Phân tích Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 về khả năng áp dụng tại huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định Ở Việt Nam công tác dân số kế hoạch hóa gia đình đã bắt đầu t ừ.năm 1961. Trải qua hơn 50 năm,...
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vữngcủa đất nước Công tác dân số trong giai đoạn hiện nay là một nội dung quantrọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần nângcao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống của từngngười, từng gia đình và toàn xã hội [15] Do vậy công tác dân số và kế hoạchhóa gia đình là nhiệm vụ của mỗi người, mỗi gia đình và mỗi xã hội cầnkhông ngừng nâng cao
Ở Việt Nam công tác dân số kế hoạch hóa gia đình đã bắt đầu từ năm
1961 Trải qua hơn 50 năm, bằng sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước cùng với
sự tự nguyện tham gia của toàn dân cùng với sự cố gắng không ngừng củanhững người trực tiếp thực hiện Chiến lược này, cho nên đến nay công tácdân số kế hoạch hóa gia đình đã đạt được những kết quả đáng kể Theo Tổngcục Thống kê về Điều tra biến động DS-KHHGĐ 2011 thì dân số nước ta đã
có 87,8 triệu người [16] Tỷ suất sinh đã giảm khá nhanh từ 3,8 con năm 1989xuống 2,33 con năm 1999 xuống còn 2,0 con vào năm 2010 và đang đạt mứcsinh thay thế nhưng chưa thực sự vững chắc Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránhthai tính đến năm 2011 là 78,2% Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm chậm, từ21,7% năm 2002 xuống 20,8% năm 2005, 16,7% năm 2007 và 15,1% năm
2010 [16]
Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Dân số và sứckhỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, với mục tiêu tổng quát là “Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trìmức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số và phân
bố dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước “ [15]
Trang 2Trong thời gian qua, Tỉnh Bình Định nói chung và huyện Vân Canh nóiriêng đã có nhiều cố gắng thực hiện Chiến lược Dân số và Kế hoạch hóa giađình và đã mang lại nhiều kết quả tốt, góp phần vào sự phát triển nền kinh tế -
xã hội của tỉnh cũng như của huyện
Tuy nhiên, Vân Canh là một huyện miền núi, một trong 62 huyệnnghèo Diện tích 800km2, dân số 24.661 người, mật độ dân số 31 người/km2.Gồm có ba dân tộc chính sinh sống, đó là dân tộc kinh (14.709 người), dântộc Bana (4.650 người), dân tộc Chăm (5.157 người) [9] Đồng bào dân tộcthiểu số sinh sống ở điều kiện địa hình núi cao, độ dốc lớn, thời tiết khắcnghiệt, phần lớn là gia đình nghèo, phong tục tập quán còn lạc hậu đã ảnhhưởng không nhỏ đến việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình [12] Trongnhững năm gần đây tỷ lệ sinh con thứ ba giảm chậm và không ổn định:12,27% (2009); 15,17% (2010); 11,51% (2011) [17], [18], [19] Đồng thời,trước những yêu cầu ngày càng cao của Chương trình, công tác tổ chức thựchiện kế hoạch hóa gia đình cũng còn nhiều thách thức Xuất phát từ những lý
do nêu trên, cũng như góp phần hoàn thành mục tiêu Chiến lược Dân số vàSức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ, chúng tôi
tiến hành thực hiện chuyên đề: “Phân tích Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 về khả năng áp dụng tại huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định “ nhằm hai mục tiêu sau:
1 Phân tích các mục tiêu của Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 về khả năng áp dụng tại huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định trong thời gian tới.
2 Đề xuất các giải pháp thực hiện theo tình hình thực tế của địa phương.
