Trong quá trình thực hiện đề tài “Nâng cao chất lượng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Quang Minh ”, em
Trang 2HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA NGÂN HÀNG
CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH QUANG MINH
Sinh viên thực hiện
Hà Nội, tháng 05 năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những nội dung trong bài khóa luận tốt nghiệp dưới đây làkết quả nghiên cứu của riêng em sau quá trình tìm hiểu thực tế tại ngân hàng
Các số liệu trong khóa luận có nguồn gốc rõ ràng, được thu thập dựa trênnhững tài liệu có thực của ngân hàng, tuân thủ đúng nguyên tắc về trình bày trongkhóa luận
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Sinh viên
Nguyễn Thùy Trang
i
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của khoa Ngân hàng - Học viện Ngân hàng và sự đồng ýcủa giảng viên hướng dẫn Ths Nguyễn Thị Thu Trang, em đã thực hiện khóa luậntốt nghiệp với đề tài ii Nang cao chất lượng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Quang Minh’”.
Trong quá trình thực hiện đề tài “Nâng cao chất lượng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Quang Minh ”, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
của các giảng viên trường Học viện Ngân hàng, đặc biệt là các thầy cô khoa ngânhàng, cùng với các anh chị phòng Khách hàng doanh nghiệp của ngân hàngVietinbank chi nhánh Quang Minh, em xin thật lòng cảm ơn và trân trọng sự giúp
đỡ của mọi người
Để có thể hoàn thành khóa luận này, em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy côgiảng dạy tại trường Học viện Ngân hàng vì sự nhiệt tình trong việc hướng dẫn vàgiảng dạy trong suốt quá trình học tập tại trường Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắcđến ThS Nguyễn Thị Thu Trang đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho em hoànthành bài khóa luận này
Em cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè và người thân đã động viên tinh thần
và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thànhbài khóa luận này
Mặc dù em đã cố gắng hoàn thành đề tài một cách tốt nhất nhưng do việc hạnchế về kinh nghiệm và kiến thức nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy,
em rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy Cô để bài làm được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thùy Trang
ii
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu: 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
7 Kết cấu khóa luận 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế 4
1.1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ 4
1.1.2 Vai trò và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ 6
1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ9 1.2.1 Khái niệm cho vay 9
1.2.2 Các hình thức cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 9
1.2.3 Các nhân tố cơ bản trong cho vay của ngân hàng 13
1.2.4 Đặc điểm của hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 14 1.2.5 Vai trò của hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 16
1.3 Chất lượng cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 18
1.3.1 Quan điểm về chất lượng cho vay 18
1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 18
1.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 19
iii
Trang 61.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH QUANG MINH 31
2.1 Khái quát chung về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Quang Minh 31
2.1.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Quang Minh 31
2.1.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh tại Vietinbank Quang Minh 35
2.2 Thực trạng chất lượng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Quang Minh 40
2.2.1 Thực trạng chất lượng cho vay đối với DNVVN của Chi nhánh qua các chỉ tiêu định tính 40
2.2.2 Thực trạng chất lượng cho vay đối với DNVVN của Vietinbank Quang Minh qua các chỉ tiêu định lượng 44
2.3 Đánh giá chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 51
2.3.1 Những kết quả đã đạt được 51
2.3.2 Nguyên nhân và hạn chế 52
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH QUANG MINH 56
3.1 Định hướng nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 56
3.1.1 Phương hướng phát triển chung của Vietinbank Quang Minh 56
3.1.2 Định hướng nâng cao chất lượng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong năm 2021 57
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietinbank Quang Minh 57
3.2.1 Đa dạng hóa hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 57
3.2.2 Xây dựng chiến lược Marketing 58
3.2.3 Đẩy mạnh họat động tư vấn đối với DNVVN 59
iv
Trang 7Từ viết tắt Nguyên nghĩa
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ ban ngành liên quan 613.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 623.3.3 Kiến nghị với Vietinbank 62
v
DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 8BCTC Báo cáo tài chính
Trang 9Bảng Trang
Bảng 2.1 Ket quả huy động vốn tại Vietinbank Quang Minh 35
Bảng 2.2 Hoạt động sử dụng vốn tại Vietinbank Quang Minh 37
Bảng 2.8 Dự phòng cụ thể và dự phòng chung đối với DNVVN 50
Biểu đồ 2.1 Doanh thu của KHDN tham gia khảo sát 40
Biểu đồ 2.3 Thời gian hợp tác với Vietinbank Quang Minh 41Biểu đồ 2.4 Mức độ hài lòng của KH về quy trình cho vay 42
Biểu đồ 2.7 Độ phân tán tín dụng theo mục đích cho vay 46
Biểu đồ 2.8 Đánh giá của KH về các dịch vụ và tiện ích khác của
Trang 10vii
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, các DNVVN đã liên tục tăng trưởng về mặt sốlượng lẫn chất lượng, và ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của mình, mang lạinhiều đóng góp cho nền kinh tế Việt Nam Vì vậy, Chính phủ cũng xây dựng nhiềuchính sách phù hợp để các DNVVN có thể phát triển, khẳng định vị thế của doanhnghiệp Việt Nam Trong suốt thời kỳ hoạt động của mình thì nhu cầu về vốn của họ
là rất lớn Nắm bắt được xu hướng đó nên các ngân hàng không ngừng ra mắt cácsản phẩm mới, phong phú và phù hợp hơn với nhu cầu và mục đích sử dụng vốnvay của KH là các DNVVN vì ngân hàng đánh giá đây là một trong số các KH tiềmnăng có thể giúp ngân hàng tăng lợi nhuận, mở rộng quy mô của mình Tuy nhiên,trên thực tế các DNVVN còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn và sửdụng nó sao cho có thể đạt được hiệu suất cao Hơn nữa, các NHTM cũng vẫn cònnhiều hạn chế trong hoạt động cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này
Nhận thấy được khả năng, những hứa hẹn đầy triển vọng từ các DNVVN,Vietinbank Quang Minh cũng đã xây dựng thêm nhiều chính sách, phương án để cóthể nâng cao chất lượng cho vay và có thể cung cấp các sản phẩm phù hợp với cácdoanh nghiệp này Tuy nhiên, dù đã có những kết quả khả quan thì chất lượng củahoạt động cho vay của Chi nhánh vẫn còn những điểm thiếu sót Từ những trảinghiệm thực tế khi đi thực tập tại Chi nhánh thì em thấy dư nợ cho vay DNVVNcòn chưa thực sự tốt, rồi các chỉ tiêu như chỉ tiêu vòng quay vốn TD, chỉ tiêu tỷ lệ
nợ quá hạn cũng vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn dù Chi nhánh đượcđặt trong khu công nghiệp Quang Minh, nơi mà các công ty, xí nghiệp liên doanhhoạt động rất nhiều Do trong năm 2020 dịch bệnh hoành hành khiến cho tình hìnhSXKD của các doanh nghiệp bị trì trệ nhưng Ngân hàng Nhà nước đã và đang đưa
ra nhiều chính sách mới, phù hợp hơn để điều chỉnh mức lãi suất cho vay thích hợpnhất với doanh nghiệp để họ có thể phát triển trong tình hình bình thường mới Chonên, Chi nhánh cần tập trung hơn nữa vào các chính sách để nâng cao chất lượngcho vay đối với các KH là DNVVN để có thể cải thiện tình hình và đem về nhiềulợi nhuận hơn cho Chi nhánh
1
Trang 12Xuất phát từ những đặc điểm thực tế phát sinh ở trên, em đã chọn đề tài:
“Nâng cao chất lượng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Quang Minh”
làm đề tài cho bài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu của đề tài để làm rõ các vấn đề dưới đây:
- Trình bày được cơ sở lý luận cho vay đối với KH DNVVN của VietinbankQuang Minh
- Từ đó, phân tích thực trạng của hoạt động cho vay đối với KH DNVVN tạiVietinbank Quang Minh, sau đó có thể tìm ra được những hạn chế còn hiệnhữu và nguyên nhân gây ra
- Từ những hạn chế và nguyên nhân đó, bài khóa luận có thể đề xuất một sốgiải pháp nhằm củng cố, nâng cao hơn nữa chất lượng cho vay đối với KHDNVVN của Vietinbank Quang Minh
3 Đối tượng nghiên cứu:
Chất lượng cho vay đối với KH DNVVN tại Ngân hàng TMCP Côngthương Việt Nam chi nhánh Quang Minh
4 Phạm vi nghiên cứu
Chất lượng cho vay đối với KH là DNVVN tại Ngân hàng TMCPCông thương Việt Nam chi nhánh Quang Minh qua 3 năm từ năm 2018 đếnnăm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Bài khóa luận chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, tổnghợp từ thông tin, tài liệu của ngân hàng, lập bảng hỏi
6 Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Khóa luận tốt nghiệp của Ngô Thu Trang (2012) giải pháp nâng cao chấtlượng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng đầu tư và phát triểnViệt Nam - chi nhánh Quang Trung đã đưa ra bức tranh toàn cảnh về hoạtđộng cho vay đối với DNVVN và đưa ra những lý do cần thiết để nâng caohoạt động này Là một tài liệu tham khảo có giá trị cao với Chi nhánh
- Khóa luận tốt nghiệp của Đinh Khắc Nghĩa (2015) giải pháp nâng cao chấtlượng cho vay tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh
2
Trang 13huyện Đầm Hà đã nghiên cứu thực trạng chất lượng cho vay tại chi nhánhĐầm Hà và đưa ra được nhiều giải pháp.
