Chơng trình tiểu học mới có đổi mới về nội dung vàtrọng tâm là đổi mới phơng pháp dạy học dạy nói cách khácnội dung đổi mới đòi hỏi phơng pháp cũng đổi mới nhằm:“Phát huy tính tích cực c
Trang 1h-định: Phải coi trọng và đầu t giáo dục, giáo dục là quốcsách hàng đầu là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bảncho sự thực mục tiêu kinh tế xã hội Thực hiện chủ trơng
đúng đắn đó Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang triểnkhai đổi mới toàn diện, đồng bộ Trong đó có đổi mới ch-
ơng trình dạy học các cấp nói chung và tiểu học nói riêng.Chính vì vậy việc soạn thảo chơng trình tiểu học mới gặpphần chuẩn bị lớp ngời phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoáhiện đại hoá và hội nhập với quốc tế đầu thế kỷ 21 là hếtsức cần thiết
Do yêu cầu xã hội đặt ra cho giáo dục và đoà tạo ngàycàng cao nh vậy, nhằm khắc phục những hạn chế của ch-
ơng trình cũ và đáp ứng đợc những yêu cầu xã hội BộGiáo dục Đào tạo đã có chủ trơng soạn thảo và đa vào nhàtrờng bộ sách mới sách giáo khoa chơng trình 2000
Chơng trình tiểu học 2000 nhằm kế thừa và phát huynhững thành tựu, khắc phục những tồn tại của chơngtrình cũ đây là chơng trình sẽ đợc áp dụng thống nhấttrong cả nớc để góp phần thực hiện bình đẳng trong giáo
Trang 2dục Chơng trình tiểu học mới có đổi mới về nội dung vàtrọng tâm là đổi mới phơng pháp dạy học dạy nói cách khácnội dung đổi mới đòi hỏi phơng pháp cũng đổi mới nhằm:
“Phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinhtrên cơ sở khai thác triệt để các đặc điểm tâm sinh lýcủa học sinh tiểu học” đồng thời là sách giáo khoa ra đờitrong đó có môn Tiếng Việt
Môn Tiếng việt ở tiểu học đợc dạy và học không quanhiều phân môn khác nhau: Học vần, tập đọc, tập viết,luyện từ và câu, kể chuyện, tập làm văn Trong các phânmôn đó phân môn Tập làm văn chiếm một vị trí đặcbiệt quan trọng trong dạy - học Tiếng việt vì:
- Phân môn Tập làm văn tận dụng các hiểu biết và kỹnăng về Tiếng việt do các Phân môn khác rèn luyện vàcung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện chúng Để làm đ-
ợc bài văn nói hoặc viết ngời làm phải hoàn thiện cả 4 kỹnăng nghe, nói, đọc, viết, phải biết vận dụng các kiến thức
về Tiếng Việt
- Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh kỹ năngsản sinh văn bản Nhờ vậy, Tiếng việt không chỉ là một hệthống cấu trúc đợc xem xét từng phần, từng mặt qua từngphân môn mà trở thành công cụ sinh động trong quátrình giao tiếp t duy học tập Nói cách khác phân môn tậplàm văn đã góp phần thực hiện hoá mục tiêu quan trọng bậcnhất của việc dạy và học Tiếng việt là dạy học sinh sử dụngTiếng việt trong đời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnhhội các tri thức khoa học… Tập làm văn là thớc đo đánh giákết quả học tập và giảng dạy phân môn khác
ở tiểu học phân môn tập làm văn có nhiệm vụ rènluyện kỹ năng nói và viết qua các kiểu bài miêu tả, kểchuyện, tờng thuật, viết th, viết đơn từ Đồng thời phânmôn tập làm văn góp phần cùng các môn học khác rèn luyện
Trang 3t duy phát triển ngôn ngữ và hình thành nhân cách chohọc sinh.