Trang 3Chương 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA CỦA CHƯƠNG TRÌNH DÂN SỐ
-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
Năm 2002, Vụ dân số Liên hiệp quốc dự báo dân số thế giới năm 2050
sẽ đạt 8,9 tỷ người, nhưng theo một báo cáo mới đây gửi cho 47 thành viêncủa Ủy ban Dân số và Phát triển Liên hiệp quốc, dân số thế giới sẽ đạt 7 tỷngười vào năm 2012 và 9 tỷ người vào năm 2050
Dân số Việt Nam cho tới những năm cuối thế kỷ XIX, sự gia tăng rấtchậm chạp Từ đầu thế kỷ XX trở lại đây tốc độ gia tăng dân số nhanh Nếuchỉ tính từ năm 1975 đến 1990 số dân nước ta tăng thêm khoảng 18,6 triệungười, trong khi đó ở Châu Âu chỉ tăng thêm 20 triệu Như vậy sự bùng nổdân số ở nước ta đã diễn ra rất dữ dội Dân số Việt Nam năm 1999 khoảng76,3 triệu người, đứng thứ mười ba trên thế giới, đến năm 2009 là 85.846.997người [16]
Quy mô dân số quá lớn sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế xã hội,hủy hoại tài nguyên, suy thoái môi trường … và đe dọa sự sống còn củacon người
Con người là chủ thể của mọi hoạt động trong xã hội Mọi hoạt độngđều có vai trò của con người tham gia, con người sản xuất ra của cải vật chất,đồng thời chính con người trở lại tiêu thụ những sản phẩm đó Nếu kế hoạchdân số bị phá vỡ, khả năng tiêu thụ lớn hơn nhiều lần so với sản xuất thì sẽkéo theo hàng loạt các khó khăn khác cho nền kinh tế - xã hội, đó là: sự mấtcân đối giữa tài nguyên đất đai, giữa nhu cầu học hành, chăm sóc sức khỏe
…, sự rối loạn về trật tự xã hội, đặc biệt sự gia tăng dân số lớn sẽ là ngườibạn đồng hành của đói nghèo
Trang 4Dân số là đối tượng quản lý của mỗi quốc gia, nhà nước nào cũngkhông thể không đặt vấn đề dân số là động lực, mục tiêu của chính sách kinh
tế - xã hội, Ăngghen đã khẳng định: “ Xã hội nào làm được việc điều chỉnh sựsản sinh ra con người như điều chỉnh kinh tế thì mới lãnh đạo chủ động được
xã hội”
Dân số phù hợp với sự phát triển là yếu tố cơ bản để xóa đói, giảmnghèo, giảm tình trạng thất nghiệp, sử dụng ngày công lao động thấp, giảmsuy dinh dưỡng, giảm mù chữ, nâng cao trình độ học vấn, nâng cao vị thế củangười phụ nữ, nhất là phụ nữ người dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn,giảm rủi ro về môi trường, mở rộng dịch vụ y tế và xã hội, huy động đượcnguồn lực để đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, khoa học và côngnghệ và đảm bảo công bằng xã hội
Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011
-2020 dựa trên quan điểm [15]:
- Là một nội dung quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chấtlượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội;
- Giải quyết đồng bộ các vấn đề về dân số, sức khỏe sinh sản, tập trungnâng cao chất lượng dân số, cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phát huy lợithế của cơ cấu “dân số vàng”, chủ động điều chỉnh tốc độ tăng dân số và kiểmsoát tỷ số giới tính khi sinh;
- Giải pháp cơ bản để thực hiện công tác dân số, chăm sóc sức khỏesinh sản là sự kết hợp đồng bộ, hiệu quả giữa vận động, giáo dục, truyềnthông chuyển đổi hành vi, cung cấp dịch vụ dự phòng tích cực, chủ động,công bằng, bình đẳng và chế tài kiên quyết, hiệu quả đối với các đơn vị, cánhân hoạt động dịch vụ vi phạm các quy định về chẩn đoán và lựa chọn giớitính thai nhi;
Trang 5- Đầu tư cho công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản là đầu tư chophát triển bền vững, mang lại hiệu quả trực tiếp về kinh tế, xã hội và môitrường Tăng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước, tích cực tranh thủ các nguồnviện trợ và huy động sự đóng góp của nhân dân; ưu tiên nguồn lực cho vùngsâu, vùng xa, miền núi, vùng ven biển và hải đảo;
- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và chínhquyền; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; huy động sự tham gia của toàn xãhội; tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy để thực hiện có hiệu quả côngtác dân số, sức khỏe sinh sản
Đồng thời, Chiến lược Dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn
2011 - 2020 cũng đưa ra mục tiêu tổng quát: Nâng cao chất lượng dân số, cảithiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốtnhững vấn đề về cơ cấu dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [15]
1.2 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
Kế hoạch hóa gia đình là chủ động có con theo ý muốn của các cặp vợchồng, nhằm điều chỉnh số con và khoảng cách giữa các lần sinh Không đểphải dẫn đến phá thai, hoặc đẻ quá nhiều con, đẻ quá dày, đẻ khi còn quá trẻhoặc đẻ khi đã nhiều tuổi KHHGĐ không chỉ bao hàm việc lựa chọn sử dụngbiện pháp tránh thai mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng để có thai
và sinh con (trong trường hợp khuyến khích sinh) Thực hiện KHHGĐ sẽmang lại lợi ích kinh tế, sức khỏe, học hành của con cái, góp phần ổn địnhquy mô dân số, xã hội phồn vinh… Vì vậy, mỗi cá nhân, mỗi cặp vợ chồngcần thực hiện KHHGĐ Để thực hiện KHHGĐ, đối tượng cần được thông tinđầy đủ về các phương tiện tránh thai, lựa chọn và sử dụng đúng cách biệnpháp tránh thai phù hợp
1.2.1 Trên thế giới
Trang 6Hiện nay dân số thế giới tăng lên với tỷ lệ chưa từng có, năm 2009,dân số thế giới là 6,8 tỷ người, tăng 83 triệu so với năm 2008 Dân số thế giớiđạt 7 tỷ người vào cuối năm 2011, với hầu hết mức tăng diễn ra tại các quốcgia nghèo nhất Từ nay đến năm 2050, dân số các nước kém phát triển ở ChâuPhi, Châu Á, Mỹ La Tinh và vùng Caribe dự kiến sẽ tăng thêm 50%, trong đó
ở những quốc gia nghèo nhất, dân số sẽ tăng gấp đôi
Năm 2011 TFR của thế giới là 2,5 con Nếu chia theo mức độ pháttriển của các nước thì TFR của nhóm nước phát triển là 1,7 con, trong khinhóm nước kém phát triển là 4,5 con, còn nhóm nước đang phát triển là 2,6-3,0 con Như vậy, khoảng cách về mức sinh giữa các nước phát triển và cácnước đang phát triển là rất lớn Trong khi nhóm các nước đang phát triển vàkém phát triển chưa đạt mức sinh thay thế thì đối với các nước phát triển mứcsinh đã dưới mức sinh thay thế rất nhiều Nếu chia theo khu vực địa lý thì khuvực có TFR thấp nhất là châu Âu với 1,6 con và cao nhất là châu Phi với 4,7con
Tại khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á, do thực hiện tốt chính sáchdân số nên một số nước đã thu được kết quả tốt
- Ở Hàn Quốc: Năm 1962 bắt đầu thực hiện chương trình DSKHHGĐ,năm 1970 bình quân mỗi phụ nữ trung bình sinh 4,7 con thì năm 1997 chỉ còn1,7 con và năm 2011 là 1,2 con
- Ở Trung Quốc: Năm 1962 bắt đầu thực hiện chương trìnhDSKHHGĐ, năm 1970 bình quân mỗi phụ nữ sinh 5,8 con thì đến năm 1997chỉ còn 1,8 con, đến 2011TFR đã giảm còn 1,5 con
- Ở Thái Lan: 1970 bắt đầu thực hiện chương trình DSKHHGĐ, năm
1970 bình quân mỗi phụ nữ sinh 5,1 con thì đến năm 1997 chỉ còn 1,9 con,trong giai đoạn 2000-2005 là 1,93 con và 2011 là 1,6 con
Trang 7- Ở Indonesia: Năm 1964 bắt đầu thực hiện chương trình DSKHHGĐ,năm 1970 bình quân mỗi phụ nữ sinh 5,2 con thì đến năm 1997 còn 2,9 con
và 2,35 con trong giai đoạn 2000-2005, đến 2011 là 2,3 con
1.2.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và NhàNước ra đời từ những năm 1961, công tác KHHGĐ đã có những chuyển biếnđáng kể Mức sinh giảm nhanh và tiến đến mức sinh thay thế
Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) tới 6,79con vào năm 1960, tức là tương ứng với mức sinh tiềm tàng Sau 14 năm thựchiện việc sinh đẻ đã có hướng dẫn, TFR xuống còn 5,2 con vào năm 1975,đến năm 1995 TFR giảm còn 3,95 con Đặc biệt kể từ khi thực hiện Nghịquyết Trung ương 4 khóa VII, TFR giảm xuống rất nhanh còn 3,1 con vàonăm 1994, 2,3 con vào năm 1999, 2,25 con vào năm 2002 và 2,23 con vàonăm 2004
