1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

194 729 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả PGS. TS. Phạm Văn Lợi, TS. Mai Thanh Dung, TS. Đỗ Nam Thắng, TS. Nguyễn Hải Yến, ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Hương, ThS. Mai Thị Thu Huệ, ThS. Nguyễn Hoàng Mai, ThS. Bùi Hoài Nam, CN. Nguyễn Thị Thu Hoài, CN. Trần Bích Hồng, CN. Hàn Trần Việt
Trường học Tổng Cục Môi Trường
Thể loại Sách chuyên khảo
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trang 1

TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG

VIỆN KHOA HỌC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

PGS TS PHẠM VĂN LỢI (Chủ biên)

Hà Nội, 2011

Trang 2

THAM GIA BIÊN SOẠN

PGS TS Phạm Văn Lợi (chủ biên)

TS Mai Thanh Dung

TS Đỗ Nam Thắng

TS Nguyễn Hải Yến ThS Nguyễn Thị Quỳnh Hương ThS Mai Thị Thu Huệ

ThS Nguyễn Hoàng Mai ThS Bùi Hoài Nam

CN Nguyễn Thị Thu Hoài

CN Trần Bích Hồng

CN Hàn Trần Việt

(Cuốn sách được biên soạn và in ấn với sự tài trợ của Hợp phần Kiểm soát ô

nhiễm tại các khu vực đông dân nghèo - PCDA) (This book is prepared and printed with support from “Pollution Control In

Poor Densely Populated Areas” Component)

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa không ngừng phát triển, kèm theo đó là

sự gia tăng ô nhiễm và suy thoái môi trường Vì vậy, hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT) là một trong những hoạt động cần được tiến hành song song, đồng thời với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong giai đoan hiện nay của nước ta khi nền kinh tế đang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản

lý chặt chẽ của Nhà nước

Nhận thức được tầm quan trọng của việc tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý môi trường, hướng tới mục tiêu BVMT và phát triển bền vững Chủ trương “kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường” được Ban cán sự Đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường xác định là chủ trương lớn và lâu dài của ngành, cần được đẩy mạnh trong thời gian tới

Từ yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra cho ngành môi trường, với sự hỗ trợ của Hợp phần Kiểm soát ô nhiễm tại các khu vực đông dân nghèo (PCDA), nhóm tác

giả do PGS.TS Phạm Văn Lợi làm chủ biên đã nghiên cứu và biên soạn cuốn

sách chuyên khảo “Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” với hy vọng và mong muốn làm rõ hơn khái niệm, mục tiêu, nguyên

tắc và nội dung của kinh tế hóa lĩnh vực môi trường, đồng thời làm rõ những vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai, để từ đó có thể kiến nghị, đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh kinh tế hóa lĩnh vực môi trường Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường là một vấn đề mới, khó và còn nhiều ý kiến khác nhau Do vậy, nhóm tác giả mong nhận được nhiếu ý kiến đóng góp của các độc giả

Hà Nội, tháng 7 năm 2011

Trang 4

MỤC LỤC CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC

MÔI TRƯỜNG 6

I Mối quan hệ giữa môi trường và kinh tế 6

II Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh kinh tế hóa lĩnh vực môi trường 9

III Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc và nội dung thực hiện kinh tế hóa lĩnh vực môi trường 15

1 Khái niệm kinh tế hóa lĩnh vực môi trường 15

2 Mục tiêu kinh tế hóa lĩnh vực môi trường 19

3 Nguyên tắc cơ bản để thực hiện kinh tế hóa lĩnh vực môi trường 20

CHƯƠNG II THỰC TIỄN TRIỂN KHAI KINH TẾ HÓA 24

LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG 24

I Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới liên quan đến kinh tế hóa lĩnh vực môi trường 24

1 Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường 24

1.1 Nhóm công cụ tạo lập thị trường 31

1.1.1 Chi trả dịch vụ môi trường (chi trả dịch vụ sinh thái) 31

1.1.2 Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng 36

1.2 Nhóm công cụ nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động bảo vệ môi trường 39

1.2.1 Đặt cọc hoàn trả 39

1.2.2 Ký quỹ môi trường 43

1.2.3 Bồi thường thiệt hại môi trường 47

1.2.4 Nhãn sinh thái ( Nhãn môi trường) 53

2 Các công cụ hỗ trợ đổi mới cơ chế, chính sách quản lý môi trường phù hợp với nền kinh tế thị trường 63

2.1 Định giá, lượng giá môi trường 63

2.2 Hạch toán môi trường 74

II Thực tiễn triển khai các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường tại Việt Nam 87

2.1 Nhóm công cụ tạo nguồn thu trực tiếp cho ngân sách nhà nước 87

2.2 Nhóm công cụ tạo lập thị trường 101

Trang 5

2.2.1 Chi trả dịch vụ môi trường 101

2.2.2 Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng 104

2.3 Nhóm công cụ nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động bảo vệ môi trường 106

2.3.1 Đặt cọc hoàn trả 106

2.3.2 Ký quỹ môi trường 106

2.3.3 Bồi thường thiệt hại môi trường 108

2.3.4 Nhãn sinh thái 115

2 4 Các công cụ hỗ trợ đổi mới cơ chế, chính sách quản lý môi trường phù hợp với nền kinh tế thị trường 116

2.4.1 Định giá, lượng giá giá trị môi trường 116

2.4.2 Hạch toán môi trường 121

CHƯƠNG III YÊU CẦU, GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH KINH THẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG 127

I Yêu cầu 127

1 Đảm bảo hệ thống quản lý đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường 127

2 Phát triển bền vững lĩnh vực môi trường 128

3 Tạo nguồn thu cho ngân sách quốc gia, nâng tầm đóng góp của lĩnh vực môi trường đối với nền kinh tế quốc dân 129

II Giải pháp 129

1 Nhóm các giải pháp chung 129

2 Nhóm các giải pháp cụ thể 136

2.1 Tăng cường hiệu quả áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường 136

2.1.1 Nhóm công cụ tạo nguồn thu trực tiếp cho ngân sách nhà nước 136

2.1.2 Nhóm công cụ tạo lập thị trường 151

2.1.3 Nhóm công cụ nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động bảo vệ môi trường 153

2.2 Các công cụ hỗ trợ đổi mới cơ chế, chính sách quản lý môi trường phù hợp với nền kinh tế thị trường 157

PHỤ LỤC 159

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 188

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BVMT Bảo vệ môi trường

CAC Công cụ chỉ huy và kiểm soát

CERs Chứng chỉ giảm phát thải

CM Phương pháp lựa chọn

CVM Phương pháp định giá phụ thuộc vào thị trường giả

định CTR Chất thải rắn

EMA Hạch toán quản lý môi trường

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

GEN Mạng lưới nhãn sinh thái toàn cầu

ISO Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế

KTTT Kinh tế thị trường

NSNN Ngân sách nhà nước

PES Chi trả dịch vụ môi trường

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

TNMT Tài nguyên môi trường

UNEP Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc

XHCN Xã hội chủ nghĩa

WTP Sự sẵn lòng chi trả

WTA Sự sẵn lòng chấp nhận

Trang 7

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ HÓA LĨNH

VỰC MÔI TRƯỜNG

I Mối quan hệ giữa môi trường và kinh tế

Khái niệm về môi trường: Khái niệm về môi trường rất rộng lớn “Môi

trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản suất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”1 Các yếu tố tự nhiên như vật lý, hóa học, sinh học tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Yếu tố nhân tạo là tổng thể các nhân tố do con người tạo nên làm thành tiện nghi cho cuộc sống của con người như máy bay, ô tô, nhà ở, các khu vui chơi giải trí Tuy nhiên, khi xem xét mối quan hệ tương tác giữa môi trường và kinh tế, người ta thường ngầm hiểu môi trường trên khía cạnh là tổng hòa của các yếu tố tự nhiên bao gồm môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí, môi trường biển, hệ động thực vật…

Khái niệm về hệ thống kinh tế: Hệ thống kinh tế là một quy trình bao gồm

sản xuất, phân bố các yếu tố đầu vào, phân phối các yếu tố đầu ra của sản xuất, tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế2 Đây là một hệ thống mở, bên cạnh mối quan hệ nội tại hình thành bên trong hệ thống kinh tế- mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất của các yếu tố, thành phần trong hệ thống kinh tế, còn tồn tại mối quan hệ giữa toàn bộ hệ thống kinh tế với hệ thống bên ngoài Trong hệ thống kinh tế luôn luôn diễn ra quá trình khai thác tài nguyên, chế biến nguyên liệu và phân phối tiêu dùng Đầu tiên trong chu trình hoạt động của hệ thống kinh tế là khai thác các tài nguyên từ môi trường, sau đó chế biến những tài nguyên đó thành những sản phẩm có thể tiêu dùng được, và cuối cùng là thải ra một khối lượng lớn các tài nguyên đã bị hao mòn hay đã bị biến đổi (còn gọi là chất thải)

Khái niệm về phát triển kinh tế: Phát triển kinh tế là quá trình cải thiện và

1 Luật Bảo Vệ Môi trường 2005, Điều 1

2 NA, 2007, Economic Systems, The New Encyclopædia Britannica, v 4, p 357.

Trang 8

nâng cao chất lượng sống cho người dân của một quốc gia (bao gồm các điều kiện sống về vật chất và tinh thần) với sự tăng trưởng bền vững từ nền kinh tế đơn giản, thu nhập thấp sang nền kinh tế hiện đại, thu nhập cao3 4 Phát triển là

xu thế chung của nhân loại, của loài người, là sự tăng tiến mọi mặt trong nền kinh tế

