1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều kiện áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu trong điều hành chính sách tiền tệ của NH nhà nước việt nam thực trạng và giải pháp khoá luận tốt nghiệp 765

79 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 453 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, tác giả đã đưa ra quan điểm về các điều kiện áp dụngCSLPMT gồm có: tính độc lập, minh bạch và trách nhiệm của NHTW; mục tiêu và chỉtiêu của chính sách tiền tệ phù hợp; các tổ c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -oOo -

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM -

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Giáo viên hướng dẫn

Họ và tên sinh viên

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu trong bài viết này là trung thực và luận văn với đề tài

“Điều kiện áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu trong điều hành chính sách tiền

tệ của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” được trình bày

là công trình nghiên cứu của riêng bản thân, chưa được công bố trong bất kỳ côngtrình nào khác

Đề tài nghiên cứu này được sự giúp đỡ của TS Nguyễn Tường Vân, lấy số liệu từ các tài liệu trong danh mục tài liệu tham khảo Tôi xin chân thành cảm on TS.

Nguyễn Tường Vân đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này.

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Lương Vũ Tuấn

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU 11

1.1 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TRONG ĐIỀU HÀNH CSTT CỦA NHTW 11

1.1.1 Khái niệm: 11

1.1.2 Sự cần thiết áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu trong điều hành CSTT của NHTW 12

1.1.3 Ưu nhược điểm của chính sách lạm phát mục tiêu 15

1.2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU 17

1.2.1 Nhóm điều kiện về hiệu quả hoạt động của NHTW: 20

1.2.2 Nhóm điều kiện về khả năng thiết lập một mục tiêu lạm phát có ý nghĩa 22

1.2.3 Nhóm điều kiện về mức độ lành mạnh của hệ thống tài chính 22

1.2.4 Nhóm điều kiện về sự ổn định kinh tế vĩ mô 23

1.3 THỰC TẾ ĐÁP ỨNG CÁC ĐIỀU KIỆN DỂ ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 29

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐÁP ỨNG CÁC ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TRONG ĐIỀU H À N H CSTT CỦA NHNN VIỆT NAM 30

2.1 TÌNH HÌNH ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 2005 - 2016 30

2.1.1 Thực trạng điều hành CSTT: 30

2.1.2 Th ành tựu đạt được của CSTT 34

2.1.3 Những tồn tại cần khắc phục trong điều hành CSTT 36

2.2 THỰC TRẠNG CÁC ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM: ’ 38

2.2.1 Nhóm điều kiện về hiệu quả hoạt động của NHNN: 38

2.2.2 Nhóm điều kiện về khả năng thiết lập mục tiêu lạm phát 40

2.2.3 Nhóm điều kiện về sự lành mạnh của hệ thống tài chính 43

2.2.4 Nhóm điều kiện về sự ổn định kinh tế vĩ mô: 48

2.3 ĐÁNH GIÁ VIỆC ĐÁP ỨNG CÁC ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM .49

Trang 4

2.3.1 Những điều kiện đã đạt được 49

2.3.2 Những điều kiện cần tiếp tục hoàn thiện 53

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM CHUẨN BỊ CÁC ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM 60

3.1 ĐỊNH HƯỚNG THỰC HIỆN CSLPMT TRONG ĐIỀU HÀNH CSTT CỦA NHNN VIỆT NAM ' 60

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC DIỀU KIỆN ÁP DỤNG LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀO ĐIỀU HÀNH CSTT CỦA NHNN VIỆT NAM: ’ 61

3.2.1 Nhóm điều kiện về hiệu quả hoạt động của NHNN Việt Nam: 61

3.2.2 Nhóm điều kiện về khả năng thiết lập mục tiêu lạm phát 62

3.2.3 Nhóm điều kiện về mức độ lành mạnh của hệ thống tài chính 63

3.2.4 Nhóm điều kiện về ổn định kinh tế vĩ mô 65

3.3 KIẾN NGHỊ LÊN CHÍNH PHỦ VÀ QUỐC HỘI: 66

3.3.1 Kiến nghị lên Quốc hội: 66

3.3.2 Kiến nghị lên Chính phủ: 67

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 72

KẾT LUẬN 73

Trang 5

CSLPMT Chính sách lạm phát mục tiêu

CSTT Chính sách tiền tệ

ECB Ngân hàng Trung ương Châu Âu

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund)

^M2 Tổng phương tiện thanh toán

NHNN Ngân hàng Nhà nước

NHTW Ngân hàng Trung ương

NIM Tỷ lệ thu nhập lãi thuần

ROA Tỷ suất sinh lời trên tài sản

ROE Tỷ suất sinh lời trên vốn chú sở hữu

USD Đô la Mỹ

VND Việt Nam Đồng

4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Lạm phát và tốc độ tăng trưởng M2 tại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2016

(% năm) 35

Biểu đồ 2.2 Tỷ giá USD/VND giai đoạn 5/2007 đến 5/2017 36

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu vốn hóa thị trường trái phiếu tại Việt Nam (%GDP) 47

Biểu đồ 2.3 Lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2016 (% năm) 48

DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Động cơ áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu 13

Bảng 1.2 Tình trạng đáp ứng các điều kiện khi áp dụng lạm phát mục tiêu tại một số quốc gia 24

Bảng 1.3 Mức lạm phát trong 4 năm trước thời điểm áp dụng mục tiêu lạm phát tại một số quốc gia (CPI, % năm) 28

Bảng 2.1 Xu hướng điều hành CSTT của NHNN giai đoạn 2005 - 2016 30

Bảng 2.2 Tăng trưởng GDP của các nước Đông Nam Á từ 2005 - 2016 (% năm) 34

Bảng 2.3 Mục tiêu và thực tế tăng trưởng M2 giai đoạn 2005 - 2016 (%/năm) 37

Bảng 2.4 Mục tiêu phát triển kinh tế hàng năm quy định trong Nghị quyết Quốc hội từ 2011 - 2016 41

Bảng 2.2 Giá trị vốn tín dụng cung cấp bởi hệ thống ngân hàng (%GDP) 43

Bảng 2.4 Tỷ lệ tín dụng/huy động bình quân hệ thống ngân hàng một số quốc gia năm 2011 - 2016 (%) 44

Bảng 2.5 Tỷ lệ nợ xấu hệ thống ngân hàng từ 2012 - 2016 (% tổng dư nợ) 44

Bảng 2.6 Hệ số CAR bình quân hệ thống ngân hàng từ 2012 - 2016 45

Bảng 2.7 Vốn hóa thị trường cổ phiếu /GDP của một số quốc gia (% GDP năm) 46

Bảng 2.8 Giá trị giao dịch chứng khoán từ năm 2011 - 2016 (%GDP) 46

Bảng 2.9 Vốn hóa thị trường trái phiếu từ 2011 - 2016 (%GDP) 47

Bảng 2.10 Mức thâm hụt ngân sách và nợ công Việt Nam giai đoạn 2010 - 2016 49

Bảng 2.11 Đánh giá mức độ minh bạch của NHNN Việt Nam và ECB 50

Bảng 2.12 Chỉ số độc lập của NHTW các quốc gia so với NHNN Việt Nam 54

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:

Trong vòng 20 năm trở lại đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam thựchiện điều hành CSTT chủ yếu thông qua điều tiết tổng phương tiện thanh toán trongnền kinh tế (M2) Theo đó, một CSTT nới lỏng sẽ điều tiết tăng tổng phưong tiệnthanh toán nhằm thúc đẩy tăng trưởng, trong khi CSTT thắt chặt sẽ giảm tổng phưongtiện thanh toán nhằm kiềm chế lạm phát Các công cụ chính được NHNN sử dụngnhằm điều tiết M2 gồm có các nghiệp vụ thị trường mở, các biện pháp hành chính nhưhạn mức tín dụng, khung lãi suất trần và sàn, các mức lãi suất tái cấp vốn, tài chiếtkhấu và lãi suất cơ bản Với phương pháp điều hành CSTT này của NHNN, nền kinh

tế Việt Nam đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể từ năm 2000 đến nay GDP bìnhquân đầu người từ mức 239 USD vào năm 1985 đã tăng trưởng đạt 2111 USD vàonăm 2015, tương đương tốc độ tăng trưởng bình quân 7.5%/năm, đưa Việt Nam thoátkhỏi nhóm các nước thu nhập thấp của thế giới Tuy nhiên, từ năm 1995 tới nay, lạmphát của Việt Nam diễn biến khá bất ổn trước những biến động của kinh tế Nỗ lựckiểm soát lạm phát cùng với ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính châu Á 1997 đã đưalạm phát giảm từ 12.9% về mức thấp kỷ lục - 1.71% năm 2000 Trong một thời giandài sau đó, chính sách tiền tệ được điều hành theo hướng kích thích tăng trưởng kinh tế

đã đưa GDP tăng trưởng trở lại ở mức cao dần, cùng với đó là mức lạm phát dần tăngcao liên tục Năm 2008 lạm phát một lần nữa lên mức cao nguy hiểm là 23% Trongnhững năm tiếp theo từ 2008 - 2012, lạm phát tiếp tục có nhiều biến động tăng giảmbất ổn qua các năm cùng với tình hình phát triển bất ổn chung của nền kinh tế, vớimức đỉnh lần thứ hai là 18.7% năm 2011 Chỉ từ năm 2012 đến nay lạm phát mới bắtđầu được kiểm soát trong mức thấp Dù vậy, trước sự khởi sắc trở lại của nền kinh tếtrong vài năm gần đây, cùng với sự hồi phục của giá dầu thế giới trong những năm tới,việc kiểm soát lạm phát của NHNN chắc chắn sẽ gặp nhiều áp lực

Những diễn biến bất ổn của tình hình lạm phát trong thời gian qua tuy là hệ quảcủa các cú sốc kinh tế, nhưng cũng đến từ chính sự thiếu hiệu quả của chính sách tiền

tệ (CSTT) theo đuổi đa mục tiêu mang tính bị động, không thống nhất Ngoài ra, hiệntại NHNN đang sử dụng neo danh nghĩa cho CSTT là tổng phương tiện thanh toán(M2) Tuy vậy, với sự phát triển của thị trường tài chính và sự phức tạp hóa cơ cấu M2,

Trang 8

NHNN đã gặp khó khăn hơn trong việc kiểm soát M2, cùng đó sự tương quan không

rõ ràng giữa M2 và lạm phát cũng giảm hiệu quả của CSTT trong kiềm chế lạm phát

Trong khi đó, trong gần 20 năm trở lại đây, NHTW các nước trên thế giới đang

có xu hướng áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu (CSLPMT) thay thế cho các chínhsách tiền tệ đa mục tiêu đang được sử dụng tại Việt Nam Với CSLPMT, các NHTWđặt ‘ổn định giá cả’ làm nền tảng cơ bản, đưa ra cam kết về một con số lạm phát cụ thểlàm mục tiêu hàng đầu cho CSTT trong dài hạn Nghiên cứu khoa học quốc tế cùngvới kinh nghiệm nhiều nước áp dụng chính sách này cho thấy những thành công trongkiểm soát lạm phát của CSLPMT ở nhiều quốc gia, chứng minh đây là một hướng pháttriển đúng đắn để hoàn thiện hơn chính sách tiền tệ của Việt Nam Dự thảo Chiến lượcphát triển ngành Ngân hàng giai đoạn 2011 - 2020 cũng đã xác định để nâng cao hiệuquả hoạt động của NHNN, một hướng đi căn bản sẽ là từng bước tạo điều kiện và đưavào áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu

Tuy nhiên việc áp dụng CSLPMT sẽ không hề đơn giản, do để CSLPMT có thểđược sử dụng hiệu quả, một loạt các điều kiện tiên quyết cần phải được đáp ứng, baogồm các điều kiện về khả năng độc lập và minh bạch điều hành CSTT của NHTW, khảnăng dự báo kinh tế vĩ mô của NHTW, sự ổn kinh tế vĩ mô của quốc gia và mức độphát triển của thị trường tài chính Các điều kiện này nếu không được chuẩn bị mộtcách kĩ lưỡng sẽ khiến CSTT thiếu hiệu quả và cam kết của NHTW bị phá vỡ, ảnhhưởng không nhỏ đến uy tín của NHTW và tâm lý thị trường Ngoài ra, đặc điểm vàmức độ phát triển kinh tế và thể chế của mỗi quốc gia là hoàn toàn khác biệt, yêu cầuphải có lộ trình chuẩn bị các điều kiện và kế hoạch lựa chọn thời điểm áp dụngCSLPMT riêng biệt cho mỗi quốc gia Vì lý do này, cần có nghiên cứu về các điềukiện cần thiết để áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu, đồng thời đánh giá thực trạngViệt Nam để xác định các tồn tại cần khắc phục trước khi áp dụng chính sách Nhằmđáp ứng nhu cầu này, sinh viên đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Điều kiện áp dụngchính sách lạm phát mục tiêu trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng NhàNước Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”

2 Tổng quan nghiên cứu

Trên thế giới, các nghiên cứu về CSLPMT đã xuất hiện từ khá sớm sau khichính sách được áp dụng tại các quốc gia Trong các nghiên cứu về điều kiện áp dụng

Trang 9

CSLPMT trong điều hành CSTT của tác giả nước ngoài, có thể kể đến một số cácnghiên cứu tiêu biểu sau:

+ Mishkin (2004) đã đưa ra các điều kiện dựa vào phân tích các khó khăn mà các quốcgia đang phát triển gặp phải trong quá trình áp dụng CSLPMT là: (i) thể chế tài khóayếu kém; (ii) các định chế tài chính yếu kém; (iii) thể chế tiền tệ không đạt được độ tincậy cần thiết; (iv) tình trạng Đô la hóa; và (v) mức độ tổn thương của các nước trước

sự suy giảm đột ngột của dòng vốn vào Các quốc gia phát triển cần khắc phục các khókhăn này trước khi có thể áp dụng CSLPMT

+ Freedman và Otker-Robe (2009) đã chỉ ra ba điều kiện cốt lõi cho CSLPMT là: mụctiêu lạm phát là mục tiêu ưu tiên của CSTT, không có hiện tượng thống trị tài khóa, vàNHTW độc lập trong sử dụng các công cụ CSTT Ngoài ra còn có các điều kiện bổsung khác cần thiết lập sau khi áp dụng CSLPMT như: xây dựng mô hình dự báo lạmphát, xây dựng hệ thống báo cáo về lạm phát, củng cố hệ thống tài chính ổn định vàphát triển

+ Carare (2002) đã đưa ra bốn nhóm điều kiện cho việc áp dụng CSLPMT gồm có:NHTW có đủ tính độc lập để theo đuổi mục tiêu lạm phát, mục tiêu lạm phát là mụctiêu ưu tiên của CSTT, kinh tế vĩ mô ổn định và thị trường tài chính phát triển, hiệuquả điều hành CSTT của NHTW cao

Trong nước trong thời gian vừa qua cũng đã có một số nghiên cứu về điều kiện

áp dụng CSLPMT đối với NHNN Việt Nam Trong đó, công trình công phu tiêu biểunhất phải kể đến:

+ Tô Ánh Dương và cộng sự (2012) đã đưa ra những nghiên cứu định tính ban đầu vềkhả năng áp dụng khuôn khổ CSLPMT tại Việt Nam Nghiên cứu đã tổng quan kháiquát về kinh nghiệm áp dụng CSLPMT trên quốc tế, và từ đó đánh giá về khả năng ápdụng tại Việt Nam Trong đó, tác giả đã đưa ra quan điểm về các điều kiện áp dụngCSLPMT gồm có: tính độc lập, minh bạch và trách nhiệm của NHTW; mục tiêu và chỉtiêu của chính sách tiền tệ phù hợp; các tổ chức tài chính và thị trường tiền tệ phát triển.Tác giả đã nhận định rằng tuy các điều kiện chưa được đáp ứng đủ, song Việt Nam đã

có thể áp dụng khuôn khổ CSLPMT ngầm định ngay từ năm 2012 với mục tiêu lạmphát trong 5 năm đầu tiên là 6%, biên độ 2% Cùng đó, tác giả cũng đã đưa ra những

đề xuất về giải pháp hoàn thiện các điều kiện chuẩn bị cho việc áp dụng CSLPMT tại

Trang 10

Việt Nam gồm có: tăng tính độc lập của NHNN Việt Nam thông qua việc thành lậpmột Hội đồng Chính sách tiền tệ có quyền quyết định việc điều hành CSTT; xây dựng

cơ chế điều hành CSTT thông qua một hành lang lãi suất trần và sàn nhằm kiểm soátlạm phát; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa CSTT với chính sách tài khóa và chínhsách tỷ giá, hướng tới một chế độ tỷ giá linh hoạt hơn; nâng cao tính minh bạch vàtrách nhiệm giải trình của NHNN; xây dựng nền tảng kỹ thuật để dự báo lạm phát.+ Nguyễn Thị Hiền (2015) đã nghiên cứu sâu hơn về điều kiện áp dụng CSLPMTtrong điều hành CSTT tại Việt Nam Nghiên cứu đã nêu ra 18 điều kiện chia thành 4nhóm điều kiện gồm: mức độ độc lập về thể chế của NHTW, năng lực của NHTW, hệthống thị trường tài chính lành mạnh, cấu trúc kinh tế phù hợp Những đánh giá củanghiên cứu mang tính định lượng cao, dựa vào nhiều chỉ tiêu định lượng và số liệu đểđánh giá, do đó đã mang tính khách quan hơn các nghiên cứu trước đây Tác giả đã kếtluận rằng mức độ đáp ứng các điều kiện của Việt Nam chưa cao, mới chỉ đáp ứngđược 5 trong 18 điều kiện gồm : mức độ độc lập trong điều hành, quy trình dự báo có

hệ thống, dự báo theo kịch bản, mức độ đô la hóa thấp, nợ công an toàn Nghiên cứusau đó đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện các điều kiện, với định hướng lấy hệ thốngngân hàng làm nòng cốt hệ thống tài chính quốc gia, dần chuyển hướng điều hànhCSTT theo lãi suất, xây dựng mô hình đánh giá cơ chế truyền tài CSTT và xác định độtrễ chính sách, xây dựng cơ chế kiểm soát dòng tiền trong nền kinh tế

3 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu

Bài khóa luận sẽ trả lời các câu hỏi:

Thứ nhất: Tìm hiểu khái quát về chính sách lạm phát mục tiêu Các điều kiện làm cơ

sở cho việc áp dụng hiệu quả chính sách lạm phát mục tiêu?

Thứ hai: Những thành tựu và hạn chế của điều hành CSTT ở Việt Nam trong thời gianqua Thực tế đáp ứng các điều kiện thực thi CSLPMT tại Việt Nam điều kiện nào cầnhoàn thiện?

Thứ ba: Giải pháp chuẩn bị đầy đủ các điều kiện để thực hiện chính sách lạm phát mụctiêu ở Việt Nam? Những kiến nghị nhắm thiết lập đầy đủ các điều kiện còn thiếu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận sẽ tập trung vào những điều kiện thực hiệnCSLPMT trong điều hành CSTT của NHNN Thông qua phân tích thực trạng điều

Trang 11

hành CSTT và điều kiện kinh tế thị trường tại Việt Nam, khóa luận sẽ đánh giá cácđiều kiện đã đạt được, các điều kiện còn thiếu và đưa ra giải pháp.

Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào thực trạng tại NHNN Việt Nam và điềukiện kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2016

5 Phương pháp nghiên cứu:

Khóa luận sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích lý thuyết, phương phápchuyên gia để đánh giá điều kiện tại một số nước trên thế giới và tại Việt Nam,phương pháp thống kê và diễn dịch, phương pháp quy nạp

6 Ket cấu khóa luận

Chương 1 Cơ sở lý luận về điều kiện áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu

Chương 2 Thực trạng các điều kiện áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu trong điềuhành CSTT của NHNN Việt Nam

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện các điều kiện áp dụng chính sách lạm phát mục tiêutrong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH

LẠM PHÁT MỤC TIÊU 1.1 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TRONG ĐIỀU HÀNH CSTT CỦA NHTW

1.1.1 Khái niệm:

Chính sách lạm phát mục tiêu đã bắt đầu được nhiều nước trên thế giới đưa vào

áp dụng từ những năm 90 của thế kỉ trước, bắt đầu từ New Zealand vào năm 1990, sau

đó là Canada, Anh, Thụy Điển, Phần Lan, v.v Năm 2017 có đến 31 quốc gia áp dụngCSLPMT, và 64 quốc gia thực hiện công bố mục tiêu lạm phát trong điều hành CSTTtrong đó bao gồm Việt Nam Tuy mỗi quốc gia khi áp dụng sẽ xây dựng những quy tắc,

sử dụng các công cụ cụ thể khác nhau, nhưng về cơ bản có một số yếu tố nhất định.Dưới đây là một số các khái niệm về chính sách lạm phát mục tiêu khá phổ biến:

Svensson [1] đã đưa ra quan niệm về chính sách lạm phát mục tiêu sau :

- Mục tiêu lạm phát được sử dụng là một chỉ tiêu giá cụ thể, đặt ra dưới dạng một giátrị hoặc khoảng giá trị cụ thể Đạt được mức lạm phát mục tiêu là mục tiêu cao nhấtcủa chính sách tiền tệ

- Dự báo lạm phát của NHTW sẽ mang tính quyết định đối với chính sách tiền tệ, tuynhiên các dự báo về chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng cũngảnh hưởng tới việc ra chính sách

- NHTW hoạt động minh bạch và chịu trách nhiệm về việc đạt mức lạm phát mục tiêu.Việc này đi liền với tính độc lập của NHTW ít nhất trong việc lựa chọn công cụ thựchiện chính sách và xác định mục tiêu lạm phát

Bernanke và cộng sự cho rằng chính sách lạm phát mục tiêu là “công bố các giátrị hoặc khoảng giá trị mục tiêu lạm phát trong một hoặc một số khoảng thời gian nhấtđịnhvà công nhận rằng kiểm soát lạm phát ở mức thấp và ổn định là mục tiêu dài hạnchính của chính sách tiền tệ Các đặc điểm quan trọng khác gồm có: công bố các kếhoạch và mục tiêu của NHTWvà các cơ chế làm tăng trách nhiệm của NHTW đối vớiviệc đạt được mục tiêu lạm phát.” [2] Có thể thấy Bernanke không định nghĩa chi tiết

về việc dự báo lạm phát, do Bernanke cho rằng chính sách lạm phát mục tiêu không

Trang 13

nên là một quy luật cứng nhắc mọi quốc gia phải tuân theo, mà chỉ nên là một nền tảng,chiến lược để các NHTW tự xây dựng chính sách cụ thể.