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 thì trong những năm đầucủa thập kỷ qua, tổng tỷ suất sinh có tăng và giảm với biên độ dao động nhỏ(dưới 6%), nhưng từ năm 2006 đến nay xu thế giảm sinh là khá vững chắc và
đã đạt dưới mức sinh thay thế
Đây được coi là thành công quan trọng trong việc thực hiện mục tiêuđầu tiên của Chiến lược Dân số - Kế hoạch hóa gia đình 2001 - 2010 Thànhcông này không những giúp Việt Nam giảm được tốc độ gia tăng dân sốnhanh mà còn là cơ sở để tạo ra một bước chuyển đổi có tính căn bản tronglĩnh vực sinh sản, chuyển từ sinh sản tự nhiên, với mức sinh rất cao sang sinh
đẻ tự chủ hay còn gọi là “sinh đẻ có kế hoạch”, với mức sinh hợp lý, tiến tớiđạt mức sinh duy trì trạng thái cân bằng của dân số
Sự khác biệt về mức sinh giữa thành thị và nông thôn, năm 2009 bìnhquân mỗi phụ nữ nông thôn có nhiều hơn 0,3 con so với phụ nữ thành thị.Nguyên nhân của tình trạng này có thể là do tâm lý thích đông con nhiều cháu
Trang 8vẫn còn đang khá phổ biến ở một số khu vực nông thôn và khả năng tiếp cậndịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình ở nôngthôn, đặc biệt vùng sâu, vùng xa còn kém hơn ở thành thị, khiến một số phụ
nữ vẫn còn gặp khó khăn trong việc hạn chế mang thai và sinh con ngoài ýmuốn Ngoài ra tỷ lệ chết sơ sinh và chết trẻ em ở thành thị thấp hơn ở nôngthôn, cũng tác động làm giảm nhu cầu sinh thay thế ở khu vực này
TFR, Trong 10 năm 1999 - 2009, của khu vực nông thôn giảm khángoạn mục, từ 2,57 con/1 phụ nữ xuống còn 2,14 con/1 phụ nữ, gần đạt mứcsinh thay thế Trong khi con số đó của khu vực thành thị gần như không thayđổi đáng kể xung quanh 1,80 con/1 phụ nữ Trong 10 năm qua chất lượngcuộc sống được nâng cao và cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinhsản được cải thiện Việc cung cấp thông tin về hiệu quả của lợi ích sinh ít conđối với phụ nữ ở khu vực nông thôn được coi là một trong những nguyênnhân cơ bản góp phần thu hẹp khoảng cách khác biệt về mức sinh giữa thànhthị và nông thôn
Điều này một lần nữa khẳng định sự thành công của chương trình dân
số - kế hoạch hóa gia đình và rất nhiều chương trình, chiến dịch chăm sóc sứckhỏe cộng đồng, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe sinh sản ở khu vực nông thôntrong những năm qua Dẫu vậy, mức sinh ở khu vực nông thôn vẫn còn caohơn khá nhiều so với ở thành thị, nên trong thời gian tới vẫn cần nhiều nỗ lựctrong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình kết hợp vớiviệc đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội hướng về khu vực nông thôn nhiềuhơn nữa để giảm bớt khoảng cách sinh giữa hai khu vực, nhằm có được thànhcông hơn nữa trong công cuộc phát triển nông thôn nói chung, và trong côngtác giảm sinh và chăm sóc sức khỏe nói riêng
Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên ở Việt Nam từ năm 2001 đến năm
2010 trong cả nước giảm từ 21,7% năm 2002 xuống 20,8% năm 2005, 16,7%năm 2007 và 15,1% năm 2010 [16] Trải qua một thập kỷ, tỷ lệ sinh con thứ 3
Trang 9trở lên ở nông thôn cao hơn 2 lần so với ở thành thị nhưng tỷ lệ này ở nôngthôn có xu hướng giảm nhanh so với khu vực thành thị Hay có thể nói, tỷ lệphụ nữ thôi không sinh con sau khi có từ 1 đến 2 con ở cả hai khu vực thànhthị và nông thôn đều tăng lên, góp phần tích cực làm giảm mức sinh ở ViệtNam, đưa nước ta trở thành một nước đạt mức sinh dưới mức thay thế Xuhướng này giúp Việt Nam có cơ hội ổn định dân số, tạo thời cơ thuận lợi choViệt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững [16].