Mối quan hệ giữa môi trường và hệ thống kinh tế

Môi trường và hệ thống kinh tế có mối quan hệ tương tác, có sự gắn kết chặt chẽ với nhau Môi trường vừa là yếu tố đầu vào, vừa là yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất Môi trường là nơi cung cấp các nguyên vật liệu, năng lượng cho quá trình sản xuất (như khoáng sản, gỗ, dầu mỏ…), là không gian sống, cung cấp các giá trị cảnh quan, vui chơi, giải trí phục vụ cho cuộc sống của con người Môi trường cũng là nơi chứa chất thải của các hoạt động trong nền kinh

tế như quá trình sản xuất, quá trình lưu thông và quá trình tiêu dùng Các chất thải ra môi trường tồn tại dưới nhiều dạng như: dạng rắn, dạng khí, dạng lỏng Khi các chất thải với số lượng và chất lượng nhất định được thải ra môi tường thì các quá trình lý, hóa, sinh của hệ tự nhiên sẽ tự phân hủy, làm sạch chúng Tuy nhiên, nếu chất thải vượt quá khả năng hấp thụ của môi trường chúng sẽ làm thay đổi chất lượng môi trường, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và sinh vật

3 Alan Deardorff, Economic development, Deardorff's Glossary of International Economics

4 Hla Myint and Anne O Krueger, 2009, Economic development, Encyclopædia Britannica.

Trang 9

Hình 1 Mối quan hệ giữa môi trường và hệ thống kinh tế 5

Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế

Quá trình phát triển kinh tế sẽ góp phần tạo ra nguồn tài chính hỗ trợ cho quá trình cải tạo môi trường, phòng chống suy thoái, sự cố môi trường xảy ra… Phát triển kinh tế tạo tiềm lực để BVMT Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế diễn ra với tốc độ nhanh và mạnh cũng dẫn đến việc khai thác, sử dụng quá mức các tài nguyên thiên nhiên và môi trường, gây nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm, suy thoái môi trường

Môi trường cũng tác động đến tính ổn định và bền vững của sự phát triển kinh tế Môi trường tạo ra các tiềm nằng tự nhiên mới cho công cuộc phát triển kinh tế trong tương lai, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế Ngược lại, môi trường cũng tác động tiêu cực, gây bất lợi cho quá trình phát triển kinh

tế Ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra các hiện tượng thời tiết bất thường (sương mù dày đặc, mưa đá, mưa axit…), các thảm họa và thiên tai (bão, lũ lụt, hạn hán…) Điều này sẽ tác động đến tất cả các lĩnh vực, ngành nghề hoạt động trong nền kinh tế, ảnh hưởng đến quá trình lưu thông, các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế như: làm ngừng trệ quá trình sản xuất; gây thiệt hại

về kinh tế (tài sản, của cải, vật chất…)

5 Nguyễn Thế Chinh, 2003, Kinh tế và quản lý Môi trường, tr.36-tr.38, Nhà xuất bản thống kê, Đại học Kinh tế quốc dân

Trang 10

Từ mối quan hệ giữa môi trường và hệ thống kinh tế, môi trường và phát triển kinh tế ta thấy được vị trí và vai trò của môi trường trong hệ thống kinh tế, trong quá trình phát triển kinh tế đó là yếu tố chủ yếu và không thể thiếu được trong bất kỳ hoạt động nào của nền kinh tế Vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia, vùng, khu vực cần lồng ghép yếu tố môi trường vào trong các chủ trương, chính sách đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường, vừa đáp ứng được nhu cầu của hiện tại trong tăng trưởng và phát triển vừa không làm ảnh hưởng đến nhu cầu của thế hệ trong tương lai và trong các chính sách quản lý và bảo vệ môi trường cũng nên lồng ghép yếu tố kinh tế để đảm bảo những chính sách này phát huy được tính hiệu quả trong thực tiễn hướng tới mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

II Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh kinh tế hóa lĩnh vực môi trường

Hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT) tại Việt Nam chính thức được ghi nhận từ năm 1993 khi Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 27/12/1993 là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất của Nhà nước Việt Nam về vấn đề BVMT (hiện nay được thay thế bởi Luật BVMT năm 2005) Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của hoạt động BVMT đối với việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trải qua gần 20 năm Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường và tổ chức thực thi khá hiệu quả các chương trình, dự án thực hiện chiến lược BVMT

Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25-6-1998 của Bộ Chính trị “Về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Chỉ thị đã khẳng định BVMT là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và

toàn quân; BVMT là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của tất cả các cấp, các ngành,

là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi của sự

Trang 11

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chỉ thị cũng yêu cầu Ban cán sự Đảng chỉ đạo việc xây dựng chiến lược quốc gia về BVMT, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về BVMT ở Trung ương và địa phương; các cấp ủy đảng và chính quyền cần lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp việc kết hợp kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội với công tác BVMT

Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 quan điểm phát triển bền vững đã được tái khẳng định: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục khẳng định trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011- 2020: “Nâng cao

ý thức bảo vệ môi trường, gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế xã hội Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng; vào các chương trình, dự án”

Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính Trị

về “bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

đất nước” Đây là Nghị quyết đầu tiên của Bộ Chính trị đặc biệt quan tâm tới

công tác bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết nêu rõ: “Muốn bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội bền vững và hội nhập kinh tế thành công, nhất thiết phải quan tâm đến vấn đề bảo vệ tài nguyên và môi trường”

Quyết định số 153/2004/QĐ-Ttg ngày 17 tháng 8 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) đã nêu nguyên tắc “chủ động gắn kết và có chế tài bắt buộc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi tường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế- xã hội, coi yêu cầu bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát

Trang 12

triển bền vững”, một trong những công việc được ưu tiêu thực hiện là “ Rà soát quy hoạch tổng thế phát triển kinh tế- xã hội các vùng trọng điểm, quy hoạch phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt là những ngành tác động mạnh mẽ tới môi trường, nhằm bảo đảm phát triển bền vững, bảo đảm sự dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải có hiệu quả”, “thể chế hóa việc đưa yếu tố môi trường vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-

xã hội hằng năm, 5 năm và dài hạn của cả nước, các bộ, ngành và địa phương từ

cấp Trung ương đến cấp cơ sở”

Thấy rõ được tầm quan trọng của hoạt động BVMT trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cần phải xây dựng thể chế, chính sách quản

lý và bảo vệ môi trường đồng bộ với cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo hài hòa được cả lợi ích về kinh tế và lợi ích về môi trường, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Từ đầu năm

2008, Ban cán sự Đảng bộ Tài nguyên và Môi trường đã xác định chủ trương

“kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường” là nhiệm vụ trọng tâm và lâu dài của ngành trong thời gian tới Đây là một chủ trương đúng đắn, góp phần thúc đẩy đổi mới cơ chế quản lý và bảo vệ môi trường sao cho đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường (KTTT) theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động vận dụng các quy luật khách quan, khả năng tự điều tiết của KTTT, tăng cường áp dụng các cơ chế, công cụ kinh tế trong quản lý, nâng cao năng lực, tư duy, nghiên cứu

và phân tích kinh tế trong lĩnh vực môi trường

Ngày 02 tháng 12 năm 2009, Ban Cán sự Đảng bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Nghị Quyết số 27-NQ/BCSĐBTNMT về đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường Nghị Quyết đã đưa ra quan điểm chỉ đạo trong việc đấy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường như:

Thứ nhất, thực sự coi tài nguyên là nguồn lực khan hiếm, BVMT là thước

đo hiệu quả và tính bền vững của hoạt động kinh tế và có thể hạch toán toàn diện và đầy đủ để phát triển bền vững đất nước;

Thứ hai, bảo đảm sự đồng bộ và nhất quán giữa phương thức quản lý tài

Trang 13

nguyên và bảo vệ môi trường với thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa;

Thứ ba, đổi mới các cơ chế chính sách quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; đẩy mạnh cải cách hành chính là các nhiệm vụ trọng tâm để đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường;

Thứ tư, con người là trung tâm, là nhân tố quyết định của quá trình đẩy mạnh kinh tế hóa trong ngành tài nguyên và môi trường, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của ngành đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới

Nghị Quyết 27 cũng đưa ra các nhiệm vụ chung của ngành Tài nguyên và Môi trường cần thực hiện trong thời gian tới Đó là:

a) Nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận, xác lập nguyên tắc, phương thức thực hiện, mục tiêu, các nhiệm vụ trọng tâm, những giải pháp đột phá và lộ trình thực hiện đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ về tài nguyên và môi trường;

b) Hình thành nguyên tắc, phương pháp, cơ chế định giá, lượng giá, hạch toán tài nguyên và môi trường phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thiết lập hệ thống tài khoản quốc gia về tài nguyên và môi trường;

c) Đa dạng hóa nguồn vốn, nâng hiệu quả đầu tư, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ viễn thám trong điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường; hình thành cơ chế tài chính quản lý, khai thác và sử dụng thông tin,

dữ liệu ngành tài nguyên và môi trường;

d) Đẩy mạnh công tác dự báo xu thế biến động tài nguyên và các vấn đề môi trường, cung - cầu, cạnh tranh, xung đột về tài nguyên trên thế giới và tác động đến phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta làm cơ sở xây dựng chiến lược, chính sách, cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường hợp lý và hiệu quả;

e) Rà soát, đề xuất chuyển đổi các cơ chế quản lý mang tính hành

Trang 14

chính, bao cấp kém hiệu quả trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường sang

cơ chế quản lý hiệu quả hơn dựa trên các nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường kết hợp với đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng minh bạch và hiệu quả;

f) Nghiên cứu, xây dựng khung chính sách và lộ trình áp dụng các công

cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường;

g) Nghiên cứu, đề xuất khung chính sách, cơ chế tạo nguồn thu ngân sách từ tài nguyên và môi trường trên nguyên tắc: “Người sử dụng, hưởng lợi từ tài nguyên và môi trường phải trả tiền”, “Người gây ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên phải trả chi phí khắc phục và tái tạo”;

h) Thúc đẩy phát triển các đơn vị nghiên cứu, tư vấn, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đáp ứng nhu cầu trong nước, tiến tới mở rộng cung ứng dịch vụ ra nước ngoài; hình thành các quỹ tài nguyên, quỹ tài chính hỗ trợ quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; đẩy mạnh sản xuất hàng hoá môi trường; thực hiện thương mại hoá thông tin, số liệu về tài nguyên và môi trường;

i) Xây dựng và áp dụng bộ tiêu chí hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; phát triển phân tích chi phí - lợi ích thành công cụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường

Ngày 09 tháng 04 năm 2010, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định 675/QĐ-BTNMT về kế hoạch hành động thực hiện Nghị Quyết 27-NQ/BCSĐTNMT đã đưa ra những mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhằm đẩy mạnh kinh tế hóa ngành Tài nguyên và Môi trường Mục tiêu tổng quát của việc đẩy mạnh thực hiện kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường là hoàn thiện thế chế quản lý tài nguyên và môi trường, thúc đẩy ngành tài nguyên và môi trường phát triển nhanh và bền vững, đồng bộ với tiến trình phát triển các thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng tầm đóng góp và vị thế của ngành trong nền kinh tế quốc dân, vì mục tiêu phát triển bền vững đất nước

Trang 15

Mục tiêu cụ thế là:

Thứ nhất, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và thống nhất

hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể triển khai thành công các nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường;

Thứ hai, hình thành khung chính sách tổng thể và hoàn thiện các công cụ

thực hiện chủ trương đẩy mạnh kinh tế hóa ngành tài nguyên và môi trường vào những năm đầu và triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách cụ thể theo từng lĩnh vực trong các năm tiếp theo của kế hoạch 5 năm 2011- 2015;

Thứ ba, tiếp tục phát huy và đổi mới thể chế quản lý tài nguyên và bảo vệ

môi trường trên các nguyên tắc cơ bản của nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển khoa học và công nghệ, đa dạng hóa nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN), góp phần phát triển bền vững đất nước

Quyết định cũng quy định các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực trong ngành Tài nguyên và Môi trường Đối với lĩnh vực môi trường, những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể sau:

a) Tiếp tục rà soát, hoàn thiện xây dựng và ban hành hệ thống văn bản

quy phạm pháp luật về môi trường, thực hiện xây dựng Bộ Luật Môi trường theo hướng xác lập cơ chế quản lý và bảo vệ môi trường đồng bộ với thể chế kinh tế

thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa;

b) Rà soát, hoàn thiện, đổi mới cơ chế quản lý các hoạt động quan

trắc, phân tích môi trường, lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, công nhận, chứng nhận về môi

trường, cung ứng dịch vụ môi trường phù hợp với cơ chế thị trường;

c) Đẩy mạnh áp dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường;

tiếp tục bổ sung, hoàn thiên các cơ chế thu ngân sách từ các hoạt động liên quan đến môi trường; tổ chức thử nghiệm, tiến tới áp dụng cơ chế chuyển nhượng, trao đổi quyền phát thải; thực hiện ký quỹ phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản; thí điểm tiến tới nhân rộng các mô hình áp dụng cơ chế chi trả dịch

Trang 16

vụ hệ sinh thái; đồng thời sử dụng các công cụ thuế, phí môi trường để điều tiết

vĩ mô các hoạt động kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường;

d) Đẩy mạnh hoạt động định giá, lượng giá và hạch toán môi trường,

dự báo cung cầu và xu thế biến động môi trường, tổ chức xác lập, hoàn thiện và

đưa yếu tố môi trường vào trong giá thành sản phẩm;

e) Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện “Chính sách phát triển kinh tế môi trường Việt Nam”;

f) Đẩy nhanh tiến độ phê duyệt và ban hành Nghị định về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên gây ra;

g) Tiến hành quy hoạch, tăng cường đầu tư và nâng cao hiệu quả hoạt

động của hệ thống quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia Thúc đẩy hợp

tác quốc tế, đáp ứng các cam kết với cộng đồng quốc tế về bảo vệ môi trường;

h) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi

trường Vận hành hệ thống quản lý thông tin, đảm bảo cung cấp thông tin chất lượng môi trường kịp thời, chính xác cho cộng đồng và các cấp quản lý, tiến tới xây dựng đề án thương mại hóa thông tin, số liệu về môi trường phù hợp với cơ

chế thị trường

III Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc và nội dung thực hiện kinh tế hóa lĩnh vực môi trường

1 Khái niệm kinh tế hóa lĩnh vực môi trường

Trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước về kinh tế hóa lĩnh vực môi trường, có thể hiểu kinh tế hóa trên một số các khía cạnh sau:

Kinh tế hóa có nghĩa là sự thay đổi các cơ chế, chính sách quản lý môi trường sao cho đồng bộ với thể chế của nền kinh tế thị trường Kinh tế hóa không làm thay đổi bản chất, mục tiêu chủ đạo xuyên suốt trong các chính sách quản lý và bảo vệ môi trường, đó là bảo đảm cho sự phát triển bền vững

“Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ

Trang 17

thống và các kỹ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người xuất phát từ quan điểm định hướng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên”6 Quản lý môi trường được thực hiện bởi tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia

Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế mà mọi hoạt động mua bán và trao đổi diễn ra trên thị trường đều vận hành theo quy luật cung- cầu; giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ thị trường được xác định trên cơ sở giá trị của hàng hóa, dịch vụ đó và thông qua mối quan hệ giữa cung và cầu7 Khi lượng cầu về hàng hóa lớn hơn lượng cung thì có xu hướng làm tăng giá cả hàng hóa, nhóm người tiêu dùng có khả năng chi trả cao hơn và đẩy giá của thị trường lên Ngược lại, khi lượng cung vượt quá lượng cầu về hàng hóa thì giá cả hàng hóa

có xu hướng giảm Cơ chế điều chỉnh về giá và lượng này giúp thị trường đạt đến điểm cân bằng, tại đó người sản xuất sẽ sản xuất ra đúng bằng lượng mà người tiêu dùng muốn mua

Từ cơ chế tự điều tiết của thị trường, giá cả sẽ là tín hiệu để người sản xuất và người tiêu dùng tự điều chỉnh hành vi Nó đưa ra tín hiệu cho người tiêu dùng về chi phí của việc sản xuất ra một sản phẩm nào đó là bao nhiêu và tín hiệu cho người sản xuất về sự đánh giá tương đối về sự chi trả của người tiêu dùng sản phẩm là bao nhiêu Giả sử, một loại hàng hóa có nhu cầu cao sẽ làm tăng giá, giá tăng sẽ tạo động lực để người sản xuất gia tăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu, qua đó nguồn lực trong xã hội sẽ được huy động để đáp ứng cho nhu cầu này Ngược lại, nếu một loại hàng hóa có nhu cầu thấp, giá sẽ giảm, người sản xuất sẽ giảm bớt sản lượng để dịch chuyển nguồn lực sang những lĩnh vực khác có hiệu quả hơn Thông qua quá trình vận động như vậy, những nguồn lực của xã hội sẽ được phân bổ một cách tối ưu, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu xã hội

6 Lưu Đức Hải, 2006, Cẩm nang quản lý môi trường, Nhà xuất bản giáo dục

7 http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_th%E1%BB%8B_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng

Trang 18

Dựa trên cơ sở những nguyên lý của nền kinh tế thị trường, vận dụng các quy luật trong phát triển kinh tế vào trong các công tác quản lý môi trường góp phần hỗ trợ cho các nhà hoạch định đưa ra được các chính sách hợp lý và các công cụ kinh tế thích hợp để điều chỉnh hành vi của các đối tượng trong nền kinh tế, phân bổ hợp lý các tài nguyên thiên nhiên, định hướng hoạt động sản xuất và tiêu dùng có lợi cho công tác bảo vệ môi trường Nền kinh tế Việt Nam

là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đó là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước pháp quyền XHCN hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh 8 Đây là một nền kinh tế hỗn hợp, vừa vận hành theo cơ chế

thị trường với các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, vừa có sự điều tiết chặt chẽ của Nhà nước Nhà nước XHCN quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, chính sách, pháp luật đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, hay những thất bại của thị trường Chính vì thế, các cơ chế, chính sách trong quản lý môi trường phải áp dụng các quy luật vận động của nền kinh tế thị trường kết hợp với sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước để tăng cường tính hiệu trong việc thực thi những cơ chế, chính sách này

Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường có nghĩa là làm cho hoạt động quản lý môi trường đạt hiệu quả hơn từ góc độ kinh tế thông qua việc lồng ghép các yếu

tố kinh tế, vận dụng các quy luật phát triển kinh tế vào trong các hoạt động quản

lý môi trường trên cơ sở coi bảo vệ môi trường là thước đo hiệu quả và bền vững của hoạt động kinh tế Trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường cần áp dụng đồng bộ các công cụ luật pháp, hành chính, kỹ thuật với các công cụ kinh

tế để tăng cường trách nhiệm tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, đảm bảo tính hiệu quả trong việc thực thi quy định, chính sách pháp luật quản lý môi trường; góp phần làm cho hoạt động bảo vệ môi trường phát triển song song, đồng hành cùng với sự phát triển và tăng trưởng của kinh tế Ngoài

8 Nghị quyết 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X

Trang 19

việc đẩy mạnh áo dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường, để công tác quản lý môi trường đạt hiệu quả dưới góc độ kinh tế thì việc hình thành các

cơ chế định giá, lượng giá giá trị môi trường cũng đóng vai trò quan trọng, hỗ trợ cho các nhà quản lý đưa ra các quyết định để phân bổ hợp lý, hiệu quả tài nguyên này, tránh việc khai thác và sử dụng bừa bãi làm suy giảm chất lượng môi trường vì hầu hết môi trường thường mang giá trị phi thị trường (tức là không có giá trên thị trường, không có sự mua bán trao đổi trên thị trường)

Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường cũng có nghĩa là việc xây dựng các cơ chế làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua các hoạt động quản

lý và bảo vệ môi trường Cụ thể, kinh tế hóa lĩnh vực môi trường là đẩy mạnh

việc áp dụng công cụ thuế/phí môi trường Thuế/phí môi trường là công cụ vừa góp phần điều chỉnh hành vi của người gây ô nhiễm, điều tiết vĩ mô các quan hệ

xã hội theo hướng sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường vừa góp phần tạo thêm nguồn thu trong ngân sách nhà nước (NSNN), tái đầu tư vào các hoạt động bảo vệ môi trường, hạn chế, khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường Thuế/phí môi trường là một trong những công cụ dựa vào thị trường (Market Based Instruments) hay các công cụ kinh tế (Economic Instruments), nó

sẽ giúp người gây ô nhiễm đưa ra lựa chọn phù hợp, hiệu quả nhất để tuân thủ pháp luật và đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn về môi trường Như vậy, Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường không những góp phần hạn chế, giảm thiểu ô nhiễm, suy thoái môi trường, làm cho công tác quản lý môi trường đạt hiệu quả mà nó còn góp phần tăng nguồn thu cho NSNN và tăng tỷ trọng đóng góp của lĩnh vực trong tổng thu nhập quốc nội (GDP), khẳng định vị thế của lĩnh vực môi trường

trong sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế

Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường cũng có nghĩa là việc hình thành, tạo lập

và phát triển đồng bộ các loại thị trường hàng hóa và dịch vụ về môi trường (thị

trường chuyển giao giấy phép xả thải, thị trường chi trả dịch vụ môi trường…); phát triển ngành công nghiệp môi trường như ngành sản xuất, chế tạo các thiết

bị, máy móc xử lý, tái chế, tái sử dụng chất thải, ngành chế tạo ra các thiết bị đo

Trang 20

lường, quan trắc môi trường… Kinh tế hóa coi môi trường như là một thị trường mới có thể khai thác, tạo ra doanh thu, lợi nhuận cho các bên liên quan, vì thế cần thiết lập môi trường pháp lý thông thoáng, thuận lợi, đưa ra các cơ chế, chính sách đồng bộ thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường này phát triển, tạo nguồn thu cho nền kinh tế, đóng góp và sự tăng trưởng kinh tế

Tổng quát lại, Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường có thể được hiểu là sự đổi mới cơ chế, chính sách trong quản lý môi trường để phù hợp, đồng bộ với cơ chế của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm làm cho công tác quản lý môi trường trở nên hiệu quả hơn với mục tiêu bảo vệ môi trường; tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế

2 Mục tiêu kinh tế hóa lĩnh vực môi trường

Căn cứ theo Quyết định 675/QĐ- BTNMT ngày 9 tháng 4 năm 2010 của

Bộ Tài Nguyên và Môi trường về kế hoạch hành động thực hiện Nghị Quyết NQ/BCSĐTNMT, mục tiêu của việc đẩy mạnh kinh tế hóa lĩnh vực môi trường là:

27 Đổi mới, hoàn thiện thể chế quản lý và bảo vệ môi trường dựa trên nguyên tắc của nền KTTT theo định hướng XHCN Nâng cao năng lực phân tích kinh tế, vận dụng các quy luật phát triển kinh tế vào trong quản lý môi trường

- Thúc đẩy lĩnh vực môi trường phát triển nhanh và bền vững, đồng bộ với tiến trình phát triển các thể chế KTTT theo định hướng XHCN

- Nâng tầm đóng góp và vị thế của lĩnh vực môi trường trong nền kinh

tế quốc dân vì mục tiêu phát triển bền vững đất nước

Những lợi ích của việc thực hiện kinh tế hóa lĩnh vực môi trường mang lại:

ƒ Kinh tế hoá lĩnh vực môi trường góp phần làm cho mục tiêu bảo vệ môi trường được thực hiện một cách hiệu quả hơn thông qua việc coi bảo vệ môi trường là thước đo hiệu quả và có tính bền vững của hoạt động kinh tế

ƒ Kinh tế hóa đảm bảo những quyết sách được đưa ra dựa trên những đánh giá định lượng và không bị bất cập so với quy luật vận động của nền kinh tế thị

Trang 21

trường Kinh tế hóa góp phần hoàn thiện thể chế chính sách trong quản lý và bảo

vệ môi trường đồng bộ với tiến trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường theo định hướng XHCN nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước trong lĩnh vực môi trường thông qua việc áp dụng đồng bộ các công cụ luật pháp, hành chính với các công cụ kinh tế trong thực tế, tăng cường tính hiệu quả của các công cụ này

ƒ Kinh tế hóa góp phần làm tăng trách nhiệm tuân thủ các quy định về bảo

vệ môi trường Kinh tế hóa điều chỉnh hành vi của người gây ô nhiễm thông qua các quy luật của thị trường, các mối quan hệ thị trường trong nền kinh tế, từ đó hạn chế, giảm thiểu được ô nhiễm, suy thoái môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

ƒ Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường định giá, lượng hóa các giá trị hàng hóa

và dịch vụ môi trường, hạch toán chúng vào trong các hoạt động, quy trình của nền kinh tế, từ đó tăng cường hiệu quả của việc khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và giảm thiểu những thiệt hại kinh tế do suy thoái và ô nhiễm môi trường, hỗ trợ Chính phủ trong việc cân đối được những chính sách

vĩ mô trong nền kinh tế

ƒ Kinh tế hóa phát huy tiềm năng, nâng tầm đóng góp và vị thế của lĩnh vực môi trường trong nền kinh tế quốc dân Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường nâng cao mức đóng góp từ hoạt động bảo vệ môi trường cho ngân sách nhà nước, tăng nguồn vốn tái đầu tư vào các hoạt động bảo vệ môi trường, khắc phục, phòng ngừa ô nhiễm, suy thoái và các sự cố về môi trường

ƒ Kinh tế hóa lĩnh vực môi trường thúc đẩy việc hình thành và phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ môi trường, tạo môi trường pháp lý thông thoáng, thuận lợi cho loại hình hoạt động này phát triển

3 Nguyên tắc cơ bản để thực hiện kinh tế hóa lĩnh vực môi trường

Để đẩy mạnh kinh tế hóa lĩnh vực môi trường, làm cho các cơ chế, chính sách trong quản lý môi trường phù hợp với thể chế vận hành của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN cần dựa trên 2 nguyên tắc cơ bản sau:

Trang 22

Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền

Việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như lao động và các nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất sẽ dẫn tới thải các chất thải vào môi trường đất, nước, không khí Do không có giá chính xác và đặc tính mở của tài nguyên và môi trường nên sẽ dẫn đến việc khai thác và sử dụng quá mức, gây ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt tài nguyên, do đó cần phải “nội hóa” những chi phí của việc sử dụng và làm suy thoái tài nguyên và môi trường Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền ra đời

Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP- Poluter Pays Principle) bắt nguồn vào năm 1972 từ đề xuất của Hội đồng OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) về hướng dẫn những nguyên tắc liên quan đến khía cạnh kinh

tế quốc tế của các chính sách môi trường

“Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền là nguyên tắc mà theo đó những người gây ô nhiễm phải chịu chi phí cho các biện pháp nhằm giảm thiểu

ô nhiễm do những thiệt hại gây ra cho xã hội hoặc vượt quá mức độ (tiêu chuẩn)

ô nhiễm cho phép” 9

Theo nguyên tắc này, tất cả những ai gây ô nhiễm môi trường, tác động

tiêu cực đến môi trường thì đều phải nộp phí Nguyên tắc này xuất phát từ những luận điểm của Pigow về nền kinh tế phúc lợi Theo đó, thì giá cả của các loại hàng hóa, dịch vụ trên thì trường phản ánh đầy đủ tổng chi phí sản xuất bao gồm chi phí của tất cả các nguồn lực được sử dụng Ví dụ: một người chủ sở hữu đất lựa chọn phương án thoát nước ở vùng đất ngập nước tự nhiên trên khu đất của họ ấy để tăng tính hiệu quả của tài sản của họ, do đó họ ấy phải chịu toàn

bộ chi phí cho việc làm đó Tổng chi phí có thể bao gồm chi phí cá nhân và những thiệt hại gây ra cho xã hội do sự giảm hệ sinh thái đó

Nguyên tắc này đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường thông qua việc buộc những người gây ô nhiễm môi trường phải tiếp thu đầy đủ các chi phí sản

9 Glossary of Environment Statistics, 1997, Studies in Methods, Series F, No 67, United Nations, New York

Trang 23

xuất (bao gồm các chi phí môi trường) Nó góp phần khắc phục những thất bại của thị trường, giảm những tổn thất về phúc lợi xã hội

Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền

Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền (BPP- Benefit Pays Pricnciple) tương tự như nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền (UPP- User Pays Principle)

được hiểu là những người sử dụng hay được hưởng lợi từ việc sử dụng hàng hóa dịch vụ đều phải chịu chi phí chi việc cung cấp chúng10 Cụ thể là, tất cả những ai hưởng lợi do có được môi trường trong lành, không bị ô nhiễm đều phải nộp phí Ví dụ, người chủ sở hữu khu đất bảo tồn những vùng đất ngập nước tự nhiên nhằm mục đích môi trường thì chi phí được chia sẻ cho tất cả những ai được hưởng lợi từ hệ sinh thái đất ngập nước đó

Nguyên tắc này chủ trương việc phòng ngừa và cải thiện môi trường cần được hỗ trợ từ phía những người muốn thay đổi hoặc những người không phải trả giá cho các chất thải gây ô nhiễm môi trường Thực hiện nguyên tắc BPP nhằm hướng tới mục tiêu bảo vệ môi trường hay phục hồi môi trường thông qua các khoản thu từ cộng đồng

Trên thực tế, việc kết hợp các nguyên tắc này gặp phải khó khăn Khó khăn chủ yếu đó là việc xác định đối tượng chính hưởng lợi Ví dụ: Việc duy trì

đa dạng sinh hoặc và giảm thiểu biến đổi khí hậu sẽ mang lại lợi ích cho mọi người dân Úc và tất cả mọi người trên thế giới, tuy nhiên nhiều biện pháp bảo tồn như thiết kế mô hình giảm thiểu những tác động của độ mặn thì chủ yếu mang lại lợi ích cho một khu vực cụ thể hoặc một bang Do đó, việc áp dụng nguyên tắc BPP không đảm bảo được tính công bằng trong thực tế, bởi lẽ nó không đòi hỏi tất cả mọi người phải trả đầy đủ chi phí cho các hàng hóa và dịch

vụ mà họ sử dụng

10David Pannell, 2004, The University of Western Australia, Who should pay for the environment?