NHTW Châu Âu ECB định nghĩa chính sách lạm phát mục tiêu là “một chínhsách tiền tệ thực hiện ổn định giá cả thông qua điều tiết chênh lệch giữa các dự báolạm phát và mục tiêu lạm phát đã công bố.” [3] Như vậy, ECB cũng cho rằng dự báolạm phát của NHTW mang yếu tố quyết định đối với việc ra chính sách Các công cụ

sẽ được sử dụng để phản ứng trước các chênh lệch giữa dự báo lạm phát và mục tiêulạm phát đã công bố

Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF cho rằng “chính sách tiền tệ mục tiêu là một thôngbáo ra công chúng về một mục tiêu lạm phát trong trung hạn lạm phát, đồng thời làmột cam kết của cơ quan điều hành CSTT về việc đạt mục tiêu này Các yếu tốt khácbao gồm công bố thông tin về các kế hoạch và mục tiêu của nhà hoạch định chính sáchtiền tệ, cũng như trách nhiệm giải trình của Ngân hàng Trung ương về việc theo đuổicác chỉ tiêu lạm phát của mình Các quyết định về chính sách tiền tệ sẽ dựa trên độlệch dự báo lạm phát (một cách hoàn toàn hay rõ ràng) đóng vai trò là chỉ tiêu trunggian của chính sách tiền tệ”

Tổng kết từ các khái niệm trên, tác giả khóa luận đưa ra khái nhiệm sau : Chính

sách lạm phát mục tiêu là chính sách tiền tệ sử dụng một mức lạm phát mục tiêu cụ thể được công bố minh bạch với công chúng làm định hướng, theo đó NHTW sẽ sử dụng các công cụ nhằm đưa mức lạm phát dự báo về mức mục tiêu đề ra trong dài hạn, hướng tới mục tiêu hàng đầu là ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát.

1.1.2 Sự cần thiết áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu trong điều hành CSTT của NHTW

Trước những năm 90, chính sách tiền tệ vẫn được các quốc gia sử dụng theo haihướng hoạt động chính: dựa vào một mức tỉ giá cố định, hoặc dựa vào mục tiêu cungtiền tệ Tuy nhiên, những chính sách tiền tệ này tới những năm 80 đã bắt đầu thể hiệnnhiều hạn chế và kém hiệu quả trong việc kiểm soát lạm phát

1.1.2.1 Chính sách tiền tệ dựa vào tỉ giá cố định

Với chính sách tiền tệ dựa vào tỉ giá cố định, các quốc gia thường thực hiện neogiá trị đồng tiền với một ngoại tệ của một nước lớn và lạm phát thấp, hoặc với một loạihàng hóa, ví dụ như vàng Chính sách này có những ưu điểm nhất định :

Trang 14

động kém hiệu quả

minh Tiền tệ châu Âu

cho dự báo lạm phát và làm mục tiêu chính sách tiền tệ

có xu hướng mất giá, chính sách tiền tệ mở rộng được thực thi

Tuy vậy, chính sách này cũng có nhiều nhược điểm quan trọng

(i) Mất tự chủ về chính sách tiền tệ, dẫn tới giảm khả năng đối phó với những

cú sốc kinh tế

(ii) Đồng tiền sẽ rất dễ bị tấn công bởi các nhà đầu cơ tiền tệ và nếu giá trị đồngtiền không được bảo vệ sẽ dẫn đến mất giá trầm trọng và kéo theo áp lực lạm phát phimã

(iii) Cố định tỉ giá sẽ làm mất đi một chỉ tiêu giúp quan sát được xu hướngchính sách tiền tệ của NHTW Thông thường, sự mất giá của nội tệ là một cảnh báo vềmột chính sách tiền tệ nới rộng quá mức và ngược lại Trong chế độ tỉ giá cố định,cảnh báo này không còn và do đó rất dễ xảy ra việc nới rộng hoặc thắt chặt quá mứctiền tệ

Một ví dụ điển hình cho thất bại của chính sách tiền tệ này là khủng hoảng tàichính - tiền tệ châu Á năm 1997 bắt nguồn từ Thái Lan Trong một thời gian dài TháiLan thực hiện nới lỏng tiền tệ, giúp nền kinh tế phát triển với tốc độ cao, đồng thời chế

độ tỉ giá cố định giúp thu hút lượng vốn nước ngoài khổng lồ Tuy nhiên, đến năm

1997 những nhược điểm của chính sách này đã lộ rõ và đồng Bạt trở thành mục tiêuđầu cơ, cùng với khủng hoảng tài chính khi bong bóng kinh tế vỡ

Bảng 1.1 Động cơ áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu

Trang 15

Nguồn: TS Tô Thị Ánh Dương (2012)

1.1.2.2 Chính sách tiền tệ dựa vào mục tiêu cung tiền

Ở các quốc gia khác thời gian này, chính sách tiền tệ với mục tiêu là mức cungtiền được sử dụng Các quốc gia thường quyết định chính sách tiền tệ dựa vào mứccung tiền M2 hoặc M3 và thông qua việc điều chỉnh tăng giảm mức cung tiền sẽ kiểmsoát lạm phát Chính sách này có ưu điểm :

(i) Cho phép NHTW tự chủ đối phó với các áp lực trong nước

(ii) Mức cung tiền là một chỉ tiêu khá dễ hiểu đối với công chúng, cho phéptruyền đạt mục tiêu chính sách tiền tệ dễ dàng và việc đánh giá chính sách có đạt đượcmục tiêu không cũng có thể dễ nhận biết thông qua các báo cáo công bố về mức cungtiền

(iii) Mức cung tiền là một chỉ tiêu hiệu quả giúp quyết định chính sách tiền tệnên nới lỏng hay thắt chặt, nhờ đó kiểm soát lạm phát

Tuy vậy, hiệu quả hoạt động của chính sách hoàn toàn phụ thuộc vào hai điềukiện quan trọng

(i) Có mối quan hệ chặt chẽ giữa lạm phát và sản lượng kinh tế với mức cungtiền Nếu mối quan hệ này suy yếu, việc điều chỉnh mức cung tiền sẽ không còn tácdụng kiểm soát lạm phát

(ii) NHTW cần có khả năng kiểm soát tốt cung tiền trong nền kinh tế Vào đầunhững năm 1980, với sự phát triển của thị trường tài chính và tự do hóa thị trường,việc kiểm soát mức cung tiền trở nên ngày càng khó khăn với NHTW, khi các loại sản

Trang 16

phẩm tài chính và dịch vụ tài chính ra đời với mức độ phức tạp cao Tại Canada,những năm 1980 mức lạm phát vẫn ở mức cao cho dù NHTW đã đạt được mục tiêu vềtiền tệ với mức tăng cung tiền thấp, cho thấy chính sách tiền tệ hiện thời đang kémhiệu quả Cuối cùng, Canada đã từ bỏ chính sách tiền tệ mục tiêu cung tiền, cùng vớinhiều quốc gia khác trong thời gian này như Mỹ và Anh.

Bảng 1.1 thống kê cho thấy có đến 8 trong 13 quốc gia áp dụng CSLPMT do áplực tỷ giá, và 7 trong 13 quốc gia nhằm thiết lập một mục tiêu CSTT hiệu quả hơn

1.1.3 Ưu nhược điểm của chính sách lạm phát mục tiêu

1.1.3.1 Ưu điểm

Thứ nhất, chính sách lạm phát mục tiêu trong dài hạn sẽ thức đẩy tăng trưởngđồng thời ổn định nền kinh tế Trong giai đoạn ban đầu mới áp dụng CSLPMT, sảnlượng thường sẽ tăng trưởng chậm lại do các nỗ lực ưu tiên kiểm soát lạm phát Tuynhiên, trong dài hạn sự ổn định giá cả và kỳ vọng lạm phát của công chúng thấp sẽ tạođiều kiện thuận lợi về kinh tế vĩ mô cho tăng trưởng sản lượng

Thứ hai, CSLPMT cho phép NHTW kiểm soát mức kỳ vọng lạm phát của thịtrường ở mức thấp và ổn định Có thể nói CSLPMT là cơ chế chính sách đầu tiên thấyđược tầm quan trọng của kỳ vọng của thị trường về lạm phát Khi kỳ vọng của thịtrường về lạm phát trong tương lai cao, mức lương danh nghĩa sẽ tăng lên, khiến cácdoanh nghiệp thuê ít lao động hơn, dẫn đến sản lượng giảm và tỉ lệ thất nghiệp tăngcao, đồng thời giá cả các loại hàng hóa trên thị trường cũng sẽ được điều chỉnh tăngcao để bù lại Lạm phát mục tiêu là một thông báo ra công chúng về mức lạm pháttrong tương lai trung đến dài hạn mà NHTW cam kết sẽ đạt được Sự cam kết này tạo

ra một niềm tin trên thị trường về lạm phát trong tương lai, đồng thời cũng cho phépthị trường đoán biết được xu hướng CSTT trong tương lai và không còn tâm lý hoangmang Việc lựa chọn mức lạm phát làm mục tiêu chính sách cũng đảm bảo được rằngNHTW sử dụng một chỉ tiêu đơn giản, dễ hiểu đối với công chúng, thuận lợi cho việctuyên truyền, công bố những mục tiêu, quyết định chính sách

Thứ ba, chính sách lạm phát mục tiêu vẫn có được sự linh hoạt cần thiết đểNHTW đảm bảo các mục tiêu khác như tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm.Mục tiêu lạm phát được đặt ra để theo đuổi trong dài hạn, đồng nghĩa với việc chophép NHTW đặt mục tiêu lạm phát ngắn và trung hạn cao hơn mức mục tiêu dài hạn,

Trang 17

qua đó dần điều chỉnh lạm phát về mức mục tiêu dài hạn trong khi cùng theo đuổi cácmục tiêu khác, tránh gây biến động lớn tới tăng trưởng kinh tế và tỉ lệ thất nghiệp.Ngoài ra, chỉ tiêu CPI dùng cho mục tiêu lạm phát cũng thường loại trừ yếu tố giá cácmặt hàng dễ biến động trước các cú sốc kinh tế như lương thực, rau quả, giá xăng dầu,lãi suất, từ đó cho phép giá cả các mặt hàng này được điều chỉnh tùy theo điều kiệnkinh tế từng thời kỳ mà không bị gò bó bởi mục tiêu lạm phát đặt ra Nhiều quốc gia,

ví dụ như New Zealand, có các quy định miễn trách nhiệm cho NHTW trong trườnghợp các cú sốc kinh tế buộc NHTW phải theo đuổi các mục tiêu ổn định khác thay vìkiềm soát lạm phát hoặc điều chỉnh mức lạm phát mục tiêu trong ngắn hạn tăng lên dotác động của ‘lạm phát không thể tránh khỏi’ gây ra bởi các biến động

Thứ tư, CSLPMT nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của NHTW NHTWđược yêu cầu phải có kết nối chặt chẽ với chính phủ và công chúng, thường xuyên báocáo, thông báo về các kế hoạch, quyết định chính sách và kết quả hoạt độngvà đặc biệt

là phát hành các báo cáo về tình hình lạm phát ra công chúng, qua đó giải thích cácquyết định chính sách trong hiện tại và tương lai Hơn nữa, một mức mục tiêu lạm phátdưới dạng giá trị cụ thể và trực tiếp sẽ cho phép công chúng dễ dàng đánh giá hiệu quảhoạt động của NHTW, đánh giá xu hướng lạm phát của nền kinh tế Sự minh bạch nàykhông chỉ tạo niềm tin vào chính sách, mà còn là phương pháp giám sát hữu hiệu cáchoạt động của người hoạch định chính sách Nếu lạm phát không đạt mục tiêu đề ra,thông thường chính phủ sẽ yêu cầu Thống đốc NHTW trả lời chất vấn, giải thích lý do.Tại New Zealand, chính phủ có quyền bãi nhiệm Thống đốc nếu không đạt mục tiêu

đề ra Sự thiếu minh bạch và trách nhiệm là một lý do chính khiến chính sách tiền tệmục tiêu mức cung tiền tại Mỹ, Anh và Canada đã thất bại trong những năm 80 vàchính sách mới này là câu trả lời cho những vấn đề đó

1.1.3.2 Nhược điểm

Thứ nhất, NHTW sẽ không dễ dàng dự báo và điều chỉnh được lạm phát để đạtmục tiêu Dự báo lạm phát có thể sẽ thiếu chính xác, làm giảm hiệu quả của việc lựachọn công cụ chính sách Việc này có thể gây ảnh hưởng xấu đến vấn đề trách nhiệmcủa NHTW, do khó quyết định được NHTW không đạt được mục tiêu là do hoạt độngchưa tốt hay do các yếu tố ngoại lai làm dự báo lạm phát thiếu chính xác Vấn đề nàyđặt ra thách thức đối với NHTW cần phải xây dựng được một mô hình dự báo lạm