1.2.3 Tại tỉnh Bình Định
Trong những năm qua, tỉnh Bình Định đã có nhiều cố gắng trong việcthực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 Với phươngchâm đa dạng hóa các biện pháp tránh thai, từng bước đưa dịch vụ KHHGĐđến gần người dân, đảm bảo an toàn, thuận tiện và dễ tiếp cận, chương trìnhDSKHHGĐ đang tiếp tục triển khai có hiệu quả trên diện rộng
Theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở của Bình Định, dân sốtỉnh Bình Định vào thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2009 là 1.446.465 người Từnăm 1999 đến năm 2009 dân số toàn tỉnh tăng 25.738 người, bình quân mỗinăm tăng 2.574 người Tốc độ tăng dân số năm 2009 so với năm 1999 là1,8%, bình quân thời kỳ 1999-2009 tăng 0,2%/năm, đây là thời kỳ có tỷ lệtăng dân số thấp nhất trong vòng 30 năm qua Các tỷ lệ này của thời kỳ 1979-
1989 là 8,3% và 0,8%/năm; thời 1989-1999 là 17,3% và 1,6%/năm Ba huyệnmiền núi có kinh tế và văn hóa kém phát triển, người dân tộc thiểu số kháđông (chiếm 36,2% tổng dân số ba huyện), mức sinh cao, dân số ổn định.Năm 2009, tuy dân số chỉ chiếm 5,2% tổng số dân toàn tỉnh, nhưng có tốc độtăng 9,7% và tỷ lệ tăng bình quân cao nhất, đạt 0,9% Trong thời kỳ 1999-
2009, người Bana, người Chăm có dân số ổn định, mức xuất cư ra khỏi tỉnhkhông đáng kể và có mức sinh khá cao nên người Bana có tốc độ tăng bìnhquân hàng năm 1,8%, người Chăm tăng 2% [9]
Trang 10Tổng tỷ suất sinh của tỉnh đã giảm mạnh, từ 2,67 con/phụ nữ năm 1999xuống còn 2,22 con/phụ nữ năm 2009 Tuy nhiên, có sự khác biệt rất lớn vềmức sinh giữa thành thị và nông thôn Năm 2009 ở khu vực thành thị là 1,89con/phụ nữ thấp hơn nhiều so với 2,39 con/phụ nữ ở khu vực nông thôn.Nguyên nhân của sự khác biệt này đó là: ở khu vực thành thị tiếp cận cácnguồn thông tin dễ dàng, có nhận thức tốt hơn về lợi ích của gia đình sinh ítcon, các cơ sở y tế cung cấp các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình tốt hơn giúp
họ tránh mang thai và sinh con ngoài ý muốn [11]
Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên của tỉnh giảm từ 24,86% năm 2006xuống còn 19,18% năm 2009 Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên ở nôngthôn cao gần gấp hai lần ở khu vực thành thị (21,71% so với 12,27%) Nhưng
so với năm 2006, ở khu vực nông thôn lại có xu hướng giảm nhanh hơn ở khuvực thành thị (từ 29,75% xuống còn 21,7%) Hay có thể nói, tỷ lệ phụ nữ thôikhông sinh con khi đã có từ một đến hai con ở cả khu vực thành thị và nôngthôn đều tăng lên góp phần tích cực làm giảm mức sinh của tỉnh [11]
Đến năm 2010, theo Báo cáo công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đìnhnăm 2010 và Kế hoạch năm 2011 của Sở Y tế tỉnh Bình Định thì TFR toàntỉnh là 2,22 con, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại là 80,1%, tỷ lệsinh con thứ 3 giảm còn 16,6%, nhưng vẫn còn cao ở các huyện miền núi
Bảng 1.1 Kết quả thực hiện chỉ tiêu các biện pháp tránh thai
năm 2010
Thực hiện Năm 2010
Tỷ lệ % so sánh với kế hoạch
Thuốc uống tránh thai (người) 25.000 26.630 104,4Thuốc tiêm tránh thai (người) 12.500 11.193 90,0
Tổng các biện pháp tránh thai 88.900 92405 103,9
Trang 11Nguồn: Báo cáo công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình năm 2010 và Kế hoạch năm 2011 của Sở Y tế tỉnh Bình Định.