Môn tập làm văn lớp 3 chơng trình 2000 đã chú trọngnhiều đến yêu cầu rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh Các em đợc luyện nói theo chủ đề, luyện nói theotruyện kể theo tranh ảnh… Các giờ tập làm văn nói cónhiệm vụ cho học sinh khả năng độc thoại để trình bàycác bài nói thuộc thể loại khác nhau Trong thực tế ít bàitập làm văn nói thành công, thờng học sinh không chịu nóihoặc bắt buộc phải nói thì học sinh đọc lại, đọc bài đãchuẩn bị, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên:Học sinh nói cả bài các em không thể nói đợc, cách bố trílớp học, cách tiến hành giờ học không tạo hứng thú nhu cầunói của học sinh…
Muốn học sinh làm đợc một bài văn hay theo đúngnghĩa là một văn bản sản sinh, một nhân cách có sáng tạothì trớc hết giáo viên phải dạy tốt Trên cơ sở nắm vững nộidung chơng trình, ngời giáo viên truyền đạt nội dung trithức đến học sinh và bằng sự truyền đạt đó mà tốt chứccho học sinh tiến hành hoạt động học để chiếm lĩnh trithức Nh vậy giáo viên cần dạy thế nào để học sinh làm bàitốt, biến quá trình dạy học của giáo viên thành quá trìnhhọc của học sinh Điều này đòi hỏi giáo viên phải có trình
độ s phạm lành nghề, luôn tìm tòi sáng tạo và đổi mới
ph-ơng pháp dạy học một cách tích cực
Việc dạy học theo tinh thần đổi mới phơng pháp, tíchcực hoá hoạt động của học sinh đòi hỏi giáo viên phải quantâm đến vấn đề giúp học sinh thực hiện các nhiệm vụhọc tập tức là giáo viên phải quan tâm đến vấn đề quátrình làm ra sản phẩm chứ không chỉ là quan tâm đếnsản phẩm (đáp án) nghĩa là giáo viên phải hớng dẫn, gợi mởdẫn dắt để học sinh tự làm bài tập, tự tìm ra kiến thực
Trang 4mới
Hiện nay bản thân tôi còn rất bỡ ngỡ và khó khăn khi dạyphân môn Tập làm văn lớp 3 sách giáo khoa mới đặc biệt làviệc dạy học theo tinh thần quan tâm đến việc tổ chức h-ớng dẫn cho các con làm bài tập
Để đạt đợc mục tiêu giáo dục mà Đảng đề ra và xuấtphát từ các lý do trên Tôi đã Quyết định chọn đề tài: “Tổchức hớng dẫn cho học sinh làm bài tập trong Tập làm vănlớp 3: bài Tập làm văn tuần 14” làm đề tài nghiên cứu củamình
II- Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
1) Mục đích nghiên cứi:
Việc nghiên cứu đề tài “Tổ chức hớng dẫn cho học sinhlàm bài tập trong giờ làm văn lớp 3, bài Tập làm văn tuần14” chơng trình 2000 nhằm giúp học sinh có khả năngphân biệt nhận biết các kiểu bài Tập làm văn trong tuần
Từ đó nhằm nâng cao chất lợng, hiệu quả dạy và học giờTập làm văn ở trờng tiểu học” thực hiện mục tiêu giáo dục
đề ra:
Đào tạo cong ngời phát triển toàn diện
2) Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt đợc mục tiêu trên thì đề tài đặt ra cho ngờigiáo viên những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
2.1 Tìm hiểu mục đích, phân loại các bài Tập làm văncủa bài Tập làm văn tuần 14
2.2 Tìm hiểu mối liên quan giữa bài Tập làm văn với cácbài học khác trong tuần
2.3 Tìm hiểu những khó khăn của học sinh khi tìmhiểu bài tập
2.4 Đa ra đáp án cho từng bài
2.5 Trình bày quy trình, từng thao tác học sinh thựchiện để hoàn thành bài tập
Trang 5III- Đối tợng nghiên cứu:
3.1 Đối tợng học sinh lớp 3- chơng trình và sách giáo khoacho môn Tập làm văn lớp 3 trọng tâm là hệ thống bài tập 3.2 Việc học và dạy thực nghiệm phân môn Tập làm vănB- Giải quyết vấn đề