Trang 18

phát đáng tin cậy, bắt nguồn từ một hệ thống cơ sở dữ liệu về nền kinh tế đầy đủ,chính xác, được cập nhật thường xuyênvà có đủ dữ liệu cho một khoảng thời gian dài.Tại phần lớn các quốc gia, nhược điểm này được hạn chế bằng cách áp dụng từngbước cơ chế lạm phát mục tiêu Trong thời gian đầu, NHTW chưa sử dụng ngay mộtmức mục tiêu cụ thể mà chỉ công bố các dự báo lạm phát, đồng thời thực hiện cáccông tác làm tăng tính minh bạch, trách nhiệm, xây dựng hệ thống thông tin và nghiêncứu các mô hình dự báo Sau một thời gian, NHTW đã có kinh nghiệm hơn trong việc

dự báo và xây dựng các mô hình về lạm phát, một mức mục tiêu lạm phát cụ thể sẽđược công bốvà chính sách lạm phát mục tiêu được chính thức áp dụng

Thứ hai, có độ trễ nhất định trong các chính sách, do đó các tín hiệu về tác độngcủa chính sách tiền tệ sẽ không thể thấy ngay lập tức Việc các tác động của chính sáchtiền tệ xuất hiện chậm sẽ gây khó khăn cho NHTW trong điều chỉnh chính sách, đồngthời cản trở việc đánh giá hiệu quả điều hành chính sách của NHTW Tuy vậy, nếuxem xét tới hai chính sách còn lại, có thể thấy mục tiêu lạm phát vẫn là phương ánvượt trội: CSTT theo hướng tỉ giá cố định sẽ không có ý nghĩa báo hiệu xu hướngchính sách do thị trường không có khả năng biến động, trong khi CSTT với mục tiêu làmức cung tiền không đảm bảo có mối quan hệ chặt chẽ giữa mức cung tiền với lạmphát, do đó ý nghĩa báo hiệu của mức cung tiền cũng hết sức hạn chế

Thứ ba, CSLPMT yêu cầu NHTW phải hạn chế can thiệp vào tỷ giá, thậm chíphải thả nổi tỷ giá hoàn toàn nhằm đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát được ưu tiênhàng đầu Yêu cầu này đặc biệt gây khó khăn cho các quốc gia đang phát triển, do đây

là các quốc gia thường có tỉ lệ đô la hóa cao, với tỉ lệ nợ ngoại tệ của chính phủ và của

hệ thống tài chính thường khá cao, dẫn tới dễ bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi tỷ giábiến động

1.2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về những điều kiện cần thiết đối với cácnước đang phát triển để áp dụng chính sách lạm phát tiền tệ, tuy các ý kiến vẫn không

có sự đồng nhất hoàn toàn với nhau

Dưới đây là những điều kiện được đề xuất bởi Carare (2002) [8] Các điều kiệnđược chia làm bốn nhóm:

Trang 19

i) Điều kiện đầu tiên là việc NHTW có quyền và trách nhiệm theo đuổi mục tiêu lạm phát:

- NHTW có đủ sự độc lập để lựa chọn công cụ tiền tệ và được quyền theo đuổi mụctiêu lạm phát

- Khuôn khổ và việc thực hiện chính sách cần được công bố với công chúng

ii) Nhóm điều kiện thứ hai nhằm đảm bảo mục tiêu lạm phát là mục tiêu hàng đầu trong dài hạn và không bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu khác:

- Chính sách tiền tệ không được bị ảnh hưởng bởi chính sách tài khóa; tài trợ từNHTW cho các hoạt động của chính phủ phải bị giới hạn triệt để

- Tỷ giá và thương mại quốc tế cần phải có sự ổn định để không làm ảnh hưởng đếnmục tiêu lạm phát

- Cần có thời kỳ chuyển tiếp để đưa lạm phát về mức tương đối thấp trước khi áp dụnglạm phát mục tiêu toàn phần

iii) Nhóm điều kiện thứ ba là về mức độ phát triển và ổn định của thị trường tài chính nhằm tạo môi trường thích hợp để áp dụng chính sách:

- Thị trường tài chính cần đủ ổn định để có thể theo đuổi mục tiêu lạm phát mà không

bị ảnh hưởng bởi mục tiêu ổn định thị trường

- Thị trường tài chính cần đủ phát triển để các công cụ tiền tệ có thể hoạt động hiệuquả, tránh để các điểm yếu của thị trường gây khó khăn cho chính sách

iv) Nhóm điều kiện cuối cùng là về hiệu quả sử dụng các công cụ chính sách của NHTW để đạt mục tiêu lạm phát:

- NHTW cần có đủ khả năng sử dụng công cụ chính sách để tác động đến lạm phát,đồng thời hiểu rõ mối quan hệ giữa vị thế chính sách và lạm phát

- Mục tiêu về tỷ giá không được xung đột với mục tiêu lạm phát Do đó NHTW nêncông bố rõ ràng rằng việc can thiệp trên thị trường ngoại hối và thay đổi lãi suất để tácđộng đến tỷ giá chỉ có mục đích giảm nhẹ ảnh hưởng của các cú sốc trong ngắn hạn

- Chính sách tài khóa và quản lý nợ công cần theo hướng có lợi cho mục tiêu lạm phát

Andrea Schaechter, Mark R.Stonevà Mark Zelmer (2000) [9] đã kết luận rằngcác điều kiện cần có để có thể chính thức áp dụng mục tiêu lạm phát gồm có:

- Tình hình tài chính và kinh tế vĩ mô ổn định

- Hệ thống tài chính phát triển

Trang 20

- NHTW độc lập và theo đuổi mục tiêu chính là kiểm soát lạm phát

- Hiểu và sử dụng hiệu quả các kênh dẫn truyền chính sách tiền tệ

- Có khả năng xây dựng mô hình dự báo lạm phát đáng tin cậy

- Hoạt động của NHTW có tính minh bạch và trách nhiệm cao

Tác giả Charles Freedman và Inci Otker-Robe (2009) [10] lại cho rằng có bađiều kiện cơ bản để áp dụng chính sách lạm phát tiền tệ gồm có:

- Mục tiêu kiểm soát lạm phát là mục tiêu tiền tệ hàng đầu

- Không có tình trạng thống trị tài chính

- NHTW độc lập về công cụ điều hành

Trong một nghiên cứu khác, tác giả Gomez, Uribe và Vargas (2002) [11] đãcho rằng các điều kiện sau cần được thỏa mãn: NHTW độc lập, chế độ tỷ giá thả nổi,hoạt động của NHTW mang tính trách nhiệm caovà cơ chế báo cáo công bố thông tinthường xuyên về các quyết định chính sách

Nghiên cứu của tiến sĩ Tô Thị Ánh Dương (2012) [4] đã tổng kết lại ba điềukiện cần thiết để áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam gồm có: tính độclập, minh bạch và trách nhiệm của NHTW; mục tiêu và chỉ tiêu của chính sách tiền tệphù hợp; các tổ chức tài chính và thị trường tiền tệ phát triển

Một điểm đáng chú ý mà phần lớn các tác giả này đều đồng tình, đó là các điềukiện trên có thể dần hoàn thiện trong quá trình áp dụng chính sách, có nghĩa là khôngbắt buộc phải đáp ứng đầy đủ tất cả tại thời điểm bắt đầu áp dụng chính sách lạm phátmục tiêu

Từ các nghiên cứu trên, cùng với các quan sát thực tế các quốc gia và ý kiếnchủ quan của tác giả bài khóa luận, có thể tổng kết lại có 4 nhóm điều kiện cần đápứng để áp dụng thành công chính sách lạm phát mục tiêu như sau:

i) Nhóm điều kiện về hiệu quả hoạt động của NHTW:

- NHTW có tính độc lập tương đối

- Hoạt động của NHTW minh bạch với công chúng, NHTW có trách nhiệm giải trìnhcao

ii) Nhóm điều kiện về khả năng thiết lập một mục tiêu lạm phát có ý nghĩa:

- Mục tiêu kiểm soát lạm phát là mục tiêu tiền tệ cuối cùng trong dài hạn

Trang 21

- NHTW có đủ khả năng và điều kiện để dự báo lạm phát cụ thể và tương đối chínhxác

iii) Nhóm điều kiện về mức độ lành mạnh và phát triển của hệ thống tài chính:

- Hệ thống ngân hàng hoạt động hiệu quả, an toàn

- Thị trường tài chính phát triển, hoạt động lành mạnh

iv) Nhóm điều kiện về sự ổn định kinh tế vĩ mô:

- Cán cân ngân sách và mức độ nợ công hợp lý, ít rủi ro

- Lạm phát ổn định ở mức không quá cao

Xem xét cụ thể các điều kiện trên có thể phân tích thêm như sau:

1.2.1 Nhóm điều kiện về hiệu quả hoạt động của NHTW:

1.2.1.1 Tính độc lập của NHTW:

Tính độc lập của NHTW là một điều kiện quan trọng của chính sách mục tiêu

lạm phát Việc NHTW được độc lập quyết định lựa chọn chính sách tiền tệ sẽ củng cố

và đảm bảo rằng ổn định giá cả được đặt lên hàng đầu, không bị ảnh hưởng bởi các áplực từ vấn đề chính trị và nhu cầu về chính sách tài khóa của chính phủ Trên thế giới

đã có rất nhiều nghiên cứu về cách đánh giá tính độc lập của NHTW Nghiên cứu củaHasse (1990) [12] đã nêu ra ba vấn đề NHTW cần độc lập với chính phủ như sau:

(1) Độc lập về nhân sự: mức độ phụ thuộc của NHTW vào chính phủ trong vấn

tiền tệ của NHTW mà không cần có sự phê duyệt của Chính phủ

Tuy việc lựa chọn các tiêu chí đánh giá sự độc lập hiện nay rất phong phú,nhưng hệ thống tiêu chí trên hiện nay được sử dụng rộng rãi là các tiêu chí cơ bản, cóthể được chia nhỏ thêm hoặc bổ sung thêm tùy theo quan điểm sử dụng Đây cũng là

ba tiêu chí được ECB sử dụng để đánh giá các quốc gia thành viên trong các báo cáothường niên Để đánh giá từng mức độ độc lập trên, Grilli và cộng sự (1991) [13] đã

đề xuất một hệ thống chỉ số với các tiêu chí đánh giá như sau

- Độc lập về tài chính:

(1) Chính phủ không thể đương nhiên vay trực tiếp từ NHTW;

Trang 22

(2) Nếu được vay trực tiếp từ NHTW Chính phủ phải trả mức lãi suất thị trường;

(3) Nguồn tín dụng này là tạm thời;

(4) Khối lượng tín dụng vay có giới hạn;

(5) NHTW không tham gia vào thị trường sơ cấp của trái phiếu Chính phủ;(6) NHTW có trách nhiệm ấn định lãi suất chính sách;

(7) NHTW không có quyền hoặc phải chia sẻ quyền giám sát khu vực ngânhàng với cơ quan khác, điều kiện này nhằm tách bạch chức năng ổn định tiền tệ và ổnđịnh hệ thống ngân hàng

(4) Ban giám đốc được bổ nhiệm với nhiệm kì trên 5 năm;

(5) Không bắt buộc có sự tham gia của đại diện Chính phủ trong ban giám đốc;

(6) Điều hành chính sách tiền tệ không phải thông qua Chính phủ;

(7) Một trong những mục tiêu chính của NHTW là đảm bảo ổn định tiền tệđược quy định trong Luật;

(8) Có các điều luật bảo vệ NHTW khi có đối lập với Chính phủ

- Độc lập về chính sách:

(1) NHTW được tự quyết định mục tiêu của CSTT

(2) NHTW được tự quyết định sử dụng các công cụ điều hành chính sách

1.1.2.2 Tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của NHTW

Gắn liền với sự độc lập của NHTW là tính minh bạch và trách nhiệm giải

trình của NHTW, do sự độc lập cần phải đi liền với sự theo dõi đánh giá và trách

nhiệm Thực tế, NHTW của các quốc gia áp dụng chính sách lạm phát mục tiêuthường tăng cường tính minh bạch thông qua việc công bố rộng rãi và rõ ràng về cơchế hoạt động của chính sách lạm phát mục tiêu, về mức mục tiêu được lựa chọn, đồngthời định kỳ công bố các mục tiêu, kế hoạch chính sách, các dự báo về tình hình nềnkinh tếvà báo cáo giải trình kết quả thực hiện mục tiêu lạm phát đã đề ra trước Quốc

Trang 23

tế hay do nội bộ NHTW gặp sai sót Trong trường hợp mức lạm phát thực tế vượt rangoài mức mục tiêu đã đề ra, NHTW thường sẽ phải thực hiện báo cáo và giải trìnhnguyên nhân trước Quốc hội và thông báo với công chúng, đồng thời đưa ra kế hoạchkhắc phục đưa lạm phát về mức mục tiêu.