1.2.4 Tại huyện Vân Canh
Huyện Vân Canh là một huyện miền núi, nằm về phía Tây Nam tỉnhBình Định Phía Nam giáp huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, phía Tây giáphuyện Kongchoro, tỉnh Gia Lai, phía Bắc giáp huyện An Nhơn và huyện TâySơn, phía Đông giáp huyện Tuy Phước và Thành phố Quy nhơn Diện tích:800km2 Mật độ dân số 31 người/km2
Theo Kết quả tổng hợp Điều tra toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở01/4/2009 của Chi cục thống kê huyện Vân Canh:
- Dân số: tính đến 0 giờ ngày 01/4/2009 là 24.661 người, trong đó nữ12.501 người, nam 12.160 người Tỷ lệ tăng dân số thời kỳ 1999-2009 là15,4%, tăng dân số bình quân hàng năm là 1,4% Tổng tỷ suất sinh năm 2009
Trang 1212.Ba Na 13.Chăm
15 Cơ Ho
17 Sán Dìu
18 Hrê21.Thổ(4)22.Xtiêng44.Chứt
24,661
14,709
9803514111
4,650 5,157
315211
12,160
7,238
441211311-
2,309 2,532
3131-1
12,501
7,471
53914-1 1
2,341 2,625
-211-
-Nguồn: Kết quả tổng hợp điều tra toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở của Chi cục Thống kê huyện Vân Canh.
- Tôn giáo phần lớn là không tôn giáo (22.871 người), tiếp theo là Phật giáo (1.049 người)
Bảng 1.3 Dân số chia theo tôn giáo và giới tính:
Trang 13513205156611,280
12,501
536218150611,591
Nguồn: Kết quả tổng hợp điều tra toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở của Chi cục Thống kê huyện Vân Canh
- Đồng bào dân tộc thiểu số sống phân bố rải rác theo vùng nhỏ, cách
xa nhau với điều kiện địa hình núi cao, độ dốc lớn, giao thông phần lớn chưađược thông suốt, đời sống vật chất còn nhiều khó khăn nên đã tác động lớnđến phát triển giáo dục và chăm sóc sức khỏe của cộng đồng [12]
Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trong thời gian qua đã triểnkhai và có nhiều cố gắng trong tổ chức thực hiện, từng bước đã nâng cao chấtlượng dịch vụ và đa dạng hóa Năm 2011, theo Báo cáo tổng kết công tácnăm 2011 của Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình huyện Vân Canhtrong ba năm gần đây thì các chỉ tiêu hầu hết đều đạt và vượt so với kế hoạch.Tuy nhiên so với toàn tỉnh thì một số chỉ tiêu chưa đạt
+ Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại là 108,5% (2009);101,2% (2010); 91,18% (2011) [17], [18], [19]
+ Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên là 12,27% (2009); 15,17% (2010);11,51% (2011) [27], [28], [29]
1.3 HƯỚNG ĐẾN TƯƠNG LAI
Dưới đây là những nét chính của Chiến lược DS-SKSS Việt Nam giaiđoạn 2011-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số2013/QĐ-TTg ngày 14 tháng 11 năm 2011
Trang 141.3.1 Những vấn đề dân số và sức khỏe sinh sản
1.3.1.1 Chất lượng dân số
Chất lượng dân số còn hạn chế, chỉ số phát triển con người của nước tatuy được cải thiện dần, nhưng vẫn ở mức thấp Sức khỏe và thể lực của ngườiViệt Nam còn hạn chế, đặc biệt là chiều cao, cân nặng và sức bền
Tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi ở một số khu vực còn cao Cơ cấu bệnhtật có xu hướng chuyển dần từ các bệnh nhiễm khuẩn là chủ yếu sang cácbệnh rối loạn chuyển hoá, di truyền và hậu quả của tai nạn thương tích Tìnhtrạng trẻ em thừa cân, rối nhiễu tâm trí, tự kỷ, tiểu đường có xu hướng giatăng