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hữu Mạnh Cường (2015) phân tích tình hìnhcho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoạithương Việt Nam, chi nhánh Đắk Lắk đã tổng hợp các lý luận chung về chovay khách hàng doanh nghiệp Từ đó phân tích thực trạng cho vay kháchhàng doanh nghiệp tại chi nhánh Đắk Lắk
- Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thu Hương (2012) nâng cao chấtlượng cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần Côngthương Việt Nam- chi nhánh Uông Bí đã đưa ra các phân tích cá nhân về tìnhhình cho vay khách hàng cá nhân và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng cho khách hàng cá nhân
- Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Quỳnh Anh (2018) nâng cao chất lượng dịch
vụ cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông chi nhánh Huế đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng dịch
Á-vụ cho vay khách hàng cá nhân của NHTM Đề xuất giải pháp nâng cao chấtlượng dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Đông Á chinhánh Huế trong thời gian tới
- Khóa luận tốt nghiệp của Phạm Thị Thùy Trang (2018) phát triển tín dụngkhách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc dân NVBgiai đoạn 2015 - 2017 đã phân tích thực trạng phát triển tín dụng khách hàngdoanh nghiệp tại ngân hàng NCB từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực đểphát triển hoạt động tín dụng khách hàng doanh nghiệp
7 Ket cấu khóa luận
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng cho vay đối với khách hàngdoanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay đối với khách hàng doanhnghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánhQuang Minh
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với doanhnghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánhQuang Minh
3
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
1.1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh
tế có tư cách pháp nhân được tổ chức ra để hoạt động kinh doanh trong mộtlĩnh vực nhất định với mục đích công ích hoặc thu lợi nhuận Thông thườngcần có 3 điều kiện sau để được công nhận là một doanh nghiệp:
- Có tư cách pháp nhân đầy đủ
Thứ nhất: Dựa vào các quan hệ sở hữu về vốn và tài sản, các doanh
nghiệp được chia thành doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân,doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp Cụ thể:
- Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập, đầu
tư vốn và quản lý nó với tư cách là chủ sở hữu
- Doanh nghiệp tư nhân là những doanh nghiệp do cá nhân đầu tư vốn
và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp là các doanh nghiệp có sự đan xen củacác hình thức sở hữu khác nhau trong cùng một doanh nghiệp
Cách phân loại này chỉ rõ quan hệ sở hữu về vốn và tài sản trong cácdoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Đồng thời là mộttrong các căn cứ để Nhà nước có những chính sách kinh tế và định hướngphát triển phù hợp đối với từng loại doanh nghiệp
4
Trang 15Lĩnh vực Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản,
công nghiệp, xây dựng Thương mại, dịch vụ
Thứ hai: Dựa vào mục đích kinh doanh, các doanh nghiệp được chia
thành doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động côngích Cụ thể:
- Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh là tổ chức kinh tế do Nhà nướcthành lập hoặc thừa nhận, hoạt động kinh doanh theo cơ chế thịtrường Mục tiêu số một là thu được lợi nhuận tối đa
- Doanh nghiệp hoạt động công ích (thường là doanh nghiệp Nhà nước)
là tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động về sản xuất, lưu thông haycung cấp các dịch vụ công cộng, trực tiếp thực hiện các chính sách xãhội của Nhà nước hoặc thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng Mụctiêu chính của các doanh nghiệp này là hiệu quả kinh tế và xã hội
Thứ ba: Dựa vào lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có thể chia
làm hai loại là doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính Cụ thể:
- Doanh nghiệp tài chính là các tổ chức tài chính trung gian như cácngân hàng thương mại (NHTM), công ty tài chính, công ty bảohiểm, Những doanh nghiệp này có khả năng cung ứng cho nền kinh
tế các loại dịch vụ về tài chính, tiền tệ, tín dụng, bảo hiểm,
- Doanh nghiệp phi tài chính là các doanh nghiệp lấy việc SXKD làmhoạt động chính
Phân loại theo tiêu thức này chỉ ra chức năng của từng loại doanhnghiệp, qua tiêu thức phân loại này Nhà nước có thêm căn cứ để hoạch địnhcác chính sách quản lý phù hợp với mỗi loại hình doanh nghiệp trong từngngành nghề
Thứ tư: Dựa vào quy mô kinh doanh người ta chia doanh nghiệp
thành các loại doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ
Theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP năm 2018 của Chính phủ, doanhnghiệp vừa và nhỏ được chia thành 3 cấp độ, cụ thể như sau:
5Bảng 1.1 Phân loại DNVVN
Trang 16nghiệp siêu
nhỏ
Có số lao độngtham gia BHXHbình quân nămkhông quá 10người
Tổng doanh thucủa năm khôngquá 3 tỷ đồnghoặc tổng nguồnvốn không quá 3
tỷ đồng
Có số lao độngtham gia BHXHbình quân nămkhông quá 10người
Tổng doanh thucủa năm khôngquá 10 tỷ đồnghoặc tổng nguồnvốn không quá 3
tỷ đồng
Doanh
nghiệp nhỏ
Có số lao độngtham gia BHXHbình quân nămkhông quá 100người
Tổng doanh thucủa năm khôngquá 50 tỷ đồnghoặc tổng nguồnvốn không quá
20 tỷ đồng
Có số lao độngtham gia BHXHbình quân nămkhông quá 50người
Tổng doanh thucủa năm khôngquá 100 tỷ đồnghoặc tổng nguồnvốn không quá
50 tỷ đồng
Doanh
nghiệp vừa
Có số lao độngtham gia BHXHbình quân nămkhông quá 200người
Tổng doanh thucủa năm khôngquá 200 tỷ đồnghoặc tổng nguồnvốn không quá
100 tỷ đồng
Có số lao độngtham gia BHXHbình quân nămkhông quá 100người
Tổng doanh thucủa năm khôngquá 300 tỷ đồnghoặc tổng nguồnvốn không quá
100 tỷ đồng
Trang 171.1.2 Vai trò và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.2.1. Vai trò doanh nghiệp vừa và nhỏ
Xét về mặt lịch sử, sự ra đời và phát triển của các nước tư bản có nền đạicông nghiệp phát triển gắn với những công ty, tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay thì
sự khởi đầu của họ cũng là những xí nghiệp, công trường thủ công sản xuất nhỏ.Trong quá trình phát triển, sự tích tụ và tập trung vốn cùng với quá trình cạnh tranh
6