Chơng I: Những cơ sở thực hiện đề tài này
I- Vấn đề đổi mới phơng pháp dạy học Tiếng việt
Sự biến đổi của nền kinh tế và xã hội nớc ta trong giai
đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá theo đờng lối Đại hội
Đảng lần thứ VIII và IX vừa tạo điều kiện vừa đòi hỏi nhà ờng phải nâng cao chất lợng giáo dục và đổi mới phơngpháp dạy học, trong đó có môn Tiếng việt
tr-Phơng pháp dạy học là cách thức, là con đờng của tổ hợphoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinhnhằm thực hiện mục đích đề ra đó là hệ thống tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo và hoạt động sáng tạo học sinh cần chiếmlĩnh
Phơng pháp dạy học phụ thuộc vào nội dung dạy học Nộidung dạy học thay đổi kéo theo phơng pháp dạy học cũngthay đổi chính vì vậy khi dạy học ngời giáo viên phải sửdụng nhiều phơng pháp phù hợp với nội dung bài học Nộidung bài học phải đảm bảo tính cơ bản và tính vừa sứctrong đó tính cơ bản là cơ sở Ban đầu là nền móng choquá trình lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo ởhọc sinh tiểu học, phơng pháp dạy học còn phụ thuộc vào
đặc điểm tâm sinh lý của ngời học
Vậy đổi mới phơng pháp dạy học thực chất là tìm cáchchuyển hoá những thành tựu nhất của khoa học kỹ thuật
và khoa học giáo dục và thực tiễn dạy học Một vấn đề nhvậy đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ từ nội dung, phơng phápdạy học đến phơng tiện, hình thức tổ chức dạy học
Tinh thần cơ bản của dạy học theo t tởng công nghệ giáo
Trang 6dục là hớng tới xác lập một quy trình (công nghệ) dạy học
để tổ chức, điều khiển, kiểm soát nó về phơng pháp, đó
là tổ chức làm trong giờ học chuyển cách dạy học thầygiảng, trò nghi nhớ thành thầy tổ chức việc làm, trò thựchiện Giờ học lúc này sẽ đợc cấu thành từ một tổ hợp nhiệm
vụ và bài tập
Giáo viên phải nắm chắc mục đích của các nhiệm vụ
và bài tập này, biết cách giải quyết chúng một cách chínhxác, nắm đợc trật tự các thao tác cần tiến hành để hớngdẫn học sinh Công việc của thầy lúc này là ra nhiệm vụ, h-ớng dẫn học sinh thực hiện các nhiệm vụ và kiểm tra đánhgiá việc thực hiện các nhiệm vụ của học sinh Nhiệm vụ đ-
ợc giáo viên trình bày ngắn gọn, rõ ràng, chính xác Nhiệm
vụ phải đợc xây dựng sao cho trật tự Thực hiện phải đợctrải dài theo trình tự thời gian, chia ra từng thao tác Giáoviên phải dành thời gian thích hợp để kiểm tra, đánh giákết quả cuối cùng Đây là khâu rất quan trọng vì nó vừa cótác dụng kích thích hứng thú học tập của học sinh, vừa đa
ra mẫu lời giải đúng
Để tổ chức hệ thống việc làm cần phải trải qua quátrình học tập theo tính tuyết và biết chia cắt, nhóm gộp
đúng lúc
Nhiều giáo viên tiểu học khi giao nhiệm vụ cho học sinh
đã bỏ qua quá trình Họ không biết đặc mình vào vị trí
đứa trẻ 6-11 tuổi để thấy đợc những khó khăn của họcsinh Họ không lý giải đợc mình đã làm nh thế nào dờng
nh “Lập tức” có kết quả, không có quá trình lên lớp giaonhiệm vụ, chờ kết quả, không hớng dẫn, không kiểm soát,kiểm tra, sửa chữa, đây là cách dạy cần phải phê phán
Để đạt đợc kết quả tốt trong dạy học chúng ta cần nắmvững nội dung bài dạy, đổi mới phơng pháp dạy học mộtcách tích cực “Lấy học sinh làm trung tâm” phải tổ chức