Nước ta có 16 dân tộc có dân số dưới 10.000 người với nhiều vấn đềcần quan tâm Một số bệnh như sốt rét, bướu cổ, phong chiếm tỷ lệ cao ởvùng đồng bào dân tộc ít người Một số dân tộc có nguy cơ suy thoái do tảohôn, kết hôn cận huyết thống còn phổ biến Kiến thức và kỹ năng chăm sócBMTE còn nhiều hạn chế dẫn đến tỷ lệ vô sinh, tỷ lệ chết ở trẻ em còn cao.Mức độ hưởng thụ các dịch vụ y tế, DS và SKSS, dịch vụ xã hội cơ bản thấp
Lạm dụng và sử dụng chất gây nghiện như thuốc lá, rượu bia, ma túy
và những vấn đề căng thẳng về tâm lý bao gồm cả tự tử, gây thương tích, viphạm pháp luật ngày càng trở nên nghiêm trọng đối với giới trẻ
1.3.1.2 Sức khoẻ sinh sản
Tình trạng sức khỏe bà mẹ còn hạn chế Tai biến sản khoa và tử vong
mẹ tuy đã giảm, nhưng còn có sự khác biệt giữa các vùng, miền Khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau sinh, chăm sóc sơ sinh còn hạn chế ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa; không có cán bộ được đào tạo đỡ đẻ còn khá phổ biến ở một số vùng đồng bào dân tộc ít người Tỷ lệ thăm khám bà mẹ và trẻ sơ sinh sau đẻ còn thấp.
Cung ứng PTTT gặp khó khăn Những năm tới, do số phụ nữ bước vào
độ tuổi sinh đẻ tiếp tục tăng, nhu cầu sử dụng các BPTT, đặc biệt là cácBPTT
Trang 15sẽ tăng và luôn giữ ở mức cao Hầu hết PTTT phải nhập khẩu, trong khi nguồn quốc tế viện trợ PTTT không còn Nhà nước cần đầu tư hàng trăm tỷ đồng mỗi năm để mua PTTT.
Số trường hợp phá thai và vô sinh còn nhiều Tỷ lệ phá thai, kể cả phá thai ở thanh niên, vị thành niên còn cao Tình trạng phá thai lặp lại, phá thai không an toàn khá phổ biến Tỷ lệ vô sinh, nhất là vô sinh thứ phát khá cao, nhưng khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ cho người vô sinh còn hạn chế.
Tình trạng nhiễm khuẩn đường sinh sản khá phổ biến, bệnh lây truyền qua đường tình dục - HIV và ung thư đường sinh sản còn cao Việc khám, phát hiện, điều trị, theo dõi và tư vấn sau điều trị chưa được quan tâm Việc sàng lọc và phát hiện sớm ung thư đường sinh sản chưa được triển khai rộng rãi Sự liên kết hệ thống dịch vụ CSSKSS và phòng chống HIV còn hạn chế.
Tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV từ chồng và bạn tình có xu hướng tăng Sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục ở các nhóm đối tượng đặc thù có nhiều thách thức Quan hệ tình dục không an toàn, mang thai ngoài ý muốn và phá thai, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở VTN/TN có xu hướng tăng Hiểu biết, hành vi về SKSS, SKTD của VTN/TN còn nhiều hạn chế Kiến thức, thái độ và hành vi về DS/SKSS trong cộng đồng và ngay cả cán bộ y tế còn hạn chế Dịch vụ CSSKSS nam giới, người cao tuổi, người di cư chưa sẵn
có, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng Tình dục được coi là vấn đề
tế nhị và nhạy cảm và còn hạn chế thảo luận trên phương tiện thông tin đại chúng và trong các chương trình nghị sự Nhận thức về giới trong cộng đồng rất hạn chế, thiếu hiểu biết về ảnh hưởng của bạo lực tình dục tới SKSS,
SKTD của nạn nhân; thiếu hiểu biết về mối liên quan giữa lạm dụngchất gâynghiện và bạo hành giới; quan niệm lạc hậu về vai trò của nam và
nữ, phụ nữ thiếu hiểu biết về quyền
1.3.1.3 Cơ cấu dân số
Trang 16Dân số trong độ tuổi lao động (15-59 tuổi) tăng nhanh cả về tỷ trọng và
số lượng (khoảng 65 triệu người vào năm 2020) Đây là cơ hội cho phát triểnsong cũng tạo ra những thách thức lớn về giáo dục, đào tạo nghề, tạo việc làmcho người lao động, đặc biệt là thanh niên
