 mm, số ngày mưa trung bình năm là 144 ngày, có thể gây lũ quét Độ ẩm không khí bình quân năm 2010 khoảng 79% [25,33]

Do dãy núi phía Đông Bắc và Tây Nam án ngữ, ngăn cản hai luồng gió mùa thổi vào nên khí hậu ở đây nóng hơn, lượng mưa nhỏ hơn, không khí có độ ẩm không khí thấp hơn so với các địa bàn khác trong tỉnh Như vậy, thị xã Ayun Pa có khí hậu nóng nhất trong vùng, vừa mang tính nhiệt đới nóng, ẩm vừa mang khí hậu cao nguyên với hai mùa mưa nắng rõ rệt nên rất thuận lợi cho phát triển và đa dạng hoá các cây trồng vật nuôi Tuy nhiên về mùa mưa thường gây ngập lụt, xói lở (nhất là khu vực ven sông suối); còn mùa khô nóng gay gắt, nhiệt độ cao thường gây hạn hán ảnh hưởng đến năng suất cây trồng

b) Thuỷ văn

- Tài nguyên nước mặt: Thị xã Ayun Pa là nơi có nhiều mạng lưới sông suối, với một số các con sông suối lớn như sông Ba, sông Ayun, suối Ia Hiao, suối Ia Sol, suối Ia Tul nên tài nguyên nước mặt ở đây khá dồi dào Nước sông suối mang nhiều phù sa bồi đắp thung lũng, thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thuỷ nông quan trọng Tuy nhiên, sự phân hóa sâu sắc của lượng mưa trong năm khiến cho mùa mưa lượng nước mặt dư thừa gây xói mòn, rửa trôi đất, còn mùa khô lại thiếu nước cho sản xuất

- Tài nguyên nước ngầm: Trữ lượng nước ngầm của thị xã Ayun Pa thuộc loại nghèo Nước ngầm mạch nông lưu lượng nhỏ (các giếng đào và giếng khoan nông về mùa khô thường không có nước), đồng thời chất lượng nước không tốt, thường có nhiều cặn bám Nước ngầm mạch sâu có lượng nước lớn hơn, chất lượng nước tốt hơn

2.1.4 Thổ nhưỡng, thảm thực vật

a) Thổ nhưỡng

Trên địa bàn thị xã Ayun Pa có 8 loại đất thuộc các nhóm đất sau:

- Nhóm đất phù sa: có loại đất phù sa không được bồi (P) phân bố ở nơi có địa hình bằng phẳng, gần nguồn nước, tầng đất dày

- Nhóm đất xám: được hình thành trên nền phù sa cổ, đá magma axit và đá cát, thành phần

cơ giới nhẹ, dễ thoát nước, khả năng giữ chất dinh dưỡng kém Nhóm đất này phân bố ở nơi chuyển tiếp giữa đồi núi và thung lũng, có địa hình bằng hoặc lượn sóng và tập trung thành vùng dọc theo sông Ba, sông Ayun Đất thích hợp cho trồng cây công nghiệp ngắn ngày và trồng rừng bảo vệ đất

- Nhóm đất đỏ: bao gồm đất đỏ vàng trên đá Granit và đất mùn vàng đỏ trên đá magma axit, phân bố ở những nơi có độ cao từ 500 - 1250m; đất vàng nâu đỏ phù sa cổ và đất nâu đỏ trên đá bazan phân bố ở những nơi có địa hình khá bằng phẳng

- Nhóm đất dốc tụ: diện tích chỉ rất bé, nằm ở khu vực trung tâm thị xã

- Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: có diện tích khá lớn ở Ayun Pa, đất bị xói mòn nhiều tầng, mặt bị trơ ra những lớp đá hoặc kết von Đất phân bố ở nơi có địa hình đồi và núi thấp nhưng lượn sóng mạnh và chia cắt sâu ở độ cao từ 800 m trở xuống Nhóm đất này có tầng dày mỏng, dễ bị xói mòn, không có khả năng phục vụ phát triển nông nghiệp, do đó cần phải trồng rừng và giữ rừng

Trang 10

nhằm bảo vệ đất

b) Thực vật

Chê độ nhiệt ẩm cũng như các loại đất hiện diện trong vùng là điều kiện cơ bản tạo ra các thảm thực vật tự nhiên khá độc đáo của vùng

Thảm thực vật rừng ở Ayun Pa gồm hai kiểu rừng:

i) Kiểu rừng nguyên sinh ít bị tác động: diện tích còn rất nhỏ, chủ yếu nằm trên các dạng địa hình cao thuộc kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, phân bố chủ yếu khu vực phía đông nam tỉnh (phần giáp phía xã Uar, huyện Krông Pa) Khoảng độ cao này, nhiệt độ trung bình năm khoảng 21 - 220