1.2.2 Nhóm điều kiện về khả năng thiết lập một mục tiêu lạm phát có ý nghĩa 1.2.2.1 Mục tiêu kiểm soát lạm phát là mục tiêu ưu tiên :

Với CSLPMT, cơ chế hoạt động căn bản là việc theo đuổi trong dài hạn mộtmục tiêu lạm phát cụ thể đã công bố Để đảm bảo nội dung căn bản này được thực hiện

một cách hiệu quả, mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả cần được đặt là

mục tiêu dài hạn chính của chính sách tiền tệ Các mục tiêu khác chỉ được theo đuổi

trong phạm vi không làm ảnh hưởng tới việc đạt mục tiêu lạm phát dài hạn

1.2.2.2 Khả năng dự báo lạm phát của NHTW

Trong định nghĩa về CSLPMT đã đề cập tới, việc điều hành chính sách sẽ dựatrên chênh lệch giữa lạm phát dự báo và mục tiêu lạm phát đã công bố Ngoài ra, do độtrễ của chính sách, NHTW cần phải có khả năng dự báo lạm phát trong tương lai vàdựa vào đó để điều chỉnh chính sách một cách chủ động và đón đầu thay vì điều hànhchính sách một cách bị động để đối phó với tình hình lạm phát hiện tại

1.2.3 Nhóm điều kiện về mức độ lành mạnh của hệ thống tài chính

1.2.3.1 Sự vững mạnh của hệ thống ngân hàng

Sự vững mạnh của hệ thống ngân hàng sẽ có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng

sử dụng công cụ lãi suất của NHTW Việc nâng lãi suất thị trường nhằm kiểm soát lạmphát của NHTW rất có thể sẽ gây khó khăn cho một hệ thống ngân hàng yếu kém có

cơ cấu vốn sử dụng quá nhiều nợ Trong tình huống này, sự sụp đổ hệ thống các ngânhàng hoàn toàn có thể xảy ra Không chỉ vậy, trách nhiệm hỗ trợ hồi phục hệ thốngngân hàng cũng là một gánh nặng tài chính đối với NHTWvà các gói cứu trợ này nếukhông có biện pháp trung hòa sẽ càng làm khó khăn cho việc kiểm soát lạm phát Tìnhtrạng này trên thực tế đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử, đáng chú ý nhất gần đây làkhủng hoảng kép ở Thái Lan 1997 mà sau đó đã lan ra nhiều quốc gia trên thế giới.Dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền (2015) [22], để đánh giá về hệ thống ngânhàng, bài khóa luận sẽ sử dụng các chỉ tiêu sau đây :

- Quy mô : tín dụng/GDP

Trang 24

- Khả năng sinh lời: NIM

- Mức độ an toàn : tỷ lệ dư nợ tín dụng/vốn huy động, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ

nợ xấu

1.2.3.2 Sự phát triển và lành mạnh của các thị trường tài chính

Thị trường tài chính có tính thanh khoản cao và phát triển sẽ cho phép các công

cụ của CSTT được sử dụng một cách hiệu quả thông qua các kênh dẫn truyền hoạtđộng như mong muốn của NHTW Hon nữa, các thị trường tài chính phát triển sẽ cókhả năng cung cấp những tín hiệu thị trường rõ ràng và kịp thời trước các biến độngkinh tế hoặc các thay đổi trong chính sách, từ đó cho phép NHTW dễ dàng quan sátphản ứng của nền kinh tế để điều chỉnh chính sách hợp lý và thực hiện công tác dự báomột cách hiệu quả Một ý nghĩa thứ ba chính là thị trường tài chính lành mạnh sẽ cókhả năng hứng chịu các cú sốc tốt hon và ít có nguy co roi vào khủng hoảng hon, dotrong điều kiện khủng hoảng kỳ vọng lạm phát thường quá cao hoặc quá thấp, đồngthời các thị trường tài chính hoạt động kém hiệu quả và tỷ giá biến động mạnh sẽkhiến các công cụ chính sách khó phát huy tác dụng và tạo áp lực cho NHTW phảitheo đuổi các mục tiêu khác như ổn định tỷ giá hoặc tăng trưởng kinh tế thay vì tậptrung vào kiểm soát lạm phát

1.2.4 Nhóm điều kiện về sự ổn định kinh tế vĩ mô

Sự bất ổn kinh tế vĩ mô thường sẽ tạo áp lực cho NHTW phải theo đuổi cácmục tiêu về tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và ổn định tỷ giá thay vì tập trung kiểmsoát lạm phát Kinh tế vĩ mô ổn định có thể được đánh giá thông qua :

- Tình hình cán cân ngân sách và nợ công : ngân sách thâm hụt nặng cùng nợ công lớn

sẽ dễ dẫn tới tình trạng chính sách tài khóa chi phối việc điều hành CSTT của NHTW,

do việc nâng lãi suất để kiểm soát lạm phát sẽ ảnh hưởng xấu tới tình hình nợ công,đồng thời NHTW dễ bị áp lực phải cung cấp vốn cho nhu cầu chi tiêu ngân sách

- Diễn biến lạm phát: trong thời kỳ lạm phát cao và diễn biến bất ổn, việc kiểm soát và

dự báo lạm phát sẽ gặp rất nhiều khó khăn Trong thời gian này nếu áp dụng CSLPMT

và công bố cam kết một mức mục tiêu lạm phát, NHTW sẽ rất khó có thể thành côngđưa lạm phát về mức mục tiêu đã cam kết, làm ảnh hưởng tới uy tín của NHTW vàlòng tin của thị trường vào chính sách, từ đó dễ gây thêm khó khăn cho việc điều hànhchính sách trong tưong lai Vì lý do này, CSLPMT chỉ nên thực thi khi lạm phát đã

Trang 25

- Điều hành lãi suất ngắn hạn tốt

- Hiểu rõ các kênh dẫn truyền

- Thị trường tài chính phát triển

- Hệ thống tài chính ổn định, lành mạnh

- Độc lập về mục tiêu

- Không có cơ chế chính thức để quy trách nhiệm cho NHTW, dù NHTW phải giải thích với công chúng phương pháp điều hành.

Chile - NHTW độc lập hoàn toàn

- Chính phủ không thống trị tài chính

- Hệ thống tài chính ổn định

- Kiểm soát lãi suất ngắn hạn tốt

- Thị trường tài chính khá phát triển

- Theo đuổi 1 mục tiêu duy nhất (vẫn có

2 mục tiêu là lạm phát và tỉ giá thả nổi

có điều tiết)

- Khả năng lập mô hình dự báo lạm phát

- Hiểu biết về các kênh dẫn truyền

CH Séc - Chính phủ không thống trị tài chính

- Độc lập về công cụ điều hành

- Điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả

thông qua lãi suất cơ bản

- Thị trường tài chính khá phát triển

- Mục tiêu ổn định giá cả là mục tiêu chính

- Hệ thống ngân hàng lành mạnh

- Khả năng lập mô hình dự báo lạm phát

- Hiểu một phần về các kênh dẫn truyền

- Độ tin cậy và mức trách nhiệm của NHTW cao

- Tổ chức bộ máy hiệu quả

24

được đưa về mức ổn định và đủ thấp để cho phép NHTW kiểm soát một cách tươngđối hiệu quả

1.3 THỰC TẾ ĐÁP ỨNG CÁC ĐIỀU KIỆN DỂ ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

Các điều kiện trên tuy có ý nghĩa giúp việc áp dụng lạm phát mục tiêu đượchiệu quả, nhưng rất nhiều các nghiên cứu trên thế giới đều đồng quan điểm rằng cácđiều kiện này không phải là một quy luật, yêu cầu bắt buộc Bảng 1.2 cho thấy hầunhư tất cả các quốc gia khi áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu đều chưa đáp ứngđược đầy đủ các điều kiện trên mà dần hoàn thiện nốt trong quá trình áp dụng:

Bảng 1.2 Tình trạng đáp ứng các điều kiện khi áp dụng CSLPMT tại một số

quốc gia

Trang 26

Hungary - Ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu

- NHTW độc lập hoàn toàn

- Hệ thống tài chính khá ổn định

- Điều hành tốt lãi suất ngắn hạn

- Thị trường tài chính khá phát triển

- Theo đuổi một mục tiêu duy nhất (vẫn

có 2 mục tiêu là lạm phát và tỉ giá thả nổi có điều tiết)

- Khả năng lập mô hình dự báo lạm phát đang được phát triển

- Hiểu biết một phần về các kênh dẫn truyền

- Quy định về thống trị tài chính Israel - Chính phủ không thống trị tài chính

- Điều hành tốt lãi suất ngắn hạn

- NHTW đang dần độc lập hơn

- Thị trường tài chính phát triển

- Hệ thống tài chính khá ổn định

- Độc lập về pháp lý

- Hiểu biết cơ bản về cơ chế dẫn truyền

- Khả năng lập mô hình dự báo lạm phát đang được phát triển

- Theo đuổi một mục tiêu duy nhất (vẫn

có 2 mục tiêu là lạm phát và tỉ giá thả nổi có điều tiết)

Ba Lan - Ổn định giá cả là một trong các mục tiêu

- Khả năng lập mô hình dự báo lạm phát

- Thị trường tài chính phát triển

- Khả năng lập mô hình dự báo lạm phát đang được phát triển

- Điều hành lãi suất ngắn hạn tốt

- Thị trường tài chính phát triển

Trang 27

(i) về tính độc lập của NHTW: Bảng 1.2 cho thấy, trong thực tế phần lớn các

quốc gia không để NHTW độc lập hoàn toàn về xác định mục tiêu, mà mức mục tiêulạm phát sẽ được quyết định dựa trên sự thảo luận làm việc chung giữa chính phủ vàNHTW Việc này sẽ giúp cho mục tiêu đạt được sự đồng thuận cao hon, đáng tin cậyhonvà đảm bảo sự ủng hộ của chính phủ và chính sách tài khóa trong việc đạt mục tiêu

đề ra Chủ yếu NHTW các quốc gia đều có độc lập về công cụ điều hành khi áp dụnglạm phát mục tiêu, do mức độ độc lập này sẽ đảm bảo việc điều hành chính sách tiền tệkhông bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chính trị và các chính sách tài khóa, nhờ đó giatăng mức tin cậy của việc điều hành chính sách