Di cư diễn ra với cường độ ngày càng mạnh, đặc biệt là dịch chuyểnlao động giữa các vùng đòi hỏi phải tăng cường quản lý dân số, đổi mớiphương thức quản lý và đáp ứng nhu cầu dịch vụ xã hội cơ bản cho hàng triệungười di cư
Tỷ số giới tính khi sinh tăng nhanh và liên tục, năm 2011 đã lên tới111,9 Từ kinh nghiệm quốc tế, nếu không có giải pháp tích cực thì tỷ số này
có thể vượt trên mức 120 vào năm 2020 Tình trạng này sẽ tác động xấu đếntrật tự, an ninh xã hội, gây khó khăn trong việc xây dựng gia đình của các thế
hệ tương lai
Dân số Việt Nam đang trong quá trình già hóa, số lượng người cao tuổingày càng tăng, cùng với bối cảnh mức sinh thấp, quy mô gia đình nhỏ, chủyếu là gia đình hạt nhân gồm cha mẹ và con cái thì các loại hình chăm sóc,nuôi dưỡng người cao tuổi phù hợp ngày càng bức thiết
1.3.1.4 Quy mô, mật độ dân số và mức sinh
Năm 2011, nước ta có 87,8 triệu người (TCTK Điều tra biến độngDSKHHGĐ 2011), mật độ 260 người/km2 31 thuộc những nước có quy môdân số lớn và mật độ dân số rất cao Mặc dù Việt Nam đã đạt được mức sinhthay thế, nhưng dân số nước ta vẫn đang trong giai đoạn nhạy cảm với cácyếu tố tác động, chưa loại trừ được khả năng mức sinh tăng trở lại Mặt khác,
ở một số địa phương có mức độ đô thị hóa cao, mức sinh đã tương đối thấp,nếu tiếp tục thực hiện chính sách DSKHHGĐ như trước, sẽ có khả năng làmcho mức sinh giảm xuống quá thấp Để tránh những biến động bất lợi choviệc ổn định quy mô dân số ở mức phù hợp, có được cơ cấu dân số hợp lý vàkéo dài thời gian của cơ cấu “dân số vàng”, cầ phả duy trì mức sinh thấp, hợp
Trang 17lý và cần có chính sách linh hoạt, thích ứng với những diễn biến của mứcsinh.
1.3.1.5 Năng lực kế hoạch hóa, lồng ghép biến dân số
Dân số và phát triển có mối quan hệ chặt chẽ và tương hỗ lẫn nhau.Việc lồng ghép các biến dân số vào kế hoạch phát triển KT-XH là yêu cầukhách quan Tuy nhiên, việc lồng ghép các biến dân số của các bộ, ngành, địaphương vào kế hoạch phát triển KT-XH chưa thực sự tốt và chưa được quantâm đúng mức Điều này dẫn đến tình trạng vừa lãng phí vừa thiếu hụt trongđầu tư, phát triển KT-XH
1.3.2 Quan điểm, mục tiêu
1.3.2.1 Quan điểm:
1.3.2.1.1 Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011
-2020 là một nội dung quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chấtlượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội
1.3.2.1.2 Giải quyết đồng bộ các vấn đề dân số, sức khỏe sinh sản, tập trung
nâng cao chất lượng dân số, cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phát huy lợithế của cơ cấu “dân số vàng”, chủ động điều chỉnh tốc độ tăng dân số và kiểmsoát tỷ số giới tính khi sinh
1.3.2.1.3 Giải pháp cơ bản để thực hiện công tác dân số, chăm sóc sức khỏe
sinh sản là sự kết hợp đồng bộ, hiệu quả giữa vận động, giáo dục, truyềnthông chuyển đổi hành vi, cung cấp dịch vụ dự phòng tích cực, chủ động,công bằng, bình đẳng và chế tài kiên quyết, hiệu quả đối với các đơn vị, cánhân hoạt động dịch vụ vi phạm các quy định về chẩn đoán và lựa chọn giớitính thai nhi
1.3.2.1.4 Đầu tư cho công tác dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản là đầu tư
cho phát triển bền vững, mang lại hiệu quả trực tiếp về kinh tế, xã hội và môi