http://cyllene.uwa.edu.au/~dpannell/pd/pd0021.htm

Trang 24

4 Nội dung của đẩy mạnh thực hiện kinh tế hóa lĩnh vực môi trường

Thực hiện kinh tế hóa lĩnh vực môi trường bao gồm nhiều nội dung cụ thể khác nhau Tuy nhiên, dựa trên cơ sở những đặc thù riêng của quản lý trong lĩnh vực môi trường, trong phạm vi nghiên cứu này, đẩy mạnh kinh tế hóa lĩnh vực môi trường gồm 2 nội dung chủ đạo, cốt lõi sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh áp dụng các nhóm công cụ kinh tế trong công tác quản lý môi trường như nhóm công cụ tạo nguồn thu trực tiếp cho ngân sách nhà nước (thuế, phí môi trường), nhóm công cụ tạo lập thị trường (chi trả dịch vụ môi trường, giấy phép xả thải), nhóm công cụ nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động BVMT (đặt cọc hoàn trả, bồi thường thiệt hại môi trường, ký quỹ môi trường, nhãn sinh thái)

Thứ hai, xây dựng và áp dụng nhóm công cụ hỗ trợ cho việc đổi mới các

cơ chế, chính sách quản lý môi trường phù hợp với nền KTTT như: định giá, lượng giá, hạch toán môi trường

Trang 25

CHƯƠNG II THỰC TIỄN TRIỂN KHAI KINH TẾ HÓA

LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG

Như nội dung đã trình bày trong chương I, đẩy mạnh thực hiện kinh tế hoá lĩnh vực môi trường trong nghiên cứu này bao gồm hai nội dung chính đó là đẩy mạnh áp dụng các công cụ kinh tế trong công tác quản lý môi trường, hình thành và áp dụng các công cụ hỗ trợ cho việc đổi mới các cơ chế, chính sách quản lý môi trường phù hợp với nền KTTT Tại chương II, chúng tôi tập trung làm rõ hai nội dung này dựa trên thực tiễn triển khai tại một số quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam

I Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới liên quan đến kinh tế hóa lĩnh vực môi trường

1 Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường

Các công cụ kinh tế đã phát huy vai trò quan trọng trong việc thực hiện quá trình kinh tế hóa lĩnh vực môi trường và đang trở thành nhóm chính sách được áp dụng ngày càng rộng rãi trong những thập kỷ vừa qua trong bảo vệ môi trường Ngay từ đầu những năm 1970, các quốc gia trên thế giới đã bắt đầu sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường Đến nay, các loại công cụ này đã được sử dụng rộng rãi ở các cấp độ khác nhau từ quốc gia đến địa phương nhằm kiểm soát ô nhiễm và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên

Công cụ kinh tế hay các công cụ dựa vào thị trường được định nghĩa là

“biện pháp khuyến khích kinh tế, được xây dựng dựa trên nền tảng của các quy luật kinh tế thị trường Công cụ kinh tế có thể được hiểu là các công cụ chính sách sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong các hoạt động của cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường”11

So với công cụ chỉ huy và kiểm soát (CAC- Command and Control) là

công cụ chính sách trong quản lý môi trường, bao gồm “chỉ huy” tức là đặt ra

11 Nguyễn Thế Chinh, 2003, Giáo trình Kinh tế và quản lý Môi trường, Nhà xuất bản Thống Kê

Trang 26

tiêu chuẩn – mức độ ô nhiễm tối đa có thể cho phép và “kiểm soát” tức là sự giám sát và thực thi các tiêu chuẩn12 thì các công cụ kinh tế có những ưu điểm vượt trội hơn Vì hiệu quả của áp dụng công cụ CAC tương đối hạn chế: do theo cách tiếp cận của công cụ CAC thì mức tiêu chuẩn “tối ưu” là khó xác định, đặc biệt là đối với hàng hóa không được trao đổi trên thị trường như nước và không khí Ngoài ra, khi thực thi phương pháp CAC do không có sự trợ giúp của những khuyến khích kinh tế dựa vào thị trường do đó không khuyến khích được các doanh nghiệp đưa ra những biện pháp để giảm thiểu lượng ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn cho phép cũng như khuyến khích người tiêu dùng không sử dụng các sản phẩm gây tổn hại đến môi trường Mặt khác, công cụ kinh tế hay công cụ dựa vào thị trường là những công cụ khuyến khích thay đổi hành vi thông qua những tín hiệu của thị trường hơn là thông qua các quy định, chỉ thị rõ ràng về mức độ và phương thức kiểm soát ô nhiễm (Stavins, 2003) Công cụ dựa vào thị trường được thiết kế dựa trên việc sử dụng các tác nhân thị trường (Stavins, 1998; OECD, 1989, 1998) Nó cho phép các đối tượng gây ô nhiễm có thể thực hiện việc kiểm soát mức độ ô nhiễm của họ, hướng tới mục tiêu kinh doanh bền vững (lợi ích đem lại trong dài hạn) Việc áp dụng công cụ kinh tế cho phép các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh có thể linh hoạt trong việc ra quyết định là có nên thay đổi hành vi của mình (như giảm thiểu chất ô nhiễm thải ra môi trường; đầu tư trang thiết bị máy móc ) hay chịu chi phí của việc gây ô nhiễm môi trường

Hiện nay, công cụ kinh tế được áp dụng ở hầu hết các nước phát triển

và các nước đang phát triển, và ngày càng phong phú về thể loại Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi chia các công cụ kinh tế thành ba nhóm chính nhằm đẩy mạnh kinh tế hoá trong lĩnh vực môi trường bao gồm: (1) nhóm công

cụ tạo nguồn thu trực tiếp cho NSNN, (2) nhóm công cụ tạo lập thị trường và (3)

nhóm công cụ nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động BVMT

12 ESCAP, 1999(c), Integrating Environmental Considerations into Economic Policy Making

Processes, http://www.unescap.org/drpad/vc/orientation/M5_2.htm

Trang 27

1 1 Nhóm công cụ tạo nguồn thu trực tiếp cho ngân sách nhà nước

Kinh nghiệm thế giới cho thấy đóng góp chính của lĩnh vực môi trường cho ngân sách là các loại thuế/phí môi trường và một số phí đánh vào sản phẩm, phí xả thải, giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng, tùy theo từng quốc gia và từng giai đoạn khác nhau mà cách thức và phần đóng góp này là khác nhau Doanh thu từ nhóm thuế/phí môi trường trung bình chiếm khoảng 5% tổng GDP (dao động từ 3% đến 13%) tại nhiều quốc gia khác nhau13

Thuế và phí môi trường là công cụ kinh tế được sử dụng để tạo nguồn thu trực tiếp cho NSNN Công cụ này nhằm 2 mục tiêu chủ yếu là khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất thải ra môi trường và tăng nguồn thu cho NSNN thông qua việc đưa chi phí môi trường vào trong giá thành sản phẩm theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”

* Thuế môi trường

Thuế môi trường (Environmental Tax) là một công cụ kinh tế để giải quyết các vấn đề môi trường Đây là khoản thu cho NSNN từ những đối tượng gây ô nhiễm, làm thiệt hại cho môi trường Nó góp phần hạn chế, giảm thiểu các tác nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, khuyến khích các hoạt động BVMT Thuế môi trường được thiết kế để nội hóa chi phí môi trường và tạo ra động lực kinh tế cho cá nhân, tổ chức thúc đẩy các hoạt động sinh thái bền vững14 Thuế môi trường thông thường đánh chủ yếu vào các chất gây ô nhiễm môi trường hay các sản phẩm hàng hóa mà việc sản xuất, sử dụng chúng có tác động tiêu cực đến môi trường, gây ô nhiễm môi trường như: thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm (thuế Sunfua, thuế CFCs, thuế CO2…) và thuế đánh vào các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường (thuế xăng, dầu, than, thuốc bảo vệ thực vật…)

Trang 28

* Phí môi trường

Phí môi trường là khoản thu của NSNN dành cho hoạt động bảo vệ môi trường như để thu gom và xử lý phế thải, nước thải, khắc phục ô nhiễm môi trường 15 Mục đích chính của việc thu phí môi trường là hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa việc xả các chất thải ra môi trường, mà các chất thải này có khả năng xử lý được Phí môi trường buộc những người gây ô nhiễm môi trường phải xử lý các chất thải trước khi thải ra môi trường hay hạn chế sử dụng các nguồn nguyên liệu có nguy cơ gây ra ô nhiễm, vì vậy công cụ này khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh, những người gây ô nhiễm phải

xử lý các chất ô nhiễm trong nguồn thải trước khi thải ra môi trường Phí môi trường được tính toán dựa trên lượng phát thải của chất ô nhiễm và chi phí xử lý

ô nhiễm, khắc phục ô nhiễm

Một số loại thuế/phí ô nhiễm môi trường phổ biến bao gồm: phí nước thải, phí gây ô nhiễm không khí, thuế cacbon, thuế sulphur, phí gây suy thoái tầng ôzôn, thuế chôn lấp rác, thuế xăng dầu, thuế sử dụng khí gas, thuế môi trường, gần đây là việc áp dụng mới các loại thuế liên quan đến chất thải rắn (CTR), và tăng thuế suất đối với thuế CTR Đối với thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm: có 2 loại thuế chủ yếu được áp dụng ở các nước trên thế giới đó là thuế sulphur và thuế CO2

Thuế/ phí môi trường ở các quốc gia trên thế giới được sử dụng nhằm tái đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường, và góp phần hỗ trợ cho an sinh xã hội Tại Phần Lan, thuế môi trường bắt đầu được áp dụng từ năm 1997, bao gồm thuế sinh thái, thuế năng lượng nhằm hỗ trợ cho những người có thu nhập thấp

Tại Đức, thuế môi trường được áp dụng đối với nhiên liệu và đã làm giảm mức

tiêu thụ nhiên liệu xuống 0,8% tương đương với việc tiết kiệm được khoảng 9 tỷ

DM (số liệu năm 1999), đóng góp vào Quĩ trợ cấp Quốc gia Tại Hà Lan,

một phần lớn nguồn thu từ các loại thuế năng lượng đã góp phần giảm các khoản đóng góp an sinh xã hội (số liệu năm 1999) Tại Thụy Sĩ, nguồn