Trang 18gay gắt giữa những xí nghiệp trong nước và ngoài nước đã tạo ra những tập đoànkinh tế lớn như ngày nay Tuy vậy, ngay cả ở các nước tư bản phát triển, cácDNVVN vẫn giữ một vị trí quan trọng và ngày càng được khẳng định, bởi vì nhiềulĩnh vực kinh tế chỉ có thể SXKD có hiệu quả bởi các DNVVN Trải qua nhiều thời
kỳ kinh tế, đặc biệt là sau những thời kỳ suy thoái kinh tế, người ta luận ra rằng khuvực DNVVN là nhân tố cực kì quan trọng thúc đẩy và mở rộng cạnh trạnh, bảo đảm
và ổn định kinh tế, phòng chống nguy cơ khủng hoảng Thật vậy, khu vực DNVVN
là xương sống trong nền kinh tế của nhiều quốc gia hiện tại và cả tương lai Đặc biệtkhi cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ ngày càng phát triển đã tạo điều kiệncho các DNVVN nhiều cơ hội tập trung kỹ thuật, có khả năng sản xuất các sảnphẩm không thua kém các doanh nghiệp lớn Mặt khác, xét trên phạm vi toàn cầuhiện nay về tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đang chuyển từ cạnh tranhgiá cả sang cạnh tranh về chất lượng và công nghệ Trong điều kiện này, lợi thế củacác doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ bị giảm sút Sự phát triển của chuyên môn hóa
và hợp tác hóa đã không cho phép một doanh nghiệp tự khép kín chu trình SXKDmột cách có hiệu quả, mà với mô hình sản xuất kiểu vệ tinh, trong đó các DNVVN
là vệ tinh của các doanh nghiệp lớn tỏ ra rất thích hợp
Như vậy, một nền kinh tế hiện đại thì DNVVN ngày càng không thể tan biếntrong các tập đoàn kinh tế lớn mà khả năng hợp tác để mở rộng lại ngày càng tăng
Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, tiến tới nền kinh tế thị trườngthì DNVVN càng có ý nghĩa quan trọng Điều đó được thể hiện cụ thể trên các mặtsau:
- Các DNVVN đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hóa vàcung cấp dịch vụ, có vai trò bổ sung cho các doanh nghiệp lớn, là xínghiệp gia công vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn cùng hệ thống và làmạng lưới tiêu thụ hàng hóa cho các doanh nghiệp lớn
- Các DNVVN đáp ứng tích cực, kịp thời nhu cầu tiêu dung ngày càngphong phú và đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm đượcchế biến hàng hóa xuất khẩu và tăng kim ngạch xuất khẩu Hệ thốngsiêu thị cũng không thể thay thế được các cửa hàng bán lẻ, những nhà
7
Trang 19máy quy mô lớn không sản xuất được những sản phẩm đơn chiếc,mang tính thủ công Bằng sự đa dạng ngành nghề, các DNVVN sẽ cónhiều thuận lợi trong sản xuất và cung cấp dịch vụ, đáp ứng mọi nhucầu tiêu dùng xã hội Với lợi thế so sánh về các nguyên liệu nông, lâm,thủy sản để sản xuất hàng hóa xuất khẩu, lợi thế về ngành nghề thủcông truyền thống đã tạo ra khả năng vô cùng to lớn cho khu vựcDNVVN tham gia sản xuất gia công chế biến, đại lý khai thác choxuất khẩu.
- Các DNVVN có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địaphương, khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng sản xuất Pháttriển DNVVN sẽ giúp các địa phương khái thác thế mạnh về đất đai,tài nguyên, lao động trong mọi lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế địaphương Từng địa phương cũng bị giới hạn bởi ngân sách, khả năngtích tụ và tập trung vốn của doanh nghiệp tư nhân không nhiều nênviệc phát triển doanh nghiệp lớn là hạn chế Chính vì vậy, Đảng vàChính phủ ta đưa ra các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại
ở vùng núi phía Bắc, vùng cao nguyên Nam Trung Bộ và phát huy cáclàng nghề truyền thống
Như vậy, có thể khẳng định vị trí và vai trò của các DNVVN, đồngthời việc chú trọng phát triển các DNVVN là một trong những hướngchiến lược quan trọng quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
1.1.2.2. Một số đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Xét về ưu điểm: DNVVN tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh
tế Ở nước ta Bên cạnh đó, các DNVVN còn có tính năng động và linh hoạtcao trước những thay đổi của thị trường, có khả năng chuyển hướng kinhdoanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh vì vốn đầu tư ít, và thu hồi vốnnhanh Chính vì vậy, các DNVVN dễ phát huy được bản chất hợp tác, có thểduy trì tự do cạnh tranh và phát huy tiềm lực ở trong nước Hơn nữa, cácdoanh nghiệp này có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, hiệu quả nên cácquyết định quản lý đưa ra được thực hiện một cách nhanh chóng, không ách
8
Trang 20tắc và tránh phiền hà nên có thể tiết kiệm tối đa chi phí quản lý doanh nghiệp.Xét về số vốn đầu tư thì các DNVVN có vốn ban đầu ít, có khả năng thu hồi
vốn nhanh qua các hoạt động SXKD, có hiệu quả sử dụng vốn cao và ít xảy
ra rủi ro trong quá trình hoạt động nên rạo ra nhiều khả năng đầu tư của các
cá nhân và mọi thành phần kinh tế
Bên cạnh những ưu điểm nói trên, thì các DNVVN vẫn còn bộc lộnhững điểm hạn chế như nguồn tài chính hạn hẹp nên quá trình tích tụ và tậptrung để đầu tư tái sản xuất diễn ra rất chậm chạp, trình độ quản lý SXKDcòn nhiều hạn chế, khó khăn thâm nhập vào thị trường thế giới và khu vực
1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1 Khái niệm cho vay
Theo Khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2017 thì: “Cho vay
là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao chokhách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thờigian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
Theo đó, việc NHTM cho các DNVVN vay vốn sẽ dựa theo đúng cácquy định của Luật Các tổ chức tín dụng 2017 đã ban hành, Ngân hàng sẽ chocác doanh nghiệp vay tiền phục vụ cho việc SXKD thông qua các thỏa thuận,cam kết giữa hai bên và phía các doanh nghiệp sẽ có nghĩa vụ đóng lãi vàhoàn trả toàn bộ số tiền đã vay của ngân hàng theo đúng thời hạn đã cam kết
1.2.2 Các hình thức cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại các hình thức và sản phẩm cho vayđối với DNVVN Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học nhằm mục đíchgiúp cho các ngân hàng có thể thiết lập các quy trình cho vay thích hợp vànâng cao hiệu quả của công tác quản trị rủi ro của việc cho vay Tuy nhiên,đối với việc cho các DNVVN vay vốn, việc phân loại cho vay sẽ được dựavào các căn cứ sau đây:
9
Trang 21- Cho vay công nghiệp và thương mại: Đây là loại cho vay ngắn hạncủa ngân hàng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực côngnghiệp, thương mại và dịch vụ nhằm để bổ sung vốn lưu động cho cácdoanh nghiệp này.
- Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay phục vụ cho mục đích trangtrải các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng,thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu,
1.2.2.2. Thời hạn cho vay
Theo tiêu thức này, việc cho vay đối với DNVVN đượcchia thành 3 loại:
- Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được
sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp vàcác nhu cầu chỉ tiêu ngắn hạn của các thể nhân
- Cho vay trung hạn: Là các món vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60tháng Chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cảitiến hoặc đổi mới thiết bọ, công nghệ, mở rộng SXKD, xây dựng các
dự án mới có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh Bên cạnhđầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn hình thànhvốn lưu động thường xuyên cho của các doanh nghiệp, đặc biệt là cácdoanh nghiệp mới hoạt động
- Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn vay trên 05 năm và thờihạn tối đa có thể lên tới 20 - 30 năm Chủ yếu được sử dụng để thựchiện các dự án đầu tư mới, mở rộng sản xuất, đáp ứng nhu cầu xây
10
Trang 22dựng nhà ở, mua sắm, đầu tư phương tiện vận tải có quy mô lớn, xâydựng xí nghiệp, dây chuyền, nhà máy sản xuất.
Thời hạn vay vốn của các DNVVN chủ yếu là ở mức ngắn hạn.Các doanh nghiệp này vay vốn để trực tiếp thực hiện việc SXKD và mởrộng các hoạt động kinh doanh nên nguồn vốn vay sẽ có vòng quay ngắn,nguồn vốn đầu tư sẽ nhanh chóng được thu hồi do việc SXKD của cácDNVVN mang tính thời vụ và có chu kỳ Chính vì thế thời gian vay vốncủa các doanh nghiệp này chủ yếu nằm trong khoảng thời gian từ 6 thángđến 12 tháng
1.2.2.3. Mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Theo tiêu thức này, việc cho vay đối với DNVVN được chiathành 02 loại:
- Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấphoặc cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vaychỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng Đối với những kháchhàng tốt, có uy tín cao, có khả năng tài chính vững mạnh, quản trị cóhiệu quả thì ngân hàng có thể cấp giới hạn tín dụng dựa vào uy tín củakhách hàng mà không cần một nguồn thu thứ hai bổ sung
- Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm nhưthế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba Đốivới khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốnđòi hỏi phải có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợthứ nhất thiếu tính chắc chắn
Hiện nay, dựa theo mức độ tín nhiệm đối với các khách hàng thìcác NHTM chủ yếu cho DNVVN vay theo hình thức cho vay có bảođảm Nguyên nhân của việc này là để hạn chế tối đa rủi ro tín dụngkhi mà việc SXKD của các DNVVN chỉ mang tính thời vụ, không có
dự án cụ thể nên sẽ không chứng minh được lợi nhuận cũng nhưdoanh thu của dự án
11
Trang 23Tuy nhiên, đối với các khách hàng là doanh nghiệp có quan hệ lâunăm, thân thiết với ngân hàng thì sẽ được ngân hàng ưu đãi hơn vềtổng số tiền cho vay hoặc thời gian đáo hạn sẽ được gia tăng hơn.
1.2.2.4. Phương pháp cho vay
Dựa vào tiêu thức này, chúng ta có thể chia thành các kiểu chovay sau đây:
- Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay nhiều lần cách biệtnhau đối với khách hàng không có nhu cầu thường xuyên và chỉ vaytrong trường hợp cần thiết để ngân hàng tham gia vào một giai đoạnnhất định của chu kỳ SXKD Khi cần vay vốn, khách hàng làm đơnyêu cầu và trình phương án sử dụng vốn vay gửi đến Ngân hàng.Ngân hàng sẽ phân tích phương án, đánh giá khách hàng và ký hợpđồng cho vay xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạntrả nợ, lãi suất và yêu cầu bảo đảm nếu cần
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là hình thức cho vay mà theo đóNgân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tíndụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định Hạn mức tín dụngnày được xác định dựa trên kế hoạch SXKD, nhu cầu vay vốn và nhucầu vốn của doanh nghiệp Han mức tín dụng có thể tính cho cả kỳhoặc cuối kỳ Mỗi lần khách hàng vay chỉ cần trình bày phương án sửdụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hóa dịch vụ
và nêu yêu cầu vay Sauk hi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ củachứng từ vay, ngân hàng sẽ giải ngân cho khách hàng
- Cho vay luân chuyển: Là hoạt động cho vay dựa trên luân chuyểnhàng hóa, áp dụng đối với doanh nghiệp thương mại hoặc doanhnghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trảthường xuyên với ngân hàng Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếuvốn, ngân hàng có thể cho vay để mua hàng hóa và sẽ thu nợ khidoanh nghiệp bán hàng Đầu năm hoặc đầu quý, doanh nghiệp phảilàm đơn xin vay luân chuyển, Ngân hàng cùng khách hàng thỏa thuận
12
Trang 24với nhau về phương thức cho vay, hạn mức tín dụng và các nguồncung cấp hàng hóa cũng như khả năng tiêu thụ Khi vay, khách hàngchỉ cần gửi đến Ngân hàng các chứng từ, hóa đơn nhận hàng và sốtiền cần vay, Ngân hàng sẽ thực hiện trả tiền người bán Các khoảnphải thu và cả hàng hóa trong kho trở thành vật bảo đảm cho khoảnvay tại Ngân hàng.
Hiện nay, các DNVVN chủ yếu được ngân hàng sử dụng phương
án cho vay trực tiếp từng lần, Điều này cũng dễ hiểu vì các DNVVNchỉ vay khi họ thực sự thiếu vốn để SXKD và quá trình thu hồi vốncủa họ diễn ra nhanh
1.2.3 Các nhân tố cơ bản trong cho vay của ngân hàng
1.2.3.1. Nguồn vốn cho vay
Vốn cho vay được ngân hàng huy động từ các nguồn khácnhau như:
- Vốn tự có của ngân hàng: chiếm một tỷ trọng không cao trong cơ cấu
nguồn vốn của ngân hàng
- Nguồn vốn huy động tiền gửi ngắn hạn trong nước:
- Huy động tiền gửi trung và dài hạn trong nước:
- Vốn vay thị trường trong và ngoài nước
- Vốn ủy thác tài trợ phát triển
- Các quỹ đầu tư phát triển theo nguồn vốn ODA và các nguồn khác
1.2.3.2. Thời hạn cho vay
Đây là một yếu tố quan trọng trong hoạt động cho vay Nó là
cơ sở để xác định lợi tức mà DNVVN phải trả cho ngân hàng Có hailoại thời hạn là:
- Thời hạn cho vay chung: Được tính từ khi bắt đầu cấp vốn đến khihoàn trả xong khoản tiền đó Thời hạn cho vay chung là thời hạnnguồn vốn được sử dụng chính thức trong hợp đồng cho vay
13
Trang 25- Thời hạn cho vay trung bình: Là khoảng thời gian mà toàn bộ số tiềnvay được sử dụng Thông thường thời hạn cho vay trung bình nhỏ hơnthời hạn cho vay chung trừ khi vốn vay được cấp và hoàn trả một lần.