(ii) về mục tiêu CSTT: Tại thời điểm áp dụng, tuy phần lớn các quốc gia đều đã

đặt ổn định giá cả lên là mục tiêu hàng đầu, nhưng một số quốc gia bao gồm Israel,Balan, Hungary, Chile như trong Bảng 1.2 chưa đáp ứng điều kiện này và vẫn đặt mụctiêu tỉ giá ngang hàng với mục tiêu ổn định giá cả (chính sách mục tiêu kép) Lý docho việc này là vì nền kinh tế các quốc gia này đang phát triển và dễ bị ảnh hưởng bởicác cú sốc từ quốc tế hon các nước phát triển, đặt ra nhu cầu cần có can thiệp trên thịtrường ngoại hối để tạo sự ổn định kinh tế Đây cũng là một nhu cầu chung với tất cảcác quốc gia đang phát triển với nền kinh tế còn non yếu Trong trường hợp này, canthiệp về tỷ giá cần được công bố với thị trường và thể hiện qua cách can thiệp là chỉnhằm ổn định các cú sốc ngắn hạn và tạo điều kiện ổn định để đạt mục tiêu lạm pháttrong dài hạn, thay vì để theo đuổi một mục tiêu tỷ giá cụ thể Israel, Chile, Hungary

và Balan khi mới áp dụng lạm phát mục tiêu vẫn duy trì chế độ tỉ giá thả nổi có điềutiết trong một mức giới hạn (floating band) Các giới hạn tỷ giá này sau đó dần đượcnới rộng khi tỷ giá đã ổn định hon để thể hiện sự ưu tiên mục tiêu lạm phátvà chỉ còntác dụng điều tiết trong các trường hợp biến động rất lớn Israel duy trì giới hạn này tớiđầu năm 2004 trước khi hoàn toàn thả nổi tỷ giá, tức là 7 năm sau khi áp dụng lạmphát mục tiêu Điều này cho thấy thả nổi tỉ giá không phải là điều kiện bắt buộc, màngược lại can thiệp vào tỷ giá hoàn toàn có thể được sử dụng để hỗ trợ mục tiêu lạmphát

(iii) về khả năng dự báo lạm phát: Bảng 1.2 cho thấy rất nhiều quốc gia chưa

đáp ứng được tại thời điểm áp dụng chính sách Đối với các quốc gia đang phát triển,thông thường hệ thống dữ liệu kinh tế chưa đầy đủ, đồng thời chưa có nhiều kinh

Trang 28

nghiệm áp dụng các phương pháp mô hình và thống kê vào việc hoạch định chính sách,

do đó việc đáp ứng điều kiện này càng khó khăn Thông thường, các nước đi sau sẽđược lợi thế từ kinh nghiệm của các nước đi trước trong vấn đề này Brazil là một ví

dụ điển hình khi thành công trong tự xây dựng hệ thống mô hình dự báo lạm phát dựatrên mô hình của Ngân hàng Trung Ương Anh khá nhanh và hiệu quả

(iv) về mức độ phát triển của thị trường tài chính: Có thể thấy từ bảng 1.2

phần lớn các quốc gia đều có thị trường khá phát triển khi áp dụng lạm phát mục tiêu.Ngoài ra, các quốc gia khi áp dụng chính sách mới cũng thực hiện các biện pháp nhằmthúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán nợ chính phủ như: Nam Phi mở sàngiao dịch trái phiếu chính thức; Hungary, Mexico và Nam Phi thiết lập mạng lướingười giao dịch ưu tiên (primary dealers) nhằm tăng thanh khoản cho các công cụ nợchính phủ

(v) Ảnh hưởng của chính sách tài khóa đến mục tiêu lạm phát: Tất cả các quốc

gia trong bảng 1.2 đều không có tình trạng chính sách tài khóa chi phối CSTT (thốngtrị tài chính) Đặc biệt, với các quốc gia có lịch sử lạm phát cao và bất ổn, nguồn tàitrợ từ thị trường cho ngân sách hạn chế, thì việc ngân sách lành mạnh ít thâm hụt trướckhi áp dụng lạm phát mục tiêu là một điều kiện tiên quyết Trên thực tế, các quốc giađang phát triển như Israel, Mexico, Ba Lan, Nam Phi thường thực hiện cải tổ, cái thiệntình hình ngân sách, đưa tỉ lệ nợ công trên GDP giảm về mức an toàn hơn trước khi ápdụng lạm phát mục tiêu Nghiên cứu của Abeygunawardana (2016) [27] về 18 quốcgia sử dụng lạm phát mục tiêu cho thấy có 14 quốc gia có thâm hụt ngân sách dưới5%và có 15 quốc gia có nợ công dưới 60% GDP trong vòng 3 năm trước khi áp dụnglạm phát mục tiêu

(vi) Mức lạm phát trước khi áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu: Bảng

1.2 cho thấy phần lớn các quốc gia áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu khi thịtrường đang trong giai đoạn ổn định, hoặc đã tái ổn định một phần sau khi trải quakhủng hoảng Bảng 1.3 cho thấy chủ yếu tại thời điểm áp dụng CSLPMT, lạm phát đãđược đưa về ở mức tương đối thấp Brazil áp dụng lạm phát mục tiêu khi đồng real đã

ổn định giá trị sau khi mất giá hơn 50% trong cuộc khủng hoảng năm 1999 Thái Lan

áp dụng lạm phát mục tiêu 3 năm sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 Ngay

cả New Zealand, quốc gia đã mở đầu xu hướng sử dụng chính sách lạm phát mục tiêu,

Trang 29

Có thể tổng kết việc đáp ứng các điều kiện của các quốc gia trên như sau:

i) Các điều kiện phần lớn quốc gia đáp ứng:

- NHTW độc lập về công cụ điều hành

- Mục tiêu lạm phát là mục tiêu hàng đầu trong dài hạn

- Hệ thống tài chính khá phát triển và lành mạnh

- Kinh tế vĩ mô tương đối ổn định

- Chính sách tài khóa không chi phối NHTW (không có tình trạng thống trị tài chính)ii) Các điều kiện phần lớn quốc gia chưa đáp ứng:

- NHTW độc lập về mục tiêu và về pháp lý (nhân sự)

- Khả năng dự báo lạm phát đáng tin cậy

- Theo đuổi một mục tiêu tiền tệ duy nhất

Bảng 1.3 Mức lạm phát trong 4 năm trước thời điểm áp dụng mục tiêu lạm phát

tại một số quốc gia (CPI, % năm)

Trang 30

thành công CSTT lạm phát mục tiêu Nghiên cứu cho thấy có các nhóm điều kiện sau

là quan trọng đối với việc áp dụng CSLPMT:

- Hiệu quả hoạt động của NHTW:

+ NHTW độc lập tương đối với Chính phủ+ NHTW hoạt động minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao

- Khả năng thiết lập mục tiêu lạm phát ý nghĩa:

+ Kiểm soát lạm phát là mục tiêu tiền tệ ưu tiên trong dài hạn+ NHTW có khả năng dự báo lạm phát một cách đáng tin cậy

- Hệ thống tài chính phát triển và hoạt động lành mạnh

+ Hệ thống ngân hàng lành mạnh+ Các thị trường tài chính phát triển, hiệu quả

- Kinh tế vĩ mô ổn định:

+ Cán cân ngân sách và tỉ lệ nợ xấu ít rủi ro+ Lạm phát diễn biến ổn định ở mức tương đối thấpTuy các điều kiện trên là quan trọng đối với việc áp dụng hiệu quả CSLPMT,nhưng thực tế kinh nghiệm các quốc gia đã chứng minh rằng không cần thiết phải đápứng đầy đủ các điều kiện trên tại thời điểm thực thi chính sách, mà các điều kiện có thểđược hoàn thiện dần theo thời gian

Những điều kiện trên cùng kinh nghiệm quốc tế về yêu cầu đáp ứng các điềukiện tại thời điểm áp dụng CSLPMT sẽ là cơ sở để khóa luận đánh giá mức độ đáp ứngđiều kiện của Việt Nam trong Chương 2

Trang 31

Năm 1999 lạm phát 4.1% tăng lên 7.7% năm 2004

2005

-9/2008

Thắt chặt

- Năm 2005: LSTCV 6.5% (tăng 1.5%)

LSTCK 4.5% (tăng 1.5%), cam kết VND không

mất giá quá 1%, biên độ tỷ giá +/- 0.25%

- Năm 2006: biên độ tỷ giá +/- 0.5% (tăng 0.25%)

- Năm 2007: tỉ lệ dự trữ bắt buộc trên 12 tháng 4%

(tăng 2%), dưới 12 tháng 10% (tăng 5%), biên độ

Lạm phát quanh mức 7.3% 8.3%

30

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐÁP ỨNG CÁC ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TRONG ĐIỀU HÀNH CSTT CỦA

NHNN VIỆT NAM 2.1 TÌNH HÌNH ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 2005 - 2016

2.1.1 Thực trạng điều hành CSTT:

Nen kinh tế Việt Nam từ năm 2005 đến nay đã phải trải qua khá nhiều bất ổnđến từ các cú sốc kinh tế Cú sốc đầu tiên đến từ khủng hoảng tài chính châu Á năm1997và cú sốc thứ hai đến từ khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 Trước ảnhhưởng của các cú sốc này, NHNN Việt Nam đã gặp phải khá nhiều thử thách trongviệc đảm bảo tăng trưởng kinh tế đồng thời kiểm soát lạm phát Thời kỳ từ 2005 đến

2016, lạm phát ở Việt Nam có nhiều diễn biến bất ổn và ở mức cao, chính sách tiền tệ

có nhiều thay đổi thường xuyên để đối phó với những bất ổn này

Bảng 2.1 Xu hướng điều hành CSTT của NHNN giai đoạn 2005 - 2016

Trang 32

7.5% (giảm 5.5%), tỉ lệ dự trữ bắt buộc dưới 12

tháng 6% (giảm 5%); cho phép sử dụng tín phiếu

kho bạc để tái cấp vốn; biên độ tỷ giá USD +/- 3%

(tăng 2.25%), tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng

3%

- Năm 2009: LSTCK 6% (giảm 1.5%), LSTCV 8%

(giảm 1.5%), tỉ lệ dự trữ bắt buộc dưới 12 tháng

3% (giảm 3%), tỷ giá bình quân liên ngân hàng

tăng 5.44%, biên độ tỷ giá +/-3%.

- Năm 2010: tỉ lệ dự trữ bắt buộc dưới 12 tháng 4%

(tăng 1%)

5.3%

Lạm phát năm 2008 vọt lên 23.1%, năm 2009 còn 7%

(tăng 6%), tỉ lệ dự trữ bắt buộc dưới 12 tháng 3%

(giảm 1%); tỷ giá bình quân liên ngân hàng

USD/VND tăng 9.3%, biên độ tỷ giá +/-1% (giảm

2%)

Năm 2010 và 2011 tăng trưởng GDP ổn định 6.4% - 6.2% Năm 2010 lạm phát 8.8%, năm

(giảm 6%), trần lãi suất huy động 1-dưới 12 tháng

8% (giảm 6%), cam kết tỉ giá không tăng quá 2-3%

- Năm 2013: LSTCV 7% (giảm 2%), LSTCK 5%

(giảm 2%), lãi suất qua đêm liên ngân hàng 8%

(giảm 2%), trần lãi suất huy động 1 - dưới 12

tháng 7% (giảm 1%), cho phép tự ấn định lãi suất

huy động trên 6 tháng, cam kết tỉ giá không tăng

quá 2-3%; tỉ giá bình quân liên ngân hàng tăng 1%

- Năm 2014: LSTCV 4.5% (giảm 0.5%), LSTCK

6.5% (giảm 0.5%), trần lãi suất tiền gửi VND 5.5%

(giảm 1.5%), cam kết tỉ giá không tăng quá 1-2%,

tỉ giá bình quân liên ngân hàng tăng 1%

- Năm 2015: tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng

Năm 2012 tăng trưởng GDP còn 5.3%, tăng dần đến 2016 đạt 6.21%

Lạm phát năm 2012 9.1%, giảm dần đến 2016 còn4.74% 31

Trang 33

- Năm 2016: Chế độ tỉ giá trung tâm biên độ

Để đối phó với tình hình lạm phát, giai đoạn từ năm 2005 đến quí 3 năm 2008,một loạt chính sách thắt chặt tiền tệ được sử dụng Tuy nhiên đáng chú ý là trong 7tháng đầu năm 2008, trước ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới khiến nềnkinh tế thể hiện các dấu hiệu tiêu cực với lạm phát tăng cao, NHNN đã áp dụng mộtloạt các biện pháp thắt chặt tiền tệ rất mạnh: các mức lãi suất điều hành được tăng tới8.5%, biện pháp mang tính hành chính cao là tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc được sử dụng,đồng thời nghiệp vụ thị trường mở cũng trở thành một biện pháp mang tính hành chínhkhi 20.300 tỷ VND tín phiếu được phát hành mang tính bắt buộc và không được sửdụng trong nghiệp vụ tái cấp vốn