15 Nguyễn Thế Chinh, 2003, Kinh tế Quản lý Tài nguyên và Môi trường, tr.423, Nhà xuất bản Thống

Trang 29

thu từ thuế sinh thái đối với các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs) và nhiên liệu sưởi ấm (trừ năng lượng mặt trời) sẽ được sử dụng để phân phối lại cho các

hộ gia đình dưới hình thức là các khoản hỗ trợ bảo hiểm y tế (1999) Tại Anh,

nguồn thu 450.000.000 £/ năm từ thuế bãi rác (số liệu năm 1996) được sử dụng để giải quyết các vấn đề an sinh xã hội.16

Dưới đây là một số kinh nghiệm về thuế/phí được áp dụng tại một số quốc gia trên thế giới:

Tại Đan Mạch - Thuế sulphur 17

Đan Mạch có nghĩa vụ đáp ứng mục tiêu giảm phát thải khí sulphur theo quy định của điều ước quốc tế Mặc dù mục tiêu giảm phát thải đã được thông qua năm 1980, để đáp ứng mục tiêu của Đan Mạch đưa ra nhiều biện pháp để cắt giảm sự phát thải khí sulphur dẫn đến sự ra đời của thuế sulphur Mức thuế được xem như là thuế xanh kể từ khi nó được áp dụng nhằm đạt được mục tiêu bảo vệ môi trường Theo quy định của Điều ước quốc tế, Đan Mạch có nghĩa vụ phải giảm phát thải khí sulphur vào năm 2000 tương ứng với không quá 80% của mức năm 1980 Đây là sự ưu đãi thuế để giảm hàm lượng sulphur của các nhiên liệu hóa thạch18 Thuế này chỉ áp dụng cho nhiên liệu với hàm lượng sulphur cao

hơn 0,05%

Thuế sulphur được áp dụng trong các ngành như hạn ngạch khí thải cho nhà máy điện, khử sulphur bắt buộc đối với các đơn vị trong các nhà máy điện mới, giới hạn giá trị của hàm lượng sulphur trong nhiên liệu

Thuế sulphur của Đan Mạch có hai hình thức bao gồm: (1) Thuế sản

phẩm là thuế đánh vào các hàm lượng sulphur trong nhiên liệu được áp dụng với

mức thuế 20 DKK/kg SO2 ; và (2) Thuế phát thải là loại thuế đánh vào lượng

phát thải khí sulphur từ hoạt động sản xuất, kinh doanh với mức thuế 10 DKK/kg SO2 (số liệu năm 1999)

16 Updated from OECD, 1997, Environment taxes and green tax reform

17 http://economicinstruments.com/index.php/air-quality/article

18 Danish Environmental Protection Agency,1999, Economic Instruments In Environmental Protection

in Denmark, Ministry of Environment and Energy , pp93-96

Trang 30

Thuế sulphur của Đan Mạch đã có tác động đáng kể đến công tác quản lý môi trường:

- Thuế làm tăng chi phí năng lượng, các cơ sở sản xuất dựa trên việc sử dụng các nhiên liệu có chứa sulphur Do đó, tổng năng lượng tiêu thụ sẽ giảm;

- Thuế làm thay đổi cơ cấu giá năng lượng, qua đó tạo động cơ sử dụng nhiên liệu thay thế có hàm lượng sulphur thấp hơn so với các nhiên liệu hoá thạch (như than đá và dầu);

- Thuế thúc đẩy đầu tư công nghệ xử lý cuối đường ống

Thuế sulphur ở Đan Mạch đã áp dụng rất thành công, hàm lượng sulphur

của cả hai loại nhiên liệu là dầu mỏ và khí thiên nhiên đã giảm từ 0,2% đến 0,05% và hàm lượng sulphur trong than đã giảm được một phần ba (1999 EEA) Đồng thời thuế đã có tác động tích cực đến sự phát triển của các nhà máy lọc sulphur và công nghệ xử lý khí thải (Bộ Thuế Đan Mạch 1998 được trích dẫn trong năm 1999 EEA) Năm 1996, Đan Mạch đã giảm được 33% lượng phát thải

SO2 và thay đổi thành phần của nhiên liệu chứa lượng sulphur thấp (EEA Dự thảo Báo cáo năm 2000) Theo Sterner (2003), mức sulphur năm 1997 (bình quân 22 kg của SOx/ người) đã giảm 76% so với năm 1980

Đặc biệt, thuế sulphur đã đóng góp một khoản lớn cho ngân sách Đan Mạch, năm 1996 là 296,5 triệu DKK, và 1998 là 375 triệu DKK

Tại Thụy Điển

Việc đánh thuế phát thải khí sulphur tại Thuỵ Điển cũng đem lại những

kết quả khả quan trong kiểm soát ô nhiễm, ước tính có tác động làm giảm 30% lượng phát thải trong thời gian từ năm 1989 đến năm 199519

Thụy Điển cũng áp dụng công cụ thuế môi trường trong kiểm soát ô nhiễm Loại thuế này áp dụng cho tất cả hoạt động gây ô nhiễm như sử dụng

19 Sterner, 2003, Policy Instruments for Environmental and Natural Resource Management Resources

for the Future, Washington

Trang 31

năng lượng, hoạt động gây ô nhiễm, sử dụng tài nguyên, sử dụng các phương tiện giao thông Tổng số thuế môi trường thu được hàng năm của Thụy Điển trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 1998 được thể hiện trong bảng 2 dưới đây

(triệu SEK ) Các loại

Ba Lan đã áp dụng kết hợp các công cụ kinh tế để giảm lượng ô nhiễm và

hỗ trợ tài chính cho công tác xử lý ô nhiễm Thuế phát thải đối với sulphur của

Ba Lan trong thời gian từ năm 1990 đến năm 1996 dao động trong khoảng từ 60

÷ 100 USD/tấn SO2 Việc áp dụng công cụ thuế phát thải ở Ba Lan đã thành công trong việc khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh giảm ô nhiễm đồng thời tạo nguồn thu cho ngân sách nhằm đầu tư xử lý ô nhiễm

Tại Indonesia

Năm 1980, Chính phủ Indonesia đã bắt đầu đánh thuế phí tái trồng rừng (reforestation fee) với mức thuế là 4 USD/1m3 đối với các hoạt động đốn gỗ Đến năm 1989, mức phí này tăng lên 7 USD/ 1m3 và 22 USD/1 m3 vào năm

1997 Với tiền phí thu được, quỹ sử dụng để tái trồng rừng và thúc đẩy các hoạt

20 Glenn-Marie Lange, 2003, Policy Applications of Environmental Accounting

Trang 32

động bảo vệ rừng

1.1 Nhóm công cụ tạo lập thị trường

1.1.1 Chi trả dịch vụ môi trường (chi trả dịch vụ sinh thái)

Theo báo cáo đánh giá hệ sinh thái (2005) do Liên Hiệp Quốc tài trợ để đánh giá tình trạng hệ sinh thái trên thế giới Bản báo cáo đã đưa ra định nghĩa

“Dịch vụ hệ sinh thái là những lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp mà con người

hưởng thụ từ các chức năng của hệ sinh thái” Bản báo cáo đã xác định danh mục các loại hình dịch vụ sinh thái cung cấp như: sản phẩm lương thực, thực phẩm (như lúa gạo, vật nuôi, thủy hải sản ); các cây công nghiệp (như bông,

gỗ, gai dầu ); các nguồn dược liệu; cung cấp nguồn nước; điều hòa không khí; điều tiết nguồn nước; hạn chế xói mòn; các dịch vụ văn hóa (bao gồm cả tinh thần và tôn giáo, các giá trị thẩm mỹ, giải trí, du lịch sinh thái )21 Cũng theo báo cáo, khoảng 60% dịch vụ sinh thái trên thế giới đang bị suy thoái hoặc khai thác, sử dụng không bền vững Do đó, nhằm mục đích thúc đẩy phát triển hệ sinh thái dựa vào cộng đồng, khôi phục lại những hệ sinh thái bị phá hủy và duy trì việc cung cấp các dịch vụ sinh thái quan trọng dẫn đến việc hình thành công

cụ chi trả dịch vụ hệ sinh thái

21 Living Beyond Our Means; Statement from the board of the Millennium Ecosystem Assessment, http://www.millenniumassessment.org/documents/document.429.aspx.pdf

Trang 33

Chi trả dịch vụ môi trường (Payments for Environment Services-PES) hay còn gọi là (Payments for Ecosystems Services-PES) chi trả dịch vụ sinh thái

là công cụ kinh tế sử dụng để những người được hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó 22 Đây là cơ chế chuyển giao nguồn tài chính từ

những người được hưởng lợi từ dịch vụ sinh thái nhất định cho những người cung cấp các dịch vụ sinh thái

Chi trả dịch vụ sinh thái23 đó là sự giao kèo, ký kết tự nguyện và cùng có lợi giữa những người được hưởng lợi từ hệ sinh thái và những nhà cung cấp dịch

vụ sinh thái Bên cung cấp dịch vụ sinh thái nắm quyền sở hữu hàng hóa, dịch

vụ môi trường mang lại những lợi ích cho bên có nhu cầu Bên được hưởng lợi

từ dịch vụ sinh thái sẽ sẵn sàng chi trả một mức giá thấp so với phúc lợi của họ

do hệ sinh thái mang lại Bên cung cấp dịch vụ sinh thái sẵn sàng chấp nhận một mức chi trả cao hơn chi phí của việc cung cấp các dịch vụ sinh thái Chương trình PES là một ví dụ điển hình của định lý Coase Theo định lý Coase, ngoại ứng môi trường có thể được giải quyết thông qua thương lượng riêng giữa những người sẵn sàng chi trả để giảm những mối nguy hại về môi trường và những người sẵn sàng chấp nhận các khoản bồi thường cho việc giảm hoạt động

mà tạo ra các gánh nặng môi trường

PES góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của dịch vụ

hệ sinh thái đó, cải thiện sinh kế bền vững cho những người cung cấp dịch vụ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho toàn xã hội Ngoài ra, cơ chế PES còn góp phần hình thành thị trường giá cả cho các dịch vụ sinh thái thông qua việc lượng giá các giá trị của hệ sinh thái, quan hệ mua bán trao đổi giữa người hưởng lợi từ

hệ sinh thái đó (người mua) và người cung cấp dịch vụ hệ sinh thái (người bán),

22 Huỳnh Thị Mai, Ban Quản lý tài nguyên nước và đa dạng sinh học, Chi trả dịch vụ hệ sinh thái- Giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học,

gii-phap-bo-tn-a-dng-sinh-hc&catid=1:tin-tc,

http://hieuanh.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=126:chi-tr-dch-v-h-sinh-thai-23 http://en.wikipedia.org/wiki/Payment_for_ecosystem_services