1.2.3.3. Lãi suất cho vay
- Lãi suất cho vay là tỷ lệ tính trên tổng số vốn vay mà DNVVN phảitrả cho Ngân hàng để được sử dụng vốn vay Nói một cách khác, lãisuất cho vay chính là giá cả của khoản vay đó và cũng như giá cả củamọi loại hàng hóa khác, lãi suất chủ yếu được tạo ra bởi cung cầu vềvốn Bên cạnh đó, lãi suất còn phụ thuộc và mức độ rủi ro, số lượngvốn vay, thời hạn vốn vay và tình hình kinh tế
- Lãi suất hiện nay ở nước ta đang áp dụng phổ biến là lãi suất thỏathuận
1.2.3.4. Hạn mức cho vay
- Hạn mức cho vay là lượng vốn tối đa mà Ngân hàng nhà nước chophép các NHTM có thể cho DNVVN vay lại và hạn mức vay còn phụthuộc vào chính sách riêng của Ngân hàng đó
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 128 của Văn bản hợp nhất VPQH năm 2017 về hợp nhất luật các tổ chức tín dụng do văn phòngQuốc hội ban hành ngày 12/12/2017 thì tổng dư nợ cho vay khôngđược vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng trừ nguồn vốn ủythác hoặc trường hợp đặc biệt được Chính phủ cho phép
07/VBHN-1.2.4 Đặc điểm của hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Cho vay là một hoạt động truyền thống của ngân hàng, hoạt độngcho vay phát triển đa dạng và hoàn thiện với nhiều loại hình khác nhau từcho vay ngắn hạn đến cho vay dài hạn mà thời gian cho vay càng dài thìrủi ro càng lớn do đó lãi suất cho vay dài hạn thường cao hơn cho vayngắn hạn Các NHTM thường xuyên cho các DNVVN vay vốn theo hìnhthức ngắn hạn vì hoạt động của loại hình doanh nghiệp này không ổnđịnh, mang tính thời vụ và không có các dự án đầu tư mang tính lâu dài
14
Trang 26Đa số thì sẽ sử dụng nguồn vốn vay này cho các nhu cầu thanh toán ngắnhạn như mua nguyên vật liệu, trả tiền lưong Vì vậy, cho vay ngắn hạn
có tính lỏng cao, có thể coi như một bộ phận đảm bảo khả năng thanhtoán của Ngân hàng
Từ quan hệ uy tín với các DNVVN trong hoạt động cho vay, Ngânhàng sẽ tạo lập được mối quan hệ với các doanh nghiệp và phát triểnthêm một số dịch vụ khác như: mở tài khoản thanh toán, bảo lãnh, vềphía các DNVVN thì tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp cũng sẽtốt hon, trên co sở mối quan hệ sẵn có với ngân hàng, các DNVVN có thểchủ động tạo lập thêm nhiều mối quan hệ tín dụng khác với ngân hàng,tạo mối quan hệ hợp tác bền vững và lâu dài, giúp cho thị trường tín dụngngày càng được mở rộng
Hoạt động cho vay là hoạt động đem lại một khoản lợi nhuậnchính cho ngân hàng, đây là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn trong co cấutài sản của ngân hàng Với quy mô như vậy, hoạt động cho vay ảnhhưởng lớn đến chiến lược hoạt động của ngân hàng như dự trữ, đầu tư,
Vì vậy, trong mọi hoạt động đều phải tuân thủ nguyên tắc cho vay, điều
đó giúp góp phần hạn chế rủi ro cho NHTM Sau đây là một số nguyêntắc co bản:
- Sàng lọc: Lựa chọn đối nghịch trong các thị trường cho vay đòi hỏingân hàng phải lọc những doanh nghiệp đi vay có triển vọng tốt rakhỏi những doanh nghiệp có triển vọng xấu, nhờ vậy các khoản vay sẽ
an toàn hon và mang lại được lợi nhuận cho ngân hàng
- Giám sát: Ngân hàng phải tiến hành hoạt động giám sát nhằm hạn chếrủi ro đạo đức, cần xác định rõ những quy định và hạn chế trong cáchợp đồng vay, đồng thời giám sát xem doanh nghiệp đi vay có tuânthủ theo các quy định hạn chế đó không và có thể cưỡng chế thi hànhnếu doanh nghiệp đi vay không tuân thủ
- Tài sản đảm bảo: Ngân hàng yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải có tàisản đảm bảo, đây là nguồn trả nợ thứ hai cho ngân hàng khi nguồn thứ
15
Trang 27nhất là nguồn từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đi vay khôngđảm bảo trả được nợ.
- Hạn chế cho vay: Đó là việc ngân hàng từ chối cho vay mặc dù doanhnghiệp vay sẵn lòng thanh toán lãi suất đã được công bố thậm chí vớimột lãi suất cao hơn Việc hạn chế cho vay có 2 dạng:
(1) Ngân hàng từ chối cho vay với bất kỳ số lượng nào vớidoanh nghiệp vay;
(2) Ngân hàng cho vay nhưng hạn chế mức vay dưới mức vay
mà doanh nghiệp mong muốn
1.2.5 Vai trò của hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Với chức năng là một trung gian tài chính, ngân hàng đã biến hóa từtiết kiệm thành đầu tư, tức là huy động vốn từ các nguồn vốn tạm thời dưthừa trong SXKD cũng như nguồn vốn nhàn rỗi nằm rải rác trong dân cư đểcho vay Đối với các DNVVN thì nhờ nguồn vốn vay được từ ngân hàng cóthể giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả SXKD,
từ đó, quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, góp phần nâng cao lợi nhuậncủa các doanh nghiệp này hơn
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính, càng nhiều
tổ chức tín dụng ra đời, các NHTM cũng được thành lập mới nhiều hơn Khi
mà nền kinh tế mở như hiện nay, công nghệ cũng ngày càng phát triển thìngành ngân hàng đứng trước nhiều cơ hội và thách thức, đòi hỏi cần phảinâng cao trình độ quản lý và công nghệ, đồng thời chất lượng cho vay luônđược quan tâm hàng đầu, nó là nguồn sức mạnh nội lực giúp ngân hàng cóthể đứng vững và phát triển hơn nữa trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắtnày
1.2.5.1. Đối với ngân hàng
Hoạt động chủ yếu của NHTM là thu hút vốn để mở rộng cho vay vàđầu tư nhằm thu lợi nhuận Việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không quyếtđịnh đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Chiến lược
16
Trang 28kinh doanh quan trọng nhất của ngân hàng là chiến lược tín dụng Trong đóhoạt động cho vay là hoạt động có rủi ro cao nhưng hứa hẹn đem lại lợinhuận cao nên các ngân hàng luôn quan tâm đến việc mở rộng và nâng caochất lượng cho vay
1.2.5.2. Đối với khách hàng
Đối với DNVVN, hoạt động cho vay của ngân hàng như là một nguồnlực cần thiết và có thể đáp ứng nhu cầu về vốn vay của doanh nghiệp ngaytức thì, với quy mô và nguồn vốn còn nhỏ thì khả năng trả nợ đúng hạn chongân hàng còn gặp khó khăn, tuy nhiên từ những áp lực phải trả nợ vay đúnghạn đó sẽ giúp doanh nghiệp có thể tận dụng nguồn vốn đó hiệu quả hơn nhưtăng cường hoạt động kinh doanh có hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranhtrên thị trường để có thể trả nợ cho ngân hàng Hiện nay, các ngân hàng cũng
đã cố gắng để có thể tạo ra thêm nhiều sản phẩm hơn, đa dạng hơn để cácDNVVN có thể tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng dễ hơn
1.2.5.3. Đối với nền kinh tế
Thứ nhất: Chất lượng cho vay có vai trò quan trọng trong việc kiềm
chế lạm phát, từng bước duy trì sự ổn định của giá trị đồng tiền và tỉ giá, gópphần cải thiện môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh
Thứ hai: Góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất
kinh doanh và hoạt động xuất nhập khẩu Đây là kết quả tác động nhiều mặtcủa đổi mới hoạt động ngân hàng, nhất là những cố gắng của ngành ngânhàng trong việc huy động các nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển,trong việc đổi mới chính sách cho vay và cơ cấu tín dụng theo hướng căn cứvào tính khả thi và hiệu quả của từng dự á, từng lĩnh vực ngành nghề đểquyết định vay
Thứ ba: Thông qua nguồn vốn cho các chương trình dự án phát triển
sản xuất kinh doanh, hàng năm hệ thống ngân hàng đã góp phần tạo thêmđược nhiều việc làm mới, nhất là ở các vùng nông thôn Việc sử dụng nguồnvốn vay từ ngân hàng cho mục đích này ngày càng chuyên nghiệp, minh
17
Trang 29bạch và có hiệu quả, góp phần tạo thêm nhiều việc làm mới và thu hút laođộng, cải thiện thu nhập.
