Thành tựu của sinh sản hữu tính có hỗ trợ ở Việt Nam Xã hội ngày càng phát triển, người phụ nữ càng lập gia đình muộn và tuổi bắt đầu mong con cũ
Trang 4PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài [4], [14]
Xã hội ngày càng phát triển, người phụ nữ càng lập gia đình muộn
và tuổi bắt đầu mong con cũng muộn hơn Sau 30 tuổi, buồng trứng của người phụ nữ bắt đầu suy giảm chức năng và khả năng có thai cũng giảm dần Sau 35 tuổi khả năng có thai giảm càng nhanh hơn và đến 40 tuổi, hơn 1/3 phụ nữ đã không còn khả năng có thai tự nhiên, chủ yếu
do sự suy giảm chức năng buồng trứng Ngoài ra, một số bệnh lý hoặc các phẫu thuật trên buồng trứng khiến buồng trứng suy giảm hoặc mất hẳn chức năng sớm hơn
Với kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, các phụ nữ bất hạnh trên có thể mang thai, sinh nở và làm mẹ bằng cách xin trứng của những người hiến tặng
Tỉ lệ vô sinh nam chiếm từ 30-40% trường hợp vô sinh, trong đó chủ yếu là thiểu năng tinh trùng Nhiều báo cáo trên thế giới cho thấy chất lượng tinh trùng của nam giới ngày càng giảm Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI) hiện nay là một kỹ thuật không thể thiếu ở các trung tâm hỗ trợ sinh sản Ở Việt nam, kỹ thuật này được thực hiện vào tháng 5/1998 và đứa bé đầu tiên ra đời vào tháng 2/1999 Việc đánh giá kết quả và tìm hiểu các yếu tố liên quan là cần thiết để góp phần củng cố chương trình và phổ biến kinh nghiệm
Trang 5Hơn 20 năm qua, thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) đã gặt hái rất nhiều thành công trong điều trị hiếm muộn do vòi trứng, hiếm muộn vô căn hoặc do chồng Tuy nhiên, tỉ lệ thành công của TTTON với nguyên nhân do chồng thấp hơn so với trường hợp tinh trùng chồng bình thường Nếu tinh trùng chồng có vấn đề, tỉ lệ TTTON chỉ đạt khoảng 20-30% (bình thường 60-70%) và khoảng 1/3 bệnh nhân hoàn toàn không có hiện tượng thụ tinh giữa tinh trùng và trứng Đa số các trung tâm TTTON đều có tiêu chuẩn nhất định cho tinh trùng khi nhận bệnh nhân làm TTTON (trên 0,5 triệu tinh trùng di động tốt sau rửa).
Do đó, nhiều cố gắng nhằm cải thiện tỉ lệ thụ tinh cho những trường hợp tinh trùng yếu đã được thử nghiệm trong những năm gần đây Năm
1991, Ng và cộng sự (Singapore) báo cáo trường hợp thành công đầu tiên bằng phương pháp tiêm tinh trùng vào khoang quanh noãn (SUZI) Năm 1992, Cohen và cộng sự (Mỹ) công bố trường hợp thành công đầu tiên bằng phương pháp tạo lỗ thủng nhân tạo ở zona pellucida (PZD) Tuy nhiên hai phương pháp nêu trên vẫn không làm tăng đáng kể tỉ lện thụ tinh ở những trường hợp tinh trùng chồng yếu Cũng vào năm 1992, phương pháp ICSI được giới thiệu sau một loạt những trường hợp thành công của Palermo (Bỉ) và cộng sự khi tiêm tinh trùng trưc tiếp vào bào tương trứng Từ đó đến nay, kỹ thuật ICSI đã không ngừng được cải tiến và áp dụng ngày càng rộng rãi Ở Mỹ, năm 1996, ICSI đã chiếm hơn 30% các chu kỳ hỗ trợ sinh sản Hiện nay tỉ lệ này có thể còn cao hơn ICSI là kỹ thuật hỗ trợ cho quá trình thụ tinh giữa tinh trùng và trứng in-vitro Khi điều trị với ICSI, các bước tiến hành hoàn
Trang 6toàn tương tượng như TTTON thông thường, chỉ khác ở giai đoạn thụ tinh, 1 tinh trùng được tiêm trực tiếp vào trứng dưới sự hỗ trợ của hệ thống vi thao tác.
Việc thành công của kỹ thuật ICSI đã tạo một tiếng vang lớn và làm thay đổi nhiều quan niệm về quá trình thụ tinh ở người và động vật nói chung Kỹ thuật ICSI từ khi thành công đã được xem là một cuộc cách mạng trong điều trị vô sinh nam Trong một khảo sát về ICSI với qui
mô lớn nhất cho đến nay của Hiệp hội sinh sản người và Phôi học Châu
Âu (ESHRE) báo cáo năm 1998, tỉ lệ thụ tinh của noãn sau khi tiêm tinhg trùng vào bào tương noãn của 174 bệnh nhân là 55,4%; tỉ lệ noãn thụ tinh tiếp tục phát triển là 44,0% (số liệu năm 1994, số liệu từ 30 trung tâm khác nhau)
Các em bé sinh ra do thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên tại Việt Nam vào tháng 4 năm 1998 tại Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ Đây cũng là nơi đầu tiên ở Việt Nam thực hiên thành công kỹ thuật tiêm trùng vào bào tương trứng năm 1998, em bé đầu tiên được sinh ra kỹ thuật này vào tháng 2/1999 Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào báo cáo về khả năng ứng dụng và kết quả kỹ thuật ICSI trong điều trị vô sinh nam tại Việt Nam
→ Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài: "Thành tựu của
sinh sản hữu tính có hỗ trợ ở Việt Nam".