Trang 7vận dụng linh hoạt các phơng pháp dạy khác nhau để giờhọc đỡ nhàm chán, khô cứng thuộc về khả năng s phạm củacác giáo viên Chúng ta cần phản đối quan niệm sai lầm:Một giáo viên có thể dạy hay trong khi năng lực chuyên mônlại yếu Song có những giáo viên năng lực chuyên môn tốtnhng cha chắc đã dạy hay Nói nh nhà giáo dục vĩ đại ngờiSeeJA ComenxKi “Dạy học là một nghệ” vấn đề là ở chỗ
sự vận dụng, chuyển hoá các phơng pháp của mỗi giáo viên
đem tới giỏi gaign một hiệu quả và năng suất cao Không có
hệ thống phơng pháp dạy học mẫu nào mà tối u mà điềucần thiết là tính sáng tạo của ngời giáo viên
II- Mục đích của sách giáo khoa Tiếng việt tiểu học mới:
Đất nớc đi lên cùng với sự phát triển loài ngời về mọi mặttrong đó có giáo dục (Chiếm u thế) đã đóng góp một phầnkhông nhỏ Vì vậy Đại hội lần thứ VIII và IX đã Quyết định
đổi mới nội dung phơng pháp dạy học, trong đó có môntiếng viện mà chơng trình Tiếng việt gồm nhiều phânmôn, trong đó có phân môn Tập làm văn chiếm u thếlĩnh hội mọi kiến thức trong các môn để tạo ra yếu tố đầy
đủ trong giao tiếp vì thế, đánh giá chất lợng môn Tập làmvăn thông qua bài làm văn Để làm đợc một bài văn nóihoặc viết ngời làm phải sử dụng cả 4 kỹ năng: Nghe, nói,
đọc, viết và phải vận dụng các kiến thức tiếng việc Trongquá trình vận dụng thì các kỹ năng và kiến thức đợc từngbớc nâng cao lên Nh vậy phân môn Tập làm văn đã gópphần hoàn thiện mục tiêu quan trọng của việc dạy học nhất
là trong giao tiếp
Theo điều lệ 23- 1998 giáo dục tiểu học nhằm giúp họcsinh hình thành những cơ sở Ban đầu cho sự phát triển
đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản góp phần hình thành nhân cáchcon ngời Việt Nam xã hội chủ nghĩa bớc đầu xây dựng t
Trang 8cách và trách nhiệm công dân chuẩn bị cho học sinh tiếptục trung học cơ sở hoặc đi vào cuộc sống lao động gópphần làm cho dân giàu nớc mạnh xẫ hội công bằng và vănminh Nh vậy, giáo dục trong nhà trờng hiện nay là phải Đàotạo con ngời “Đa năng” tức là con ngời chủ động, tích cực,sáng tạo, tìm kiếm phát huy cái mới
Từ những việc xác định mục tiêu giáo dục tiểu học BộGiáo dục Đào tạo đã vạch ra kế hoạch giáo dục đối với mônhọc và hoạt động giáo dục: Đảm bảo dạy đủ số môn học vàhoạt động bắt buộc chủ động lựa chọn, cập nhật nội dungdạy học, đa nội dung giáo dục địa phơng vào phân bốthời lợng dạy các môn học bắt buộc và nội dung dạy học.Qua đó xây dựng chơng trình theo cấu trúc hai giai đoạnhọc tập Giai đoạn lớp 1,2,3 và giai đoạn lớp 4-5 Trong cácgiai đoạn thì môn tiếng việc là môn bắt buộc không thểthiếu đợc đối với học sinh và đối với mục tiêu môn học cụthể là môn Tiếng việt nói chung
Hình thành và phát triển ở học sinh kỹ năng sử dụngTiếng việt (đọc, viết, nghe, nói) và cung cấp những hiểubiết về Tiếng việt nhằm từng bớc giúp các em làm chủ công
cụ ngôn ngữ để học tập trong nhà trờng- Rèn luyện kỹnăng giao tiếp một cách đúng đắn mạch lạc, tự nhiên, tựtin trong các môi trờng xã hội thuộc phạm vi hoạt động củalứa tuổi và để tiếp tục học lên cấp học cao hơn
Thông qua việc dạy Tiếng việt và sử dụng Tiếng việt rènluyện các thao tác t suy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán
đoán…) cho học sinh
Cung cấp những hiểu biết đơn giản về xã hội, tự nhiên
và con ngời, về văn hoá, văn học Việt Nam và nớc ngoài.Bồi dỡng tình yêu cái đẹp, cái thiện lẽ phải và sự côngbằng trong xã hội, tình yêu và thói quen giữ gìn sự giàu
đẹp của Tiếng việt
Trang 9- Góp phần hình thành nhân cách con ngời Việt Namhiện đại có tri thức, thấm nhuần truyền thống tốt đẹp củadân tộc a chuộng lối sống lành mạnh, ham thích làm việc
và biết rèn luyện khả năng thích ứng với cuộc sống xã hộisau này
III- Các dạng bài Tập làm văn ở tiểu học:
Môn Tiếng việt ở tiểu học đợc coi là môn học chínhthức cơ bản và quan trọng nhất Dạy Tiếng việt là dạy chotrẻ có khả năng sản sinh văn bản Việc thực hiện quá trìnhnày đợc tạo bởi nhiều phân môn trong Tiếng việt, quantrọng nhất là phân môn Tập làm văn vì Tập làm văn có
đợc là nhờ sản phẩm của quá trình sản sinh văn bản Căn
cứ vào sản phẩm (Bài viết hay bài nói) và hình thức tạo rasản phẩm ngời ta chia các bài Tập làm văn làn 2 dạng: Tậplàm văn miệng và bài Tập làm văn viết
độc thoại và mang phong cách khẩu ngữ Bài nói này cónhững đặc điểm riêng về nhiều mặt so với bài viết: Từcách triển khai ý tới cách lựa chọn từ ngữ, lựa chọn kiểucâu, từ cách sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ để phụ trợ chocác thủ thuật nhằm thu hút ngời nghe Bài Tập làm văn nóikhông phải là một bài Tập làm văn viết đợc nói lên, khôngphân biệt danh giới giữa việc nói một bài nói với việc nóimột bài viết
Tuy nhiên cũng không nên tuyệt đối hoá ranh giới giữabài nói và bài viết, việc làm hai bài văn này đều sử dụng
Trang 10một hệ thống kỹ năng nh nhau trong giai đoạn chuẩn bị,chỉ khác một số kỹ năng trong giai đoạn hiện thực hoá,
đặc biệt là sự khác nhau trong công việc lựa chọn từ ngữ,kiểm câu do sự chi phối của hai loại phong cách ngôn ngữkhác nhau
Dạng Tập làm văn nói rất có ích cho ngời học khi học bớcvào cuộc sống hoạc học lên cấp học trên khả năng độc thoạitheo một đề tài khả năng mỗi ngời thờng gặp trong cuộcsống, trong học tập nếu có khả năng độc thoại tốt ngờitrình bày sẽ tự tin và mạnh dạn khi làm việc và học tập ởtiểu học, tiết Tập làm văn miệng bắt đầu từ lớp 3 với kiểubài quan sát tranh và trả lời câu hỏi lên lớp 4,5 các tiếtmiệng đợc bố trí ở tất cả các kiểu bài Tập làm văn ở từng
đề trong năm học
Điều cần quan tâm là hầu hết các bài Tập làm vănmiệng cha mang lại kết quả nh mong muốn Do nhiềunguyên nhân trong đó đáng chú ý nhất là chúng ta cha tạo
ra đợc hoàn cảnh nói năng kích thức nhu cầu nói của họcsinh, không có nhu cầu và động cơ thì hành động nóinăng của các em trở nên gợng gạo, không tự tin
4.2 Tập làm văn viết;
Tập làm văn viết nhằm rèn luyện cho học sinh khả năngviết theo đề tài đã cho và thuộc các phong cách khác nhau.Trong hai dạng Tập làm văn , đây là dạng chúng ta cónhiều kinh nghiệm và thành công hơn
Bài Tập làm văn viết là kết tinh nhiều mặt của năng lực
sử dụng Tiếng việt của học sinh vì thế bài văn viết đợcdùng để đánh giá năng lực này qua mỗi kỳ, mỗi năm học vàqua kì thi tốt nghiệp, cấp học Ngay trong các kì thi họcsinh giỏi, bài văn viết vẫn là hình thức duy nhất để đánhgiá và định giải
Trong thực tế giảng dạy hiện nay, ngời ta thờng cho rằng