Cuối năm 2008, tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu chững lại, NHNN ngay lập tứcphản ứng bằng cách nới lỏng CSTT từ tháng 10/2008 Trong vòng 3 tháng cuối năm,các mức lãi suất điều hành được điều chỉnh giảm mạnh tới 5.5%, tỉ lệ dự trữ bắt buộcgiảm 6% Xu hướng nới lỏng CSTT được duy trì đến hết quí 3 năm 2010

Sang đến quý 4 năm 2010, trước tình hình lạm phát quay trở lại tăng cao, Nghịquyết 44/NQ-CP đặt nhiệm vụ cho NHNN kiểm soát tăng trưởng tín dụng và tổngphương tiện thanh toán nhằm hạn chế lạm phát NHNN chuyển hướng thắt chặt CSTTkéo dài đến hết năm 2011 Trong thời gian này hệ thống ngân hàng cũng lâm vào khókhăn thanh khoản, dẫn tới mặt bằng lãi suất cho vay thời gian đầu 2011 ở mức rất cao

Trang 34

do hiện tượng chạy đua lãi suất, với lãi suất huy động có những ngân hàng đã đẩy lêntới 20%, càng làm khó khăn cho các doanh nghiệp hồi phục Trước tình hình này, sangnăm 2011, lần đầu tiên Chính phủ đã đặt ra mục tiêu hàng đầu cho CSTT là kiềm chếlạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thông qua Nghị quyết 11/NQ-CP/2011 Năm 2011NHNN đã thực hiện nhiều điều chỉnh lãi suất điều hành rất mạnh tay, tăng tới 6%.

Từ năm 2012, trước những dấu hiện đình đốn kinh tế khi tăng trưởng GDP códấu hiệu chững lại, NHNN đã chuyển hướng nới rộng CSTT Cũng từ 2012, lãi suất đãđược lựa chọn làm mục tiêu trung gian chủ yếu trong điều hành CSTT Cụ thể, NHNNthực hiện công bố định hướng điều hành lãi suất từ đầu năm, sau đó triển khai đồng bộcác biện pháp hành chính và biện pháp điều chỉnh lãi suất điều hành với mục tiêu giảmdần mặt bằng lãi suất Riêng trong năm 2012 các mức lãi suất điều hành và lãi suấtliên ngân hàng đã được điều chỉnh giảm tới 6% và tiếp tục giảm dần trong các năm sau.Trần lãi suất huy động được áp dụng từ năm 2011 tiếp tục được hạ thấp dần trongnhững năm sau đó Song song đó, NHNN cũng thực hiện tái cơ cấu hệ thống ngânhàng nhằm lành mạnh hóa hoạt động và tài chính của các ngân hàng thương mại, thiếtlập lại sự ổn định và an toàn cho hệ thống ngân hàng Đến thời điểm năm 2016 lãi suất

đã ổn định tại mức quanh 7%/năm với tiền gửi dài hạn, tạo điều kiện thuật lợi cho cácdoanh nghiệp tiếp cận vốn trong khi thanh khoản hệ thống ngân hàng dồi dào, hoàntoàn không còn hiện tượng chạy đua lãi suất

Về điều hành tỷ giá, bảng 2.1 cũng cho thấy trong thời kỳ 2005 - 2016 NHNN

đã có nhiều điều chỉnh tỉ giá khá linh hoạt Năm 2008 và 2009 tỉ giá bình quân liênngân hàng và biên độ tỉ giá đều được điều chỉnh tăng khá mạnh trước biến động từkhủng hoảng tài chính toàn cầu Năm 2011 nhằm giải quyết sức ép giảm giá VNĐ,NHNN đã điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng USD/VND tăng tới 9.3% Đây làmức điều chỉnh rất lớn, tuy nhiên là cần thiết nhằm phản ánh sát tình hình cung cầutrên thị trường hơn, giảm nhiệt trên thị trường tự do và ổn định tâm lý thị trường.Trong các năm sau, tiếp tục mục tiêu giữ tỷ giá ở mức ổn định, NHNN thực hiện công

bố mục tiêu ổn định tỷ giá từ đầu năm, cam kết không để tỷ giá biến động quá 2 - 3%trong năm 2012, 2013 và không quá 1-2% năm 2014 Các biện pháp quản lý về ngoạihối được thắt chặt, bao gồm quy định về trạng thái ngoại tệ của ngân hàng, áp trần lãisuất cho vay bằng USD, quản lý chặt chẽ các hoạt động kinh doanh ngoại tệ trái phép

Trang 35

Năm 2015, diễn biến tỷ giá một lần nữa gặp biến động mạnh với việc đồng Nhân dân

tệ phá giá mạnh, cùng với những kỳ vọng về việc FED tăng lãi suất khiến áp lực tăng

tỷ giá trở nên rất lớn Trước những áp lực này, NHNN đã mạnh dạn điều chỉnh tỷ giátrung bình liên ngân hàng tăng 3 lần thêm tổng cộng 3%, đồng thời nới biên độ tỷ giá 2lần lên +/- 3%, cho dù đầu năm đã cam kết không để tỷ giá biến động quá 2% Sangnăm 2016, NHNN chính thức đưa vào áp dụng cơ chế tỷ giá trung tâm, theo đó mức tỷgiá trung tâm sẽ được công bố hàng ngày dựa trên diễn biến thị trường và không cònmức cam kết ổn định tỷ giá như các năm trước đó

2.1.2 Thành tựu đạt được của CSTT

2.1.2.1 Chính sách tiền tệ linh hoạt giúp thúc đẩy tăng trưởng và kiểm soát lạm phát:

Trong thời kỳ kinh tế diễn biến có nhiều bất ổn, việc điều hành chính sách tiền

tệ đa mục tiêu, lựa chọn giữa tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giátùy theo thay đổi bối cảnh kinh tế vĩ mô là một lựa chọn phù hợp Việt Nam có đặcđiểm dân số trẻ, với phần lớn dân số trong độ tuổi dưới 20, cùng với đó là tốc độ đô thịhóa cao, số lượng người dân các vùng nông thôn và tỉnh lẻ ra thành phố ở và lao độngngày càng cao Với những điều kiện kinh tế xã hội đó, mục tiêu hỗ trợ tăng trưởngkinh tế trong phần lớn thời gian này là khá phù hợp Thực tế cho thấy CSTT đã kháthành công trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giúp tăng trưởng GDP của ViệtNam từ năm 2005 đến nay luôn nằm trong mức cao của khu vực (Bảng 2.2) Thời kỳ

từ 2011 đến nay, với mục tiêu ưu tiên được xác định là kiểm soát lạm phát, có thể thấyCSTT đã khá thành công trong kiểm soát lạm phát về mức thấp (Biểu đồ 2.1)

Bảng 2.2 Tăng trưởng GDP của các nước Đông Nam Á từ 2005 - 2016 (% năm)

Nguồn: ADB, NHTW các quốc gia

Trang 36

Biểu đồ 2.1 Lạm phát và tốc độ tăng trưởng M2 tại Việt Nam giai đoạn

2005 - 2016 (% năm)

Nguồn: ADB Statistical Database System, NHNN Việt Nam

2.1.2.2 Tỷ giá diễn biến ổn định trong thời gian gần đây:

Trong giai đoạn từ 2005 đến nay, NHNN đã có nhiều lần điều chỉnh mức tỷ giábình quân liên ngân hàng đồng thời điều chỉnh tăng giảm mức biên độ tỷ giá linh hoạttrong các thời điểm thị trường ngoại tệ có nhiều áp lực tăng tỷ giá, tuy nhiên giai đoạnNHNN tương đối thành công trong ổn định tỷ giá mới chỉ bắt đầu từ năm 2011 Từnăm 2011, NHNH đã thực hiện việc cam kết ổn định tỷ giá không thay đổi quá mộtmức nhất định vào đầu mỗi năm Sự cam kết này từ NHNN đã giúp neo mức tỷ giá kỳvọng và ổn định tâm lý thị trường, tạo được một thời kỳ tỷ giá tương đối ổn định từ

2011 đến 2014, nhất là so với thời kỳ trước năm 2011 (Biểu đồ 2.2) Năm 2015, trước

áp lực tăng tỷ giá của sự kiện đồng Nhân dân tệ phá giá, NHNN đã phá vỡ cam kết vềmức thay đổi tỷ giá để điều chỉnh tỷ giá dưới các áp lực của thị trường, thể hiện sự sẵnsàng linh hoạt điều chỉnh tỷ giá thay vì gò bó theo cam kết Đến năm 2016, nhằm xâydựng một cơ chế điều hành tỷ giá sát với quy luật thị trường hơn, NHNN đã đưa vào

áp dụng chế độ tỷ giá trung tâm thay đổi hàng ngày Biểu đồ 2.2 cho thấy thực tế năm

2016 với chế độ tỷ giá trung tâm, tỷ giá đã diễn biến ổn định, với tỉ giá cuối năm chỉ

Trang 37

tăng so với đầu năm 2016 khoảng 1.18%, là một thành công lớn của NHNN trong điềuhành tỷ giá.

Biểu đồ 2.2 Tỷ giá USD/VND giai đoạn 5/2007 đến 5/2017

Nguồn : www.xe.com

2.1.3 Những tồn tại cần khắc phục trong điều hành CSTT

2.1.3.1 CSTT theo đuổi đa mục tiêu nhưng không xác định mục tiêu ưu tiên:

Luật Ngân hàng Nhà nước 1997 đã xác định CSTT là “một bộ phận chính sách

kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống người dân”, hay nói cách khác CSTT được xác định theo đuổi đa mục tiêu.