1.3 Chất lượng cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.1 Quan điểm về chất lượng cho vay
Chất lượng cho vay tại NHTM là chất lượng của các khoản cho vay củaNHTM Các khoản cho vay có chất lượng khi vốn vay được khách hàng sử dụnghiệu quả, đúng mục đích, tạo ra được một số tiền lớn hơn, từ đó, ngân hàng có thểthu được cả gốc và lãi, còn doanh nghiệp có thể trả được nợ, bù đắp chi phí và thuđược lợi nhuận Điều này có nghĩa là ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế lại tạođược hiệu quả xã hội
Quan niệm về chất lượng cho vay vừa mang tính chất định tính, khó tínhtoán cụ thể bằng các phép tính, vừa mang tính định lượng thể hiện qua khả năng thuhút khách hàng, tác động đến nền kinh tế,
Do đó, để có thể đánh giá một khoản vay là tốt hay xấu cần có thêm cácđiều kiện khác để có thể đánh giá bao quát và toàn diện hơn
1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ 1.3.2.1 Nâng cao chất lượng cho vay là cần thiết để phát triển
kinh tếNgày nay cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, hoạtđộng cho vay ngày càng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn không ngừngtăng cao của nền kinh tế Chất lượng cho vay ngày càng được quan tâm:
- Đảm bảo chất lượng cho vay là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò
là trung tâm thanh toán: khi chất lượng cho vay được đảm bảo sẽ tăngvòng quay vốn cho vay, với một lượng tiền như cũ có thể thực hiện sốlần giao dịch lớn hơn, tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lưu thông,củng cố sức mua của đồng tiền
18
Trang 30- Chất lượng cho vay góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăngtrưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia Điều này xuất phát từ chức năngtạo tiền của NHTM, thông qua thực hiện phương thức thanh toánkhông dùng tiền mặt, NHTM có thể mở rộng tiền ghi sổ gấp nhiều lần
so với số tiền thực có, hoặc ngân hàng cho phép các chủ tài khoảnthanh toán bằng séc và các phương tiện thanh toán khác cho kháchhàng vượt quá số tiền gửi thực có
1.3.2.2 Nâng cao chất lượng cho vay quyết định sự tồn tại và
phát triển của các ngân hàng thương mạiNhững tác động của chất lượng cho vay đối với NHTM:
- Chất lượng cho vay làm tăng khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch
vụ ngân hàng, do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí của hoạt độngcho vay, chi phí quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi đượcvốn cho vay
- Chất lượng cho vay đảm bảo khả năng thanh toán và lợi nhuận củangân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong cạnh tranh
Với những tác động tích cực trên, việc nâng cao chất lượng chovay là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của ngânhàng
1.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay của ngân hàng đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.3.1. Chỉ tiêu định tính
• Quy trình, thủ tục cho vay: Đối với DNVVN thì hoạt động
SXKD chủ yếu theo mùa vụ nên các doanh nghiệp này sẽ vayvốn theo các mùa vụ đó Hơn nữa, mùa vụ SXKD thường sẽphát triển trong một thời gian ngắn nên việc có được nguồnvốn nhanh sẽ mang lại hiệu quả tích cực cho các doanh nghiệpnày Chính vì vậy, ngân hàng cần xem xét để đưa ra một quytrình cho vay đơn giản nhất, nhưng vẫn tuân thủ đúng quy định
19
Trang 31về nguồn vốn vay mang lại hiệu quả cao nhất đối với cácDNVVN.
• Thời gian, lãi suất của khoản vay: Đối với các DNVVN,
ngân hàng thường áp dụng các hình thức cho vay ngắn hạn,thời gian thường là 6 tháng đến 12 tháng Tuy nhiên, ngân hàngcần xem xét giảm lãi suất so với cho vay dài hạn để nâng caochất lượng cho vay đối với DNVVN
• Các yêu cầu về tài sản bảo đảm: Tài sản bảo đảm của
DNVVN thường là cơ sở vật chất như nhà xưởng, thiết bị, máymoc Tuy nhiên, thiết bị, máy móc thường xuyên xuống cấphoặc được thay đổi trong quá trình sử dụng, chính vì vậy, ngânhàng cần xem xét kỹ lưỡng để quyết định những vật chất nào
có thể đưa vào tài sản để nâng cao chất lượng của nguồn vốnvay đó
1.3.3.2. Chỉ tiêu định lượng
Các chỉ tiêu cơ bản thường được dùng để đánh giá chất lượng hoạt động chovay tại NHTM:
Chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng
Dư nợ chính là số tiền mà khách hàng còn nợ ngân hàng tại thời điểm nhấtđịnh Hiện nay, các ngân hàng quốc tế nói chung và ngân hàng Việt Nam nói riêngđều dùng chỉ tiêu dư nợ phản ánh quy mô của tín dụng, qua đó phần nào phản ánhchất lượng cho vay So sánh dư nợ của KH DNVVN trên tổng dư nợ để biết được
dư nợ đang ở mức độ nào, nếu chiếm nhiều là hoạt động cho vay của ngân hàngđang có hiệu quả và các chính sách được áp dụng hợp lí
Chỉ tiêu độ phân tán tín dụng
Độ phân tán của các khoản tín dụng là nói về nguồn dư nợ hiện tại của ngânhàng có đang được quản lý một cách hiệu quả hay không Vì hoạt động tín dụng làhoạt động chính đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho ngân hàng và cũng chứa đựng
20
Trang 32nhiều rủi ro nhất, vì vậy cần phải bảo đảm sự cân đối giữa chi phí và thu nhập, cơ
hội và rủi ro
Những khoản vay trong cùng một lĩnh vực, dư nợ vay lớn tập trung vào mộtkhách hàng sẽ có cùng đặc điểm rủi ro nên một khi có những yếu tố ảnh hưởng bấtlợi tới nhóm khoản vay có độ tập trung cao sẽ làm cho rủi ro tiềm ẩn đối với ngânhàng lớn hơn rất nhiều
Độ phân tán của các khoản tín dụng được tính bằng tỉ lệ phần trăm của các
tiêu thức sau đây trên tổng dư nợ:
- Theo thời hạn: ngắn hạn, trung và dài hạn
Chỉ tiêu này được xác định:
λ Dư nợ tín dụng ngắn hạn
Dư nợ ngắn hạn = —-T -— : —-77— -—
Tong dư nợ tín dụng
Dư nợ tín dụng trung, dài hạn
Dư nợ trung, dài hạn = -÷7 -————-7 -—
Tong dư nợ tín dụng
- Theo mục đích cho vay: Cho vay bất động sản, cho vay công nghiệp
và thương mại, cho vay nông nghiệp
Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạnBên cạnh tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn cũng góp phần phản ánh chất lượng
cho vay tại ngân hàng, tuy với mức độ thấp hơn
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đã quá hạn.Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản vay không hoàn trả đúng hạn,
không được phép và không đủ điều kiện gia hạn nợ Các khoản nợ quá hạn bao gồm:
Trang 33m, z Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quả hạn = - —— - X 100%
Tong dư nợ cho vay