C, lượng mưa tăng lên và số tháng khô hạn giảm đi so với những vùng thấp hơn nên thảm thực vật ở đây phong phú hơn

ii) Kiểu rừng thứ sinh nhân tác, chiếm phần lớn diện tích rừng của khu vực, rất nghèo về trữ lượng và thể loại, bao gồm hai kiểu thảm thực vật sau:

- Rừng kín cây lá rộng, rụng lá, hơi ẩm nhiệt đới: phân bố ở các khu vực núi thấp (từ 500 - 1233m) Bao gồm: rừng kín, cây bụi và lúa (lúa nương)

- Rừng thưa cây lá rộng, rụng lá, khô nhiệt đới: phân bố ở khu vực đồi cao (200 - 500m) và thung lũng giữa núi (<200m) Bao gồm: rừng thưa, trảng cỏ, rừng trồng, cây lâu năm, cây hàng năm

và lúa

Do ảnh hưởng của địa hình và khí hậu nên vùng rừng của Ayun Pa có rừng khộp, đây là rừng theo mùa, các loài cây sinh trưởng theo nhịp điệu không liên tục, chủ yếu là các cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) - những loài cây thường có chiều cao thấp, vỏ dày, đường kính nhỏ

Tuy có diện tích rừng rất lớn nhưng nhìn chung, rừng ở Ayun Pa nghèo về thể loại, đa số là cây họ dầu, diện tích rừng giàu phân bố ít ở vùng cao, xa trung tâm, khó khăn về giao thông nên khai thác khó khăn

2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.2.1 Dân cư, lao động

a) Dân cư

Dân số trung bình của thị xã Ayun Pa năm 2007 là 34.863 người, đến năm 2010 là 36.276 người (chiếm gần 2,9% dân số toàn tỉnh) Phân chia theo khu vực sinh sống, năm 2010 dân số thành thị chiếm 59,2 % và dân số nông thôn chiếm 40,8% dân số trung bình của toàn thị xã Mật độ dân

cư không đồng đều, tập trung chủ yếu ở khu vực nội thị với mật độ trung bình là 1.229 người/km2

, trong khi đó khu vực ngoại thị mật độ chỉ có 55 người/km2

Ayun Pa là địa bàn sinh sống của các dân tộc Jrai, Kinh và các dân tộc khác Năm 2010, người kinh chiếm 50,5% dân số thị xã, dân tộc Jrai chiếm 48,2% và dân tộc khác chiếm 1,3% Người dân tộc Jrai sinh sống chủ yếu ở các khu vực ngoại thị (chiếm 89,3% dân số khu vực ngoại thị), trong khi đó người Kinh chủ yếu sinh sống ở khu vực nội thị (chiếm 78,8% dân số khu vực nội thị)

b) Lao động

Thị xã có lực lượng lao động rất lớn chiếm 91,3% tổng nguồn lao động năm 2010 Lao động đang có sự chuyển dịch theo hướng tăng nhẹ theo khu vực (bảng 2.6 ) Tỷ trọng lao động làm việc

Trang 11

trong khu vực nông - lâm - thuỷ (khu vực I) sản rất lớn, chiếm 74,5% tổng số lao động làm việc trong nền kinh tế, trong khi đó tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực công nghiệp - xây dựng (khu vực II), thương mại - dịch vụ (khu vực III) chiếm tỷ trọng rất thấp (chiếm 25,5%) Như vậy, cơ cấu lao động của thị xã Ayun Pa chưa phản ánh đúng với một đô thị đang trên đà phát triển kinh tế -

xã hội

2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất

Trên địa bàn thị xã Ayun Pa, diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn (chiếm 61,1% diện tích tự nhiên toàn tỉnh), phân bố ở 4 xã (Ia Rbol, Chư Băh, Ia Rtô và Ia Sao), sau đó là đến đất nông nghiệp (20,7%), còn lại là đất khác (bảng 2.7 và bảng 2.8)

Bảng 2.7 Hiện trạng sử dụng đất qua các năm của thị xã Ayun Pa

- Đất sản xuất kinh doanh

- Đất đồi núi chưa sử dụng 1.647,34 1.629,22 1.629,22 1.604,56

- Núi đá không có rừng cây 90,20 90,20 90,20 90,20

Nguồn: Niên giám thống kê thị xã Ayun Pa năm 2010

2.2.3 Thực trạng phát triển kinh tế

Kể từ khi tách huyện Ayun Pa thành thị xã Ayun Pa và huyện Phú Thiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thị xã đã có những bước chuyển rõ rệt Tổng giá trị sản xuất năm 2010 gấp

Trang 12

1,6 lần so với năm 2007, trong đó khu vực III có quy mô giá trị sản xuất năm 2010 gấp 1,9 lần so với năm 2007, khu vực II tăng gấp 1,4 lần và khu vực I tăng gấp 1,3 lần so với năm 2007

Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành thời kỳ 2007 - 2010 theo xu hướng giảm dần

tỷ trọng các ngành khu vực I và khu vực III, tăng dần tỷ trọng các ngành khu vực II Cụ thể, tỷ trọng ngành khu vực I giảm đi 0,6%, khu vực II tăng 6,1% và khu vực III giảm 5,6%

Bảng 2.10 Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất thời kỳ 2007 - 2010 của thị xã Ayun Pa

Nguồn: Niên giám thống kê thị xã Ayun Pa năm 2010

2.3 Đặn điểm cảnh quan khu vực nghiên cứu

Trên cơ sở tham khảo các hệ thống phân loại cảnh quan của các tác giả trong và ngoài nước, đặc biệt là hệ thống phân loại cảnh quan của Việt Nam, tác giả đã xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan khu vực nghiên cứu gồm 4 cấp với chỉ tiêu cụ thể cho từng cấp được xem xét dưới góc độ

phân hóa theo kiểu (các đơn vị cảnh quan được xem xét theo các dấu hiệu chung, mỗi đơn vị phân

kiểu cảnh quan có tính lặp lại theo không gian): Lớp cảnh quan → Phụ lớp cảnh quan → Kiểu cảnh quan → Loại cảnh quan

Các cấp phân loại được phân chia dựa vào các dấu hiệu chủ yếu sau:

Bảng 2.14 Hệ thống phân loại cảnh quan khu vực thị xã Ayun Pa

cảnh quan

Đặc điểm hình thái phát sinh của các khối địa hình lớn quy định tính đồng nhất của hai quá trình lớn trong chu trình vật chất bóc mòn và tích tụ

Tên gọi: lớp cảnh quan núi

2 Phụ lớp

cảnh quan

Đặc trưng sự phân tầng, mức độ chia cắt của địa hình và các quá trình địa lý bên trong của lớp, quyết định cường độ và xu hướng các quá trình trao đổi vật chất và năng lượng

- Phụ lớp cảnh quan thung lũng, có độ cao dưới 200m, phân bố ở các khu vực phía bắc và đông bắc Ayun Pa

Trang 13

3

Kiểu cảnh quan

Những đặc điểm sinh khí hậu quy định kiểu thảm thực vật, tính chất thích ứng của đặc điểm phát sinh quần thể thực vật theo đặc trưng biến động của cân bằng nhiệt ẩm

Tên gọi:

- Kiểu cảnh quan rừng kín cây lá rộng, hơi ẩm nhiệt đới trên núi thấp;

- Kiểu cảnh quan rừng thưa cây lá rộng, rụng lá, khô nhiệt đới trên đồi cao;

- Kiểu cảnh quan rừng thưa cây lá rộng, rụng lá, khô nhiệt đới thung lũng giữa núi

4

Loại cảnh quan

Sự kết hợp của các quần xã thực vật phát sinh và hiện tại với loại đất Bao gồm 38 loại cảnh quan

Các phụ lớp cảnh quan khu vực Ayun Pa được đặc trưng bởi sự phân tầng theo đai cao, độ chia cắt sâu tương đối lớn và các quá trình địa lý tự nhiên ưu thế, quyết định cường độ và xu hướng của quá trình trao đổi vật chất và năng lượng đặc thù riêng cho từng phụ lớp Dựa trên các chỉ tiêu phân kiểu đơn vị cảnh quan, lãnh thổ Ayun Pa bao gồm: 01 lớp cảnh quan, 03 phụ lớp cảnh quan,

03 kiểu cảnh quan, 38 loại cảnh quan Trong lãnh thổ nghiên cứu thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa các đơn vị cảnh quan cùng cấp và đơn vị cảnh quan ở các cấp bậc khác nhau Đánh giá từng đơn vị cảnh quan để làm rõ mối quan hệ của mỗi đơn vị cảnh quan trong toàn hệ thống

Loại cảnh quan là những đơn vị được phân hoá trong hạng cảnh quan theo nền nhiệt ẩm - thổ nhưỡng và các quần xã thực vật phát sinh và hiện tại

Mỗi loại cảnh quan sẽ đặc trưng cho mối quan hệ tương hỗ giữa các nhóm quần xã thực vật phát sinh và hiện đại với các loại đất Khu vực nghiên cứu phân hóa thành 38 loại cảnh quan với 9 quần xã thực vật phát triển trên 8 loại đất

Kết luận chương 2:

Từ những nghiên cứu và phân tích đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực thị

xã Ayun Pa có thể rút ra một số các kết luận sau:

- Về điều kiện tự nhiên: Ayun Pa là khu vực có diện tích không lớn (28.752,4 ha - chiếm 1,9% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh) nhưng lại có sự phân hóa sâu sắc về các hợp phần thành tạo cảnh quan: i) Vị trí Ayun Pa nằm trong khu vực vừa mang tính nhiệt đới nóng, ẩm vừa mang khí hậu cao nguyên với hai mùa mưa nắng rõ rệt, không chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, có mùa khô kéo dài, đây là khu vực khô nóng nhất tỉnh Gia Lai; ii) Lịch sử địa chất của khu vực Ayun Pa

đã phân chia lãnh thổ thành 11 vùng địa mạo có cấu trúc và địa hình khác nhau; iii) Sự tương tác giữa nền tảng rắn và nền tảng nhiệt ẩm cùng với các đặc điểm sinh khí hậu địa phương và các hoạt động nhân sinh đã tạo nên sự đa dạng về lớp phủ thổ nhưỡng - quần xã sinh vật của khu vực nghiên cứu

- Về điều kiện kinh tế - xã hội: i) Là khu vực có mật độ dân cư không đồng đều, tập trung chủ yếu ở khu vực nội thị với mật độ trung bình là 1.229 người/km2

còn các khu vực ngoại thị diện tích lớn thì mật độ chỉ có 55 người/km2

(chủ yếu là dân tộc Jrai chiếm 89,3%), điều này dẫn đến việc khai thác tài nguyên và sử dụng lao động giữa các vùng chưa hợp lí mà còn góp phần tăng sự chênh lệch về kinh tế - xã hội giữa các vùng trong địa bàn nghiên cứu ii) Cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành có xu hướng giảm dần tỷ trọng ngành khu vực I và khu vực III, tăng dần tỷ trọng ngành

Trang 14

khu vực II Tỷ trọng lao động làm việc trong khi vực I rất lớn (chiếm 74,5% tổng số lao động, trong

đó lao động ngành nông nghiệp chiếm 97,7 %), giá trị sản xuất ngành này trong những năm qua tăng nhanh chóng, ngành nông nghiệp đóng góp tỷ trọng lớn nhất (chiếm 97,8%)

- Sự phân hóa các điều kiện tự nhiên và cảnh quan khu vực thị xã Ayun Pa bị chi phối bởi các quy luật địa đới và phi địa đới (đai cao), quy định những nét đặc thù riêng của cảnh quan Ayun

Pa với hệ thống phân loại gồm 04 cấp: Lớp cảnh quan → Phụ lớp cảnh quan → Kiểu cảnh quan → Loại cảnh quan Kết quả nghiên cứu cấu trúc cảnh quan đƣợc thể hiện trên bản đồ cảnh quan khu vực Ayun Pa tỉ lệ 1:50.000 với 01 lớp cảnh quan, 03 phụ lớp cảnh quan, 03 kiểu cảnh quan, 38 loại cảnh quan

Ngày đăng: 10/02/2014, 20:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cấu trúc và mối liên hệ giữa các hợp phần trong mô hình hệ kinh tế sinh thái [9] - Nghiên cứu xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ định hướng phát triển bền vững thị xã ayun pa, tỉnh gia lai
Hình 1.1. Cấu trúc và mối liên hệ giữa các hợp phần trong mô hình hệ kinh tế sinh thái [9] (Trang 4)
Bảng 2.7. Hiện trạng sử dụng đất qua các năm của thị xã Ayun Pa - Nghiên cứu xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ định hướng phát triển bền vững thị xã ayun pa, tỉnh gia lai
Bảng 2.7. Hiện trạng sử dụng đất qua các năm của thị xã Ayun Pa (Trang 11)
Bảng 2.14. Hệ thống phân loại cảnh quan khu vực thị xã Ayun Pa - Nghiên cứu xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ định hướng phát triển bền vững thị xã ayun pa, tỉnh gia lai
Bảng 2.14. Hệ thống phân loại cảnh quan khu vực thị xã Ayun Pa (Trang 12)
Bảng 2.10.  Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất thời kỳ 2007 - 2010 của thị xã Ayun Pa - Nghiên cứu xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ định hướng phát triển bền vững thị xã ayun pa, tỉnh gia lai
Bảng 2.10. Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất thời kỳ 2007 - 2010 của thị xã Ayun Pa (Trang 12)
Bảng 3.2. Kết quả tổng hợp sau quá trình đánh giá - Nghiên cứu xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ định hướng phát triển bền vững thị xã ayun pa, tỉnh gia lai
Bảng 3.2. Kết quả tổng hợp sau quá trình đánh giá (Trang 17)
Bảng 3.6. Mô hình kinh tế sinh thái hiện trạng thị xã Ayun Pa - Nghiên cứu xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ định hướng phát triển bền vững thị xã ayun pa, tỉnh gia lai
Bảng 3.6. Mô hình kinh tế sinh thái hiện trạng thị xã Ayun Pa (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w