Luật Ngân hàng Nhà nước 2010 đã quy định “CSTT quốc gia là quyết định về tiền tệ ở

tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thầm quyền bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”. Như vậy Luật Ngân hàng Nhà nước 2010 không hềxác định cụ thể mục tiêu của CSTT mà thay vào đó, từ năm 2011 mục tiêu của CSTTđược Chính phủ đưa ra ngày từ đầu mỗi năm dựa trên điều kiện kinh tế của thời kỳ.Việc không xác định một mục tiêu ưu tiên trong dài hạn khó có thể đảm bảo tính nhấtquán trong dài hạn của CSTT

Trang 38

Mục tiêu 2

2

2 β-^^

2

2 0-^^

2

3 2

1616 18

16 18 Thực hiện 29,7 33,6 46,

-1

37

2.1.3.2 Khả năng điều hành CSTT thông qua cung tiền chưa hiệu quả:

NHNN cho tới gần đây vẫn sử dụng M2 là một mục tiêu hoạt động chính, thôngqua điều chỉnh mức M2 kết hợp với tăng trưởng tín dụng để kiểm soát lạm phát vàtăng trưởng kinh tế Tuy nhiên thực tế nghiên cứu định lượng về mối tương quan giữalạm phát và lãi suất, tín dụng và M2 tại Việt Nam trong thời kỳ 2004 - 2012 củaBhattacharya (2013) [14] đã kết luận giữa M2 và lạm phát không tồn tại một mốitương quan chặt chẽ Quan sát lại Biểu đồ 2.1 ở trên, có thể thấy giữa những điềuchỉnh về tăng trưởng M2 và những biến động về lạm phát còn có một khoảng thời giantrễ nhất định khoảng 6 - 9 tháng theo nghiên cứu của Nguyễn Phi Lân (2012), càng tạothêm khó khăn trong điều hành chính sách Ngoài ra bảng 2.3 cho thấy từ năm 2005đến nay mức tăng trưởng M2 trên thực tế luôn chênh lệch khá nhiều so với mức mụctiêu đề ra Khó khăn này của NHNN trong việc kiểm soát tăng trưởng M2 là do M2 bịảnh hưởng bởi rất nhiều các yếu tố mà NHNN khó kiểm soát gồm : (i) thay đổi tài sản

có ngoại tệ ròng ; (ii) thay đổi đầu tư tín dụng đối với nền kinh tế ; (iii) thay đổi trongkhoản mục cho vay Chính phủ ròng

Không chỉ vậy, khả năng kiểm soát MB của NHNN cũng bị hạn chế, ảnh hưởngtrực tiếp đến khả năng thực hiện mục tiêu M2 Yếu tố chính dẫn đến khó khăn trongđiều hành MB là tình trạng phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách vẫn diễn ra làmảnh hưởng đến mức cung tiền cơ sở MB Thứ nhất, NHNN vẫn phải thực hiện cấp vốnthay cho NSNN thông qua các kênh hỗ trợ tín dụng, ví dụ như gói kích cầu hỗ trợ lãisuất 17.000 tỷ năm 2009 và gói hỗ trợ 30.000 tỷ cho nhà ở xã hội năm 2013 Thứ hai,việc các ngân hàng thương mại bán lại trái phiếu chính phủ cho NHNN trong cácnghiệp vụ thị trường mở và tái cấp vốn với NHNN cũng ảnh hưởng tới MB

Bảng 2.3 Mục tiêu và thực tế tăng trưởng M2 giai đoạn 2005 - 2016 (%/năm)

Nguồn : NHNN, ADB

Trang 39

2.2 THỰC TRẠNG CÁC ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM:

2.2.1 Nhóm điều kiện về hiệu quả hoạt động của NHNN:

2.2.1.1 Tính độc lập của NHNN:

Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập năm 1951và năm 1961 chínhthức đổi tên thành NHNN Việt Nam Từ khi thành lập cho đến nay, NHNN luôn làmột cơ quan thuộc Chính phủ, là một đơn vị ngang bộ với “chức năng quản lý nhànước về tiền tệ, hoạt đông ngân hàng và ngoại hối ; thực hiện chức năng của NHTWbao gồm phát hành tiền, ngân hàng của tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệcho chính phủ”, được quy định tại Điều 2 Luật NHNN 2010 Để đánh giá mức độc lậpcủa NHNN Việt Nam, cần phải chú ý xem xét một số các đặc điểm sau

Về cơ cấu tổ chức của NHNN, Điều 7 Luật NHNN 2010 khẳng định Chính phủ

có quyền quyết định Người đứng đầu lãnh đão NHNN là Thống đốc cũng được quyđịnh là "thành viên của chính phủ, và chịu trách nhiệm trước chính phủ và quốchội." (Điều 8) Với vị thế là cơ quan ngang bộ của NHNN, Thống đốc có hàm tươngđương bộ trưởng, do Thủ tướng trình Quốc hội chấp thuận bổ nhiệm, và nhiệm kỳ củathống đốc là 5 năm trùng với nhiệm kỳ của Chính phủ Ngoài ra, Điều 9 quy định cácquy chế về tuyển dụng, đãi ngộ cán bộ công chức của NHNN cũng phụ thuộc vàoquyết định của Thủ tướng Chính phủ Luật NHNN năm 2010 hiện nay không quy định

rõ ổn định tiền tệ là mục tiêu ưu tiên của CSTT, và cũng không có các quy định trongtrường hợp xảy ra đối lập giữa NHNN và Chính phủ Có thể thấy từ những quy địnhcủa Luật NHNN 2010, NHNN Việt Nam về cơ bản cũng nằm dưới sự kiểm soát về cơcấu tổ chức của Chính phủ giống như các bộ, khẳng định thêm vị trí “là cơ quan ngangbộ” đã được quy định trong những điều đầu tiên của bộ luật

Về mặt tài chính, NHNN được quy định là có “vốn pháp do ngân sách nhà nướccấp ” và "mức vốn pháp định do Thủ tướng Chính phủ quyết định" theo Điều 42Luật NHNN 2010 Điều 43 và 45 Luật NHNN 2010 quy định về hoạt động thu chi củaNHNN cũng phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định của chính phủ Ngoài ra, tại Điều 26

có quy định về việc NHNN được phép tạm ứng cho ngân sách nhà nước trong ngắnhạn, tức là khoản tạm ứng phải được hoàn trả trong năm tài chính, trừ các trường hợpđặc biệt do Quốc hội quyết định Việc tạm ứng trong năm sẽ tuân theo quyết định của

Ngày đăng: 28/03/2022, 23:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Svensson (2002) Inflation Targeting: Should it be modeled as an instrument or a targeting rule? European Economic Review, 46, 771 - 780 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inflation Targeting: Should it be modeled as an instrument or atargeting rule
3. European Central Bank (2004) The Monetary Policy of the ECB. 2 nd Edition. ECB, 113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Monetary Policy of the ECB
4. TS. Tô Thị Ánh Dương (2012) Inflation Targeting and the Implications for Monetary Policy Framework in Vietnam. Ủy Ban Kinh Te Quốc Hội, UNDP tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inflation Targeting and the Implications forMonetary Policy Framework in Vietnam
5. Bernanke, Ben S; Mishkin, Frederic S. (1997) Inflation Targeting: A New Framework for Monetary Policy? National Bureau of Economic Research Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inflation Targeting: A NewFramework for Monetary Policy
6. Mishkin, Frederic S. (1998) International Experiences with Different Monetary Policy Regimes . Stockholm: Institute for International Economic Studies Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Experiences with Different MonetaryPolicy Regimes
7. Mishkin, Frederic S.; Posen, Adam S. (1997) Inflation Targeting: Lessons from Four Countries. Cambridge, MA: National Bureau of Economic Research Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inflation Targeting: Lessons fromFour Countries
8. Carare, Alina; Schaeachter, Andrea; Stone, Mark; Zelmer, Mark (2002)Establishing Initial Conditions in Support of Inflation Targeting. International Monetary Fund Sách, tạp chí
Tiêu đề: Establishing Initial Conditions in Support of Inflation Targeting
9. Andrea Schaechter, Mark R.Stonevà Mark Zelmer (2000) Adopting Inflation Targeting: Practical Issues for Emerging Market Countries. International Monetary Fund Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adopting InflationTargeting: Practical Issues for Emerging Market Countries
10. Freedman, Charles; Otker-Robe, Inci (2009) Country Experiences with the Introduction and Implementation of Inflation Targeting. International Monetary Fund Sách, tạp chí
Tiêu đề: Country Experiences with theIntroduction and Implementation of Inflation Targeting
11. Gómez, J., Uribe, J. D., and Vargas, H. (2002) The Implementation of Inflation Targeting in Colombia . Bogota: Banco de la Republica, Bank of England Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Implementation of InflationTargeting in Colombia
12. Hasse, Rolf H. (1990) The European Central Bank: Perspectives for the Further Development of the European Monetary System. Gutersloh: BertelsmannFoundation Sách, tạp chí
Tiêu đề: The European Central Bank: Perspectives for the FurtherDevelopment of the European Monetary System
13. Grilli, Vittorio; Masciandaro, Donato; Tabellini, Guido (1991) Political and Monetary Institution and Public Financial Policies in the Industrial Countries.Economic Policy, Vol. 6, No. 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Political andMonetary Institution and Public Financial Policies in the Industrial Countries
14. Bhattacharya, Rina (2013) Inflation Dynamics and Monetary Policy Transmission in Vietnam and Emerging Asia. International Monetary Fund Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inflation Dynamics and Monetary Policy Transmissionin Vietnam and Emerging Asia
15. Eijffinger, Sylvester C. W.; de Haan, Jakob (1996) The Political Economy of Central Bank Independence. Princeton, NJ: Special Papers in International Economics Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Political Economy ofCentral Bank Independence
16. Dương Thị Thúy Nga; Đỗ Văn Vinh (2014) Measuring Central BankIndependence for Vietnam. Hà Nội: Journal of Economics and Development, 16, 40 - 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Measuring Central Bank"Independence for Vietnam
17. De Haan, Jakob; Amtenbrink, Fabian (2003) A Non-Transparent European Central Bank? Who is to blame? Groningen: University of Groningen Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Non-Transparent EuropeanCentral Bank? Who is to blame
20. Nguyễn Bảo Huyền (2016) Rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Hà Nội: Học Viện Ngân Hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại ViệtNam
21. Nguyễn Đức Trung (2015) An toàn vốn các NHTM - thực trạng Việt Nam và giải pháp cho việc áp dụng Hiệp ước tiêu chuẩn vốn Basel II & III. Hà Nội: Học Viện Ngân Hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn vốn các NHTM - thực trạng Việt Nam và giảipháp cho việc áp dụng Hiệp ước tiêu chuẩn vốn Basel II & III
22. Đào Thị Thanh Dung (2015) Lạm phát mục tiêu và khả năng áp dụng vào nền kinh tế Việt Nam. Hà Nội: Học Viện Ngân Hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạm phát mục tiêu và khả năng áp dụng vào nền kinhtế Việt Nam
23. Nguyễn Thị Hiền (2015) Hoàn thiện các điều kiện để thực hiện chính sách tiền tệ theo khuôn khổ lạm phát mục tiêu tại Việt Nam. Hà Nội: Học Viện Ngân Hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các điều kiện để thực hiện chính sách tiền tệtheo khuôn khổ lạm phát mục tiêu tại Việt Nam

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Khả năng lập mô hình dự báo lạm phát - Hiểu biết về các kênh dẫn truyền - Điều kiện áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu trong điều hành chính sách tiền tệ của NH nhà nước việt nam   thực trạng và giải pháp   khoá luận tốt nghiệp 765
h ả năng lập mô hình dự báo lạm phát - Hiểu biết về các kênh dẫn truyền (Trang 27)
- Khả năng lập mô hình dự báo lạm phát đang được phát triển - Điều kiện áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu trong điều hành chính sách tiền tệ của NH nhà nước việt nam   thực trạng và giải pháp   khoá luận tốt nghiệp 765
h ả năng lập mô hình dự báo lạm phát đang được phát triển (Trang 28)
Bảng 2.4. Tỷ lệ tín dụng/huy động bình quân hệ thống ngân hàng một số quốc gia - Điều kiện áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu trong điều hành chính sách tiền tệ của NH nhà nước việt nam   thực trạng và giải pháp   khoá luận tốt nghiệp 765
Bảng 2.4. Tỷ lệ tín dụng/huy động bình quân hệ thống ngân hàng một số quốc gia (Trang 52)
Bảng 2.3. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) củamột số quốc gia (%) - Điều kiện áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu trong điều hành chính sách tiền tệ của NH nhà nước việt nam   thực trạng và giải pháp   khoá luận tốt nghiệp 765
Bảng 2.3. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) củamột số quốc gia (%) (Trang 52)
Bảng 2.7. Vốn hóa thị trường cổ phiếu /GDP củamột số quốc gia (%GDP năm) - Điều kiện áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu trong điều hành chính sách tiền tệ của NH nhà nước việt nam   thực trạng và giải pháp   khoá luận tốt nghiệp 765
Bảng 2.7. Vốn hóa thị trường cổ phiếu /GDP củamột số quốc gia (%GDP năm) (Trang 54)
2.2.4.2. Cán cân ngân sách và tình hình nợ công - Điều kiện áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu trong điều hành chính sách tiền tệ của NH nhà nước việt nam   thực trạng và giải pháp   khoá luận tốt nghiệp 765
2.2.4.2. Cán cân ngân sách và tình hình nợ công (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w