Trang 11tiết Tập làm văn miệng chuẩn bị cho tiết Tập làm vănviết Điều đó đúng không? nh trên đã trình bày mỗi mộtdạng bài có một yêu cầu và một nội dung, một sản phẩmkhác nhau Hai dạng bài này nhằm phát triển ở ngời họcnăng lực sử dụng Tiếng việt theo phong cách khẩu ngữhoặc phong cách bút ngữ, xét về mặt ngôn ngữ học, haiphong cách này có quan hệ với nhau những cũng có nhiều
điểm khác nhau đồng thời chúng hỗ trợ cho nhau bổ sungcho nhau Vì thế không thể quan niệm tiết Tập làm vănmiệng chuẩn bị cho việc làm bài trong tiết Tập làm vănviết Quan niệm nh vậy là cha hiểu đúng yêu cầu vànhiệm vụ của tiết Tập làm văn miệng, ảnh hởng đến ph-
ơng hớng giảng dạy hạn chế kết quả tiết dạy
IV- Tính chất của phân môn Tập làm văn
Phân môn Tập làm văn có 2 tính chất: Tính chất tổnghợp và tính sáng tạo
5.1 Tính chất tổng hợp của phân môn Tập làm văn : Đợcthể hiện trên các mặt:
Phân môn Tập làm văn sử dụng toàn bộ các kỹ năng đợchình thành và phát triển do nhiều phân môn khác củaTiếng việt đảm nhiệm (Kỹ năng viết chữ, kỹ năng viếtchính tả, kỹ năng đọc, kỹ năng viết…) khi sử dụng phânmôn Tập làm văn cũng góp phần phát triển và hoàn thiệnchúng
Phân môn Tập làm văn còn sử dụng kiến thức và kỹnăng do nhiều môn học khác nhau trong nhà trờng cung cấp(nh các hiểu biết do môn tự nhiên xã hội, môn đạo đức,môn hát nhạc, môn tập vẽ… cung cấp)
Ngoài ra phân môn Tập làm văn còn huy đông toàn bộvốn sống hoặc mảng vốn sống của học sinh có liên quan
đến đề tài Tả một cây đang ra hoa, hoặc quả, tả mộtcon mèo đang bắt chuột… học sinh không chỉ huy động
Trang 12vốn kiến thức qua các bài học và còn phải huy động tất cảtình cảm, ấn tợng, cảm xúc, những ký ức còn lu giữ về convật, về cây cối, có nh vậy bài văn mới trở nên sinh động và
có hồn Bài văn, kết quả học tập của phân môn Tập làmvăn phản ánh trình độ sử dụng Tiếng việt những tri thức
và hiểu biết đời sống của học sinh
5.2 Tính chất sáng tạo của phân môn Tập làm văn
Khi làm bài văn học sinh đã thực hiện một hoạt độnggiao tiếp Mỗi bài văn là sản phẩm không lặp lại của từnghọc sinh trớc đề bài Do đó có thể nói trong việc học làmvăn học sinh đợc chủ động tự do thể hiện cái “Tôi” củamình một cách rõ ràng, bộc lộ cái riêng của mình một cáchchọn vẹn Dạy Tập làm văn là dạy các em suy nghĩ riêng,tập sáng tạo, tập thể hiện trung thực con ngời của mình V- Sử dụng những hiểu biết về các dạng lời nói vào Tậplàm văn ở tiểu học:
ở tiểu học ngời ta chia Tập làm văn thành 2 loại: bài làmmiệng và bài làm viết Cơ sở của sự phân chia này là sựphân chia lời nói thành dạng khẩu ngữ và bút ngữ điềucần lu ý là cả hai dạng bài làm văn (bài làm miệng và bàilàm viết) chủ yếu thuộc dạng lời độc thoại Đó là sự bày tỏtình cảm, nhận xét, là sự trình bày các hiểu biết về vănhoá, về cuộc sống… của từng học sinh theo một đầu bài
Rõ ràng sự hiểu về đặc điểm và mối liên hệ giữa khâungữ và bút ngữ, lời độc thoại giúp ích nhiều cho ngời giáoviên tiểu học khi dạy làm văn
Chơng II
Những khó khăn của giáo viên và học sinh khi thực hiệndạy và học phân môn Tập làm văn theo sách giáo khoa mới.I- Những khó khăn của giáo viên:
Chơng trình Tiếng việt năm 2000 nhằm giúp học sinhhình thành cơ sở Ban đầu cho sự phát triển đúng đắn