Trang 34

từ đó hình thành thị trường chi trả dịch vụ sinh thái và tạo ra nguồn tài chính bền vững để duy trì và bảo tồn các chức năng dịch vụ của hệ sinh thái

PES chia thành 4 loại chính: chi trả cho bảo vệ rừng đầu nguồn (watershed protection); chi trả cho cảnh quan môi trường (landscape beauty); chi trả cho bảo tồn đa dạng sinh học (biodiversity); chi trả cho hấp thụ cacbon (carbon sequenstration)

Bảng 2 Các loại cơ chế chi trả cho dịch vụ môi trường

Chi trả cho bảo

Nguồn: Nguyễn Công Thành (2008)

PES được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển như Mexico, Canada, các nước Châu Mỹ La tinh, Costa Rica PES cũng đã được phát triển và thực hiện thí điểm tại một số nước ở châu Á như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam Đặc biệt là tại

Trang 35

Indonesia và Philippines có rất nhiều các sáng kiến về PES liên quan đến dịch

vụ sinh thái của rừng đầu nguồn

Một trong những chương trình PES tiên tiến nhất cho đến nay đã được phát triển trên đảo Lombok, Indonesia, được thực hiện bởi tổ chức Quỹ Động vật hoang dã quốc tế (World Wild Fund – WWF) nhằm bảo tồn các khu rừng của MiRinjani Các khu rừng có vai trò rất quan trọng, đã tạo ra 50.000.000 USD mỗi năm cho sản phẩm ngành nông nghiệp của khu vực, và cung cấp nước sinh hoạt trị giá 14 triệu USD Đồng thời các hoạt động du lịch sinh thái tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân địa phương Một nghiên cứu của WWF cho thấy gần như tất cả 43 nghìn hộ gia đình ở khu vực này sẽ đồng ý chi trả khoảng 0,60 USD/tháng cho các hoạt động liên quan đến môi trường Mục đích của chương trình PES là sử dụng số tiền thu được để chi trả cho việc bảo tồn các khu rừng đầu nguồn của sông Segara và cải thiện điều kiện xã hội của cộng đồng xung quanh Đề án PES mang lại niềm hy vọng lớn nhằm duy trì việc bảo vệ và quản lý nhiều rừng vì lợi ích của cộng đồng địa phương và bảo vệ môi trường tự nhiên thông qua việc huy động các nguồn tài chính bền vững cho bảo tồn 24

Kết quả thực hiện chi trả dịch vụ môi trường ở một số nước bao gồm: Costa Rica, Mexico, Brazil 25

Tại Costa Rica

Costa Rica thực hiện đề án PES chính thức bắt đầu từ năm 1996 với việc sửa đổi Luật Lâm nghiệp và đưa ra các kinh nghiệm đối với các hình thức trợ cấp trực tiếp cho ngành lâm nghiệp Đề án tập trung vào các dịch vụ môi trường mang tính toàn cầu bao gồm bảo tồn đa dạng sinh học và hấp thụ cacbon Tuy nhiên, đề án này chủ yếu được tài trợ bởi nguồn thu từ thuế trong nước đối với việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch Ban đầu có bốn hình thức PES đã được nhận trợ cấp là bảo vệ rừng, quản lý rừng, tái trồng rừng và trồng cây Từ năm 1997

24 http://www.worldwildlife.org/science/projects/ecosystemserv/item1987.html

25 Herman Rosa, Deborah Barry, Susan Kandel, and Leopoldo Dimas, 2004, Compensation for Environmental Services and Rural Communities: Lessons from the Americas

Trang 36

đến năm 2002, chương trình được áp dụng trên hơn 300.000 ha rừng và tổng số tiền thu được vượt quá 80 triệu USD, trong đó 70% số tiền thu được sẽ dùng vào việc bảo vệ rừng

Tại Mexico

Tại Mexico, người dân bản địa đa phần sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, 80% diện tích đất rừng thuộc sở hữu của cộng đồng địa phương Vì vậy, việc quản lý tài nguyên ở Mexico áp dụng phương thức dựa trên cộng đồng bao gồm bảo vệ đa dạng sinh học, lưu trữ cacbon, du lịch sinh thái, môi trường và sản xuất thân thiện Trong các bang miền nam của Chiapas,

ví dụ, hơn 300 nông dân tham gia dự án Scolelte với hình thức thanh toán trực tiếp cho người dân khi họ bảo vệ rừng giúp tăng thu nhập cho họ Người dân cũng được nhận nhiều ưu đãi đối với các hoạt động liên quan đến khả năng thâm nhập thị trường gỗ và tích hợp hấp thụ cacbon vào sản xuất cà phê hữu cơ hoặc các sáng kiến sinh thái nông nghiệp khác

Tại Brazil

So với Mexico, cộng đồng bản xứ tại Brazil sống phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiên, vì vậy hoạt động sinh kế của người dân nơi đây đã gây áp lực lớn đến tài nguyên thiên nhiên Những kinh nghiệm của Brazil liên quan đến việc

mở rộng và bảo vệ quyền lợi của cộng đồng dựa vào việc quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên

Các khái niệm truyền thống về bảo vệ mà không có người tham gia đang dần nhường chỗ cho quan điểm rộng hơn Ví dụ, trong vườn quốc gia JAU - một

di sản thế giới và công viên quốc gia lớn thứ hai của Brazil - mặc dù có điều luật chính thức cấm các khu định cư trong công viên quốc gia Tuy nhiên, cơ sở pháp

lý này nhằm di dời cộng đồng bản địa vốn đã có từ lâu đời trong công viên này

đã không được triển khai trên thực tế do đó ảnh hưởng đến công tác bảo tồn công viên và cuộc sống của cộng đồng Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cộng đồng và hỗ trợ sinh kế cho người dân sống trong các khu bảo tồn (như các hoạt động thu hoạch cao su và các sản phẩm gỗ khác) thì phải kết hợp các giải

Trang 37

pháp về pháp luật và kinh tế Theo quy định của nhà nước Acre, ví dụ, theo Luật Chico Mendes, các hiệp hội cao su sẽ chi trả cho người dân một khoản tiền khoảng 0,20 USD/ kg cao su thu hoạch nhằm công nhận vai trò quản lý rừng của người dân và duy trì dịch vụ môi trường

1.1.2 Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng

Giấy phép xả thải là loại giấy phép cấp cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quy định mỗi một đơn vị cụ thể được phép xả thải đến một mức

độ nhất định phù hợp với tiêu chuẩn môi trường tại khu vực đó Việc phân phối giấy phép xả thải thường dựa vào mức độ ô nhiễm hoặc hiện trạng tác động môi trường của từng doanh nghiệp, đơn vị Một số đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh muốn thải ra lượng thải lớn hơn lượng thải cho phép được quy định đối với đơn

vị, cơ sở đó và một số đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh có mức xả thải thấp hơn lượng thải được phép xả theo qui định Vì vậy, xuất hiện nhu cầu mua bán, trao đổi, chuyển nhượng giấy phép xả thải giữa các đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh trong đó, người mua là các đơn vị cần giấy phép xả thải còn người bán là các đơn vị sở hữu giấy phép xả thải và hình thành thị trường mua bán giấy phép

xả thải Thị trường này vận hành theo quy luật cung cầu như các thị trường thông thường khác, tuy nhiên hàng hóa giao dịch trên thị trường này đặc biệt hơn các thị trường khác, đó là việc mua bán các chứng chỉ hay giấy phép mang một giá trị nhất định với giá cả được định đoạt theo chủ quan, kỳ vọng và dự báo của các bên tham gia giao dịch26, hay nói cách khác, giá cả của giấy phép xả thải được quyết định trên quan hệ cung cầu của thị trường

Thị trường mua bán, chuyển nhượng giấy phép xả thải cho phép các đơn

vị, cơ sở sản xuất kinh doanh lựa chọn các phương án là mua thêm giấy phép xả thải để tiếp tục thải hay tìm cách cải thiện chất lượng môi trường bằng cách giảm thải, từ đó tạo ra động cơ khuyến khích các đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ hạn chế hành vi gây ô nhiễm môi trường Thông qua việc mua

26 Nguyễn Thế Chinh, 2003, Giáo trình Kinh tế quản lý Tài nguyên và Môi trường, tr.427, Nhà xuất bản Thống kê.

Trang 38

bán, trao đổi giấy phép xả thải chất lượng môi trường vẫn được đảm bảo đồng thời cả người mua và người bán đều có lợi

Trong những năm gần đây, việc sử dụng giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng như là công cụ chính sách môi trường dựa trên thị trường đã được các nhà hoạch định chính sách ngày càng quan tâm Chính sách này cũng

đã nổi lên như một công cụ kiểm soát ô nhiễm hiệu quả từ những năm 1970 Giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng đã trở thành một phương pháp tiếp cận môi trường ngày càng được chấp nhận ở nhiều nước Việc hình thành hạn ngạch phát thải hoặc tổng giấy phép pháp thải phù hợp với khả năng của môi trường là cách thức hiệu quả để kiểm soát ô nhiễm và đảm bảo được mục tiêu kinh tế Công cụ này áp dụng phổ biến với nước thải và khí thải tại các nước phát triển như Mỹ, Thụy điển, Ba Lan v.v