Chỉ tiêu này cho biết việc khách hàng của ngân hàng không thực hiện đượcviệc trả nợ đúng hạn theo cam kết Cũng như tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn cao phảnánh tình hình cho vay của ngân hàng có chất lượng thấp Một tỷ lệ nợ quá hạn đượccoi là chấp nhận được là dưới 3%
Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu
Tại Việt Nam việc phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụngđược thực hiện theo Văn bản hợp nhất số 22/VBHN-NHNN ban hành ngày 04tháng 06 năm 2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Theo đó, nợxấu (hay nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể đòi, ) đượcđịnh nghĩa là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5
Nợ xấu mang các đặc trưng sau:
- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các camkết này đã hết hạn
- Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến cókhả năng ngân hàng không thu hồi được cả gốc và lãi
- Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phátmãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi
Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày Cụ thể,các khoản nợ xấu bao gồm:
- Nợ dưới tiêu chuẩn (nợ nhóm 3)
- Nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4)
- Nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5)
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dư nợ của NHTM tại mộtthời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm Chỉ tiêu này đượctính như sau:
22
Trang 34Doanh số thu nợ Vòng quay vốn tín dụng = — -77— -—
Dư nợ bình quẫn
Chỉ tiêu này càng tăng thì tính tổ chức, quản lý tín dụng càng tốt, chất lượngtín dụng càng cao Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ phản ánh một cách tương đối, vìlượng vốn do các doanh nghiệp sản xuất vay chiếm tỷ trọng lớn trong dư nợ thì chỉtiêu này của ngân hàng sẽ thấp hơn (vốn quay vòng chậm hơn) so với lượng vốn docác doanh nghiệp thương mại vay chiếm tỷ trọng lớn trong dư nợ Do vậy, để có sựchính xác trong xem xét chất lượng tín dụng thông qua chỉ tiêu này thì các tiêu thứctính toán phải thống nhất, vòng quay vốn tín dụng phải tính toán cho từng loạikhoản vay, thời hạn vay và từng đối tượng vay cụ thể
Chỉ tiêu trích lập dự phòng rủi ro
- Dự phòng cụ thể: Trên cơ sở các khoản nợ đã được phân loại vào từngnhóm cụ thể, NHTM sẽ tiến hành trích lập số dự phòng cụ thể chotừng khoản nợ như sau:
Trang 35Trong đó: R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích
A: giá trị của khoản nợ C: giá trị của TSBĐ r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
Theo Văn bản hợp nhất số 22/VBHN- NHNN ngày 04 tháng 06 năm 2014 quyđịnh tại điều 9 mục 2 thì tổ chức tín dụng thực hiện trích lập và duy trì dự phòngchung bằng 0,75% tổng giá trị của các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 Chỉ tiêunày dù cao hay thấp cũng chưa thể giúp chúng ta đánh giá được là ngân hàng cóđang kinh doanh thua lỗ hay hoạt động tốt mà còn cần nhiều yếu tố khác nữa
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng
thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏCác nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay là những yếu tố gây ra sự biếnđộng tốt hay xấu của các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay Có nhiều nhân tốkhách quan, chủ quan, và bên trong, bên ngoài, có thể phân thành các nhóm nhân tốsau:
1.3.4.1. Nhân tố về phía ngân hàng
Chính sách tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng là một hệ thống các biện pháp liên quan đến việc khuếchtrương hoặc hạn chế tín dụng nhằm đạt được mục tiêu của ngân hàng Với ý nghĩanhư vậy rõ ràng chính sách tín dụng tác động rất lớn đến chất lượng cho vay củangân hàng Chính sách tín dụng của ngân hàng bao gồm các vấn đề sau: quy định vềđiều kiện; tiêu chuẩn tín dụng đối với khách hàng; lĩnh vực tài trợ; biện pháp đảmbảo tiền vay; quy trình quản lý tín dụng, lãi suất cho vay tác động trực tiếp hoặcgián tiếp đến chất lượng cho vay Nếu chính sách tín dụng được xây dựng và thựchiện một cách chặt chẽ thì chất lượng cho vay của ngân hàng sẽ tốt lên Ngược lại,
24
Trang 36nếu việc xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng không hợp lý thì chắc chắn chấtlượng cho vay nói riêng của ngân hàng sẽ không cao.
Định hướng chiến lược phát triển của ngân hàng
Nếu như ngân hàng không có định hướng rõ ràng trong việc phát triển hoạtđộng cho vay, không có chính sách phân bổ nguồn vốn hợp lý cho hoạt động này thìchắc chắn ngân hàng không thể hoạt động có hiệu quả và chất lượng cho vay sẽkhông như mong muốn Chẳng hạn như một ngân hàng với định hướng phát triểncác dịch vụ ngân hàng bán lẻ thì sẽ tập trung vào chủ yếu là các đối tượng trung lưutrong xã hội và các DNVVN Từ đó, các sản phẩm dịch vụ cũng sẽ được tập trungphát triển theo hướng thỏa mãn nhu cầu của đối tượng này
Quy mô và cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn của ngân hàng
Hoạt động chính của NHTM là tìm kiếm các khoản vốn để sử dụng nhằm thulợi nhuận, vì muốn cho vay được thì điều kiện đầu tiên là ngân hàng phải có vốn.Cho vay mang lại cho ngân hàng lợi nhuận, còn nguồn vốn liên quan tới chi phí trảlãi của ngân hàng Quy mô huy động vốn càng tăng thì quy mô của hoạt động chovay cũng được mở rộng, khả năng sinh lời lớn hơn và ngược lại Các nguồn vốn màngân hàng có thể sử dụng để cho vay bao gồm: vốn tự có của ngân hàng, vốn vaytrung và dài hạn trong và ngoài nước, vốn huy động trong ngắn hạn, vốn huy độngtrung và dài hạn, vốn ủy thác Quy mô của các nguồn này là một trong những yếu tốquyết định quy mô cho vay và ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng.Nếu một ngân hàng có nguồn vốn dồi dào cũng dễ dàng hơn trong việc tạo lập niềmtin với khách hàng
Năng lực của ngân hàng
Năng lực của ngân hàng nằm ở khả năng thẩm định dự án và thẩm định kháchhàng Một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cho vay của ngân hàng là vốn
và lãi phải được trả đúng thời hạn Điều này không thể xảy ra nếu hoạt động kinhdoanh của khách hàng không được như mong muốn, hoặc khách hàng không cóthiện chí, cố tình lừa đảo ngân hàng Để hạn chế nguy cơ đó, ngân hàng cần thựchiện tốt công tác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng Nếu được nhu vậy thì
25
Trang 37ngân hàng có thể chọn lựa được những khách hàng tin cậy, những dự án thực sự khảthi và đó cũng là tiền đề để nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng.
Thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng luôn là yếu tố cần thiết cho công tác quản lý dù ở bất kìlĩnh vực nào Trong hoạt động cho vay ngân hàng cung vậy, để thẩm định dự án,thẩm định khách hàng trước tiên phải có thông tin về khách hàng đó, về dự án đó đểlàm tốt công tác giám sát thông tin Thông tin càng chính xác, kịp thời bao nhiêu thìcàng thuận lợi cho ngân hàng trong việc đưa ra quyết định cho vay, theo dõi việc sửdụng vốn vay và tiến độ trả nợ Thông tin chính xác giúp ngân hàng có thể xâydựng các phương án hoạt động và chính sách phù hợp với tình hình thực tế Từ đó,
có thể nâng cao chất lượng cho vay
Công nghệ, trang thiết bị của ngân hàng
Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay, một ngân hàng được
sử dụng công nghệ hiện đại được trang bị các phương tiện kỹ thuật chất lượng cao
sẽ giúp đơn giản hóa các thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, đem lại sự tiện ích tối
đa cho khách hàng Đây là điều có thể giúp ngân hàng thu hút thêm nhiều kháchhàng mới và duy trì khách hàng hiện có Trang thiết bị hiện đại cũng giúp quá trìnhthu thập thông tin của khách hàng được nhanh hơn giúp ngân hàng xây dựng đượcchính xác kế hoạch phát triển và xây dựng chính sách cho vay cũng có hiệu quả hơn
Chất lượng nhân sự và quản lý nhân sự của ngân hàng
Cho dù khoa học kỹ thuật đã giúp con người mở ra một thời đại công nghệ tựđộng hóa trong nhiều lĩnh vực nhưng con người vẫn là yếu tố quan trọng Các thiết
bị điện tử có hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế được sự nhạy cảm hay kinhnghiệm của các cán bộ ngân hàng Do vậy, vấn đề nhân sự là một vấn đề cực kỳquan trọng với ngân hàng, cần phải làm tốt từ khâu tuyển dụng đến khâu đào tạo để
có được đội ngũ nhân sự và đội ngũ quản lý tốt nhất
1.3.4.2. Nhân tố thuộc về khách hàng
Khả năng đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn của ngân hàng
26
Trang 38Để đảm bảo an toàn trong quá trình cho vay, tránh những rủi ro không đáng cóthì các NHTM đều đặt ra các tiêu chuẩn riêng nhằm phân loại và chọn ra nhữngkhách hàng có thể cho vay hoặc không thể cho vay Những điều kiện, tiêu chuẩnnày có thể khác nhau tùy vào từng ngân hàng cụ thể, tuy nhiên, nhìn chung thì cácngân hàng đều tập trung vào xem xét các vấn đề sau: tính hợp lý; tính hợp pháp củamục đích sử dụng vốn; năng lực tài chính; năng lực SXKD của doanh nghiệp; tínhkhả thi và các biện pháp bảo đảm Có thể thấy việc khách hàng có thể đáp ứng cácđiều kiện, tiêu chuẩn của ngân hàng có ảnh hưởng lớn, trực tiếp đến chất lượng củahoạt động cho vay Bởi nếu hầu hết các khách hàng không thể đáp ứng được điềukiện hay có thể do điều kiện vay quá khắt khe hoặc do khả năng của khách hàngchưa đủ thì ngân hàng không thể mở rộng hoạt động cho vay trong khi vẫn đảm bảo
an toàn tín dụng
Khả năng của khách hàng trong việc sử dụng vốn vay có hiệu quả
Việc sử dụng vốn vay có hiệu quả của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng thíchứng trong SXKD và nhanh nhạy với nhu cầu của thị trường, ở khối lượng sản phẩmsản xuất ra và doanh thu mang lại
Năng lực, trình độ công nghệ của doanh nghiệp được tạo nên từ các trang thiết
bị chất lượng cao, trình độ tay nghề của công nhân làm việc Nếu năng lực côngnghệ của doanh nghiệp cao hơn sẽ giúp cho hoạt động SXKD của doanh nghiệphiệu quả hơn, đồng thời có thể dễ dàng tiếp thu với các công nghệ mới hơn bênngoài
Năng lực quản lý của doanh nghiệp bao gồm chất lượng nhân sự quản lý, sựphối hợp giữa các thành viên trong ban quản lý nhằm xây dựng một cơ cấu tổ chứctối ưu trong doanh nghiệp, cho phép tận dụng tối đa nguồn nhân lực, vật lực củadoanh nghiệp để đạt được mục đích kinh doanh cao nhất Trong điều kiện nên kinh
tế cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay thì năng lực quản lý càng đặc biệtquan trọng, vì doanh nghiệp cần đề ra nhiều phương án để có thể thích ứng nhanhnhất với những biến động của môi trường kinh doanh Điều đó sẽ giúp doanhnghiệp nhanh chóng nâng cao vị thế của mình trên thị trường, từ đó có thể tiếp cận
27
Trang 39với nguồn vốn vay của ngân hàng dễ hơn, với giới hạn tín dụng cao hơn và lãi suất
ưu đãi hơn
1.3.4.3 Các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô và đối thủ cạnh
tranh Môi trường kinh tế
Ngân hàng nào cũng chịu sự chi phối của những chu kỳ kinh tế Trong giaiđoạn nền kinh tế hưng thịnh thì các doanh nghiệp làm ăn phát đạt, có lợi nhuận caonên sẽ mở rộng sản xuất, thu nhập của người dân cũng tăng cao, kéo theo đó là nhucầu tiêu dùng cũng tăng nên nhu cầu đi vay tăng, hoạt động cho vay của ngân hàng
sẽ phát triển Còn trong giai đoạn nên kinh tế bị suy yếu thì nhu cầu đi vay của mọingười trong xã hội giảm, họ chuyển qua đầu tư vàng hoặc gửi tiết kiệm dẫn tới việcngân hàng sẽ bị ứ đọng một lượng vốn lớn, nguồn vốn huy động không được sửdụng hiệu quả cũng là một nguyên ngân khiến cho chất lượng cho vay giảm xuống
Những sự biến động về lãi suất hay tỷ giá trên thị trường đều ảnh hưởng trựctiếp đến lãi suất của ngân hàng, dẫn đến ảnh hưởng đến mức lãi ròng của khoản chovay Tác động của môi trường kinh tế có thể làm tăng hoặc giảm quy mô của hoạtđộng tín dụng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng
Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý được hiểu là hệ thống các văn bản pháp quy liên quan đếnhoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng Hiện nay, dù đãtrải qua nhiều lần sửa đổi những vẫn còn sự không thống nhất giữa các văn bảnpháp luật, gây khó khăn cho ngân hàng trong việc ký kết, thực hiện hợp đồng tíndụng Điều này gây ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của các ngân hàng
Sự thay đổi chủ trương, chính sách của Nhà nước cũng gây ảnh hưởng đến khảnăng trả nợ của các doanh nghiệp, vì sự thay đổi đó có thể làm sáo trộn trong hoạtđộng SXKD của doanh nghiệp, Vì doanh nghiệp không bán được hàng, chưa chuẩn
bị được phương án kinh doanh thích hợp để kịp thời thích ứng với hoàn cảnh, điều
đó có thể dẫn đến nợ quá hạn và nợ khó đòi
28
Trang 40Môi trường văn hóa- xã hộiMôi trường văn hóa - xã hội có ảnh hưởng đến hoạt động cho vay một cáchđáng kể Thói quen, tâm lý, phong tục tập quán, trình độ dân trí có ảnh hưởng lớnđến nhu cầu sử dụng và tiếp cận với các dịch vụ của ngân hàng Nếu người dân engại việc đi vay vốn ngân hàng vì lo ngại mang nợ thì sẽ làm giảm doanh số chovay hoặc do trình độ dân trí ở đó thâp thì việc sử dụng vốn vay sẽ kém hiệu quả và
có khả năng gây tổn thất cho ngân hàng
29