Ở Mỹ, các chương trình SO2 đã cắt giảm được một lượng đáng kể khí thải

SO2 với chi phí thấp hơn dự kiến và đem lại lợi ích về sức khỏe cho con người Liên minh châu Âu đã thành lập một chương trình giao dịch thương mại cho các khí nhà kính và các nước khác như Áo, Nhật Bản, Chile, Hàn Quốc và New Zealand đang xem xét việc sử dụng các chương trình như vậy để kiểm soát ô nhiễm27

Việc áp dụng giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng được đề cập ở một số nước như sau:

Liên minh châu Âu 17

Kế hoạch thương mại khí thải tại Liên minh châu Âu (hoặc EU ETS) là tổ chức có nhiều quốc gia lớn nhất và tham gia mua bán phát thải khí nhà kính tại các nước trên thế giới Giấy phép phát thải có thể mua bán là một trong những công cụ chính sách của EU để đáp ứng mục tiêu giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính đã đề ra trong Nghị định thư Kyoto Việc áp dụng mua bán giấy phép phát thải thực hiện tự nguyện tại Vương quốc Anh và Đan Mạch, trong giai đoạn

27 Mohamed Amine Boutaba, Olivier Beaumais, Sandrine Lardic, 2008, Permit Price Dynamics in the U.S SO 2 Trading Scheme: a Cointegration Approach - PRELIMINARY VERSION

Trang 39

1 vào đầu năm 2005 có 15 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu tham gia, cho đến nay có 25/27 quốc gia thanh viên EU tham gia Các chương trình cắt giảm CO2 có áp dụng với các nhà máy điện và nhà máy cabon chuyên sâu và bao gồm gần một nửa (46%) thành viên của EU phải cắt giảm Giai đoạn đầu của chương trình cắt giảm phát thải CO2 cho phép các tổ chức tham gia giao dịch với nhau và trong khoản tín dụng xác nhận thông qua Nghị định thư Kyoto của Cơ chế phát triển sạch

EU ETS sẽ làm tăng lượng phát thải ước tính đạt được trong hai năm hoạt động đầu tiên là 50-100 MtCO2/ năm Theo một công bố từ Ủy ban châu Âu, đầu năm 2008 Na Uy, Iceland, và Lichtenstein, gia nhập hệ thống thương mại khí thải Liên minh châu Âu (EU ETS) Bộ Môi trường Na Uy cũng đã phát hành bản dự thảo Kế hoạch quốc gia phân bổ chương trình mua bán phát thải cacbon với tổng lượng giao dịch là 15 triệu tấn CO2, trong đó 8 triệu tấn CO2 được thiết lập để bán đấu giá Theo Báo kinh tế của OECD, một cuộc khảo sát của Na Uy năm 2010, các quốc gia đã công bố mục tiêu từ năm 2008 đến năm 2012 là 10% các quốc gia EU cam kết theo Nghị định thư Kyoto và cắt giảm được 30% so với năm 1990 vào năm 2020

Tại Trung Quốc 28

Nằm ở miền Đông Trung Quốc, Giang Tô là một tỉnh có nền kinh tế tương đối phát triển và tổ chức quản lý tương đối hiệu quả Lượng phát thải khí SO2

trong tỉnh là rất lớn lên đến 1,2 triệu tấn trong năm 2000 và đã gây hiện tượng mưa axit có tác động nghiêm trọng đến khu vực Để kiểm soát lượng khí thải

SO2 và đạt tổng số hạn ngạch TEC (1 triệu tấn) được qui định bởi Chính phủ, Giang Tô đã áp dụng một chương trình mua bán phát thải nhằm thúc đẩy hiệu quả giảm phát thải SO2 trong ngành điện do đây là ngành gây phát thải SO2 lớn nhất trong tỉnh

28 OECD Headquarters, 2003, OECD Global forum on sustainable development: Emissions trading concerted action ob tradeable emissions permits country - Implementing SO2 Emissions in China by Jintian Yang and Jeremy Schreifels

Trang 40

Tại Nhật Bản 29

Thành phố Tokyo của Nhật Bản tiêu thụ năng lượng rất lớn và có ngành năng lượng đóng góp giá trị lớn vào GDP Tokyo tiêu thụ năng lượng nhiều bằng "toàn bộ quốc gia ở Bắc Âu, và sản xuất ra sản phầm tương đương với GDP của 16 đất nước lớn nhất thế giới" Giai đoạn đầu tiên của chương trình cắt giảm phát thải khí nhà kính của Nhật Bản đến 2014, các tổ chức tiêu thụ năng lượng sẽ phải cắt giảm lượng khí thải cacbon xuống còn 6% Từ năm 2011, những tổ chức hoạt động xả thải khí không tự xử lý hoặc giảm thiểu khí thải của mình sẽ được yêu cầu mua các chứng nhận phát thải khí thải vượt quá hoặc bằng với lượng phát thải cho phép, hoặc bằng cách khác là đầu tư vào Giấy chứng nhận năng lượng tái tạo Các công ty, tổ chức không tuân thủ sẽ bị phạt tiền Mục tiêu dài hạn của chương trình cắt giảm phát thải khí là cắt giảm khí thải cacbon của đô thị xuống 25% từ năm 2000 đến năm 2020

1.2 Nhóm công cụ nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động bảo

vệ môi trường

1.2.1 Đặt cọc hoàn trả

Đặt cọc hoàn trả 30 là khoản phụ phí thêm vào trong giá thành sản phẩm

có khả năng gây ô nhiễm môi trường, người tiêu dùng các sản phẩm này phải trả thêm một khoản tiền (đặt cọc) khi mua hàng nhằm đảm bảo cam kết sau khi tiêu dùng sẽ đem sản phẩm đó (hoặc phần còn lại của sản phẩm đó) trả lại cho các đơn vị thu gom phế thải hoặc tới những địa điểm đã quy định để tái chế, tái sử dụng hoặc tiêu hủy theo cách an toàn đối với môi trường Nếu thực hiện đúng, người tiêu dùng sẽ được nhận lại khoản đặt cọc do các tổ chức thu gom hoàn trả lại

Công cụ này nhằm mục đích khuyến khích tái sử dụng là rác thải, tái chế lại rác thải hoặc xử lý rác thải một cách an toàn đối với môi trường Đây là một trong những công cụ nhằm nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường thông qua

29 http://en.wikipedia.org/wiki/Emissions_trading

30 Nguyễn Thế Chinh, 2003, Giáo trình Kinh tế quản lý tài nguyên và môi trường, tr 429, NXB thống kê.

Ngày đăng: 10/02/2014, 19:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.M ối quan hệ giữa môi trường và hệ thống kinh tế5 - KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Hình 1. M ối quan hệ giữa môi trường và hệ thống kinh tế5 (Trang 9)
20 Glenn-Marie Lange, 2003, Policy Applications of Environmental Accounting - KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
20 Glenn-Marie Lange, 2003, Policy Applications of Environmental Accounting (Trang 31)
Hình 2. Quy trình thu hồi chai lọ và dòng tiền trong hệ thống đặt cọc hoàn trả của Canada 31 - KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Hình 2. Quy trình thu hồi chai lọ và dòng tiền trong hệ thống đặt cọc hoàn trả của Canada 31 (Trang 42)
Bảng 3. Năng lượng tiết kiệm và CO2 giảm thiểu thông qua hệ thống đặt cọc hoàn trả Encorp33 - KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Bảng 3. Năng lượng tiết kiệm và CO2 giảm thiểu thông qua hệ thống đặt cọc hoàn trả Encorp33 (Trang 43)
Hình 3. Số lượng chai lọ thu hồi thông qua hệ thống Encorp của - KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Hình 3. Số lượng chai lọ thu hồi thông qua hệ thống Encorp của (Trang 43)
Hình 4. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng Nhãn sinh thái châu Âu50 - KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Hình 4. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng Nhãn sinh thái châu Âu50 (Trang 58)
Hình 5. Sự phát triển về số lượng nhãn sinh thái châu Âu được cấp từ năm 1992 đến 2010 (tình đến 30/7/2010)51 - KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Hình 5. Sự phát triển về số lượng nhãn sinh thái châu Âu được cấp từ năm 1992 đến 2010 (tình đến 30/7/2010)51 (Trang 59)
Hình 6. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng Con dấu xanh54 - KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Hình 6. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng Con dấu xanh54 (Trang 60)
được chứng nhận mang nhãn môi trường (bảng 4) 58. - KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
c chứng nhận mang nhãn môi trường (bảng 4) 58 (Trang 62)
Hình 7. Cơ cấu tổ chức các cơ quan quản lý nhãn môi trường Trung Quốc62 - KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Hình 7. Cơ cấu tổ chức các cơ quan quản lý nhãn môi trường Trung Quốc62 (Trang 63)
Hình 8. Sơ đồ về tổng giá trị kinh tế63 TEV = UV + NUV + OV + EV + BV - KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Hình 8. Sơ đồ về tổng giá trị kinh tế63 TEV = UV + NUV + OV + EV + BV (Trang 66)
Bảng 5. Tỷ lệ (%) áp dụng hạch toán quản lý môi trường ở các cơ sở phân theo vùng  (tổng 239 cơ sở) 71 - KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Bảng 5. Tỷ lệ (%) áp dụng hạch toán quản lý môi trường ở các cơ sở phân theo vùng (tổng 239 cơ sở) 71 (Trang 80)
Bảng 6. Chương trình hạch toán môi trường của các nước trên thế giới72 Các nước Hạch toán - KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Bảng 6. Chương trình hạch toán môi trường của các nước trên thế giới72 Các nước Hạch toán (Trang 81)
Hình 9. Sinh khối của cá tuyết, cá mòi cơm và, cá ngựa tại Namibia giai đoạn 1963-1999 thông qua hạch toán (hàng nghìn tấn)75 - KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Hình 9. Sinh khối của cá tuyết, cá mòi cơm và, cá ngựa tại Namibia giai đoạn 1963-1999 thông qua hạch toán (hàng nghìn tấn)75 (Trang 85)
Hình a: Australia - KINH TẾ HÓA LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Hình a Australia (Trang 86)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w