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 7- Tìm hiểu về thành tựu của sinh sản hữu tính có hỗ trợ ở Việt Nam.
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lịch sử phát triển của kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
- Tìm hiểu về cơ sở lí luận của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
- Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
- Thành tựu của sinh sản hữu tính có hỗ trợ ở Việt Nam
4 Giới hạn nghiên cứu
- Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thông dụng và có hiệu quả cao hiện nay
5 Đối tượng nghiên cứu
- Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết
7 Lịch sử phát triển của kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trên thế giới và tại Việt nam
7.1 Trên thế giới [9]
Trang 8- 1959, Chang lần đầu tiên thành công trong việc cho thụ tinh giữa
tinh trùng và trứng động vật có vú (thỏ) trong điều kiện phòng thí nghiệm Đây được xem là thành tựu quan trọng nhất trong lịch sử phát triển của thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) Nó chứng tỏ trứng và tinh trùng của động vật có thể thụ tinh được bên ngoài cơ thể Từ sau thí nghiệm này TTTON đã được nghiên cứu trên nhiều loài động vật khác nhau, kể cả người
- 1966, các bác sĩ người Mỹ và nhà khoa học người Anh RG
Edwards lần đầu tiên công bố trường hợp lấy được trứng người qua phẫu thuật nội soi tại Mỹ Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu này thất bại trong việc chứng minh trứng và tinh trùng người có thể thụ tinh được bên ngoài cơ thể
-1971, Steptoe và Edwards ở Anh bắt đầu báo cáo nuôi cấy được phôi nang người trong ống nghiệm và chuyển phôi vào buồng tử cung
- 1976, trường hợp có thai đầu tiên từ TTTON trên thế giới được ghi nhận tại Anh do Steptoe và Edwards công bố Tuy nhiên, rất tiếc đây lại là một trường hợp thai ngoài tử cung
- 1978, em bé đầu tiên từ TTTON, Louis Brown, ra đời đánh dấu
bước đầu cho sự phát triển của TTTON trên người Sau đó, 2 trường hợp sanh khác từ TTTON cũng đã được báo cáo tại Anh Sau đó, chương trình này tại Anh bị gián đoạn trong 2 năm
Trang 9- 1980, em bé TTTON thứ tư trên thế giới được sinh ra tại Úc Trung
tâm Monash ở Úc được ghi nhận là nơi thứ hai trên thế giới thực hiện thành công TTTON Trung tâm này sau đó liên tục báo cáo các trường hợp sanh sau TTTON Do trung tâm TTTON đầu tiên ở Anh tạm ngưng hoạt động sau trường hợp sanh đầu tiên, người ta ghi nhận rằng
12 trong số 15 em bé TTTON đầu tiên trên thế giới được ra đời từ trung tâm Monash ở Úc
- 1981, em bé TTTON đầu tiên ở Mỹ ra đời Đây cũng là trường hợp TTTON đầu tiên sử dụng gonadotropin để kích thích buồng trứng
- Sau đó, trong những năm 80, kỹ thuật TTTON đã phát triển rất
mạnh và lần lượt được báo cáo thành công tại nhiều nước trên thế giới,
kể cả ở Châu Á Trong đó, Singapore được ghi nhận là nơi thực hiện thành công TTTON đầu tiên ở Châu Á vào năm 1983 bởi nhóm nghiên cứu của SC Ng và cộng sự
- 1983, siêu âm đầu dò âm đạo được giới thiệu và kỹ thuật chọc hút trứng qua ngả âm đạo với với hướng dẫn của siêu âm đầu dò âm đạo được giới thiệu lần đầu tiên và thay thế hoàn toàn việc chọc hút trứng quan nội soi tốn kém, nguy hiểm và kém hiệu quả
- 1984, kỹ thuật chuyển giao tử vào vòi trứng (GIFT) được báo cáo thành công tại Mỹ
- 1984, em bé đầu tiên ra đời từ trường hợp một phụ nữ không còn buồng trứng, thực hiện xin trứng-TTTON tại Úc
Trang 10- 1984, em bé đầu tiên sinh ra từ phôi người đông lạnh được báo cáo
ở Úc bởi Trounson và Mohr
- 1986, Chen báo cáo trường hợp có thai từ trứng người sau đông lạnh và rã đông tại Úc Tuy nhiên, tỉ lệ thành công được báo cáo rất thấp
- 1988, trường hợp tiêm tinh trùng vào dưới màng trong suốt (SUZI) được báo cáo thành công lần đầu tiên tại Singapore bởi SC Ng và cộng sự
- 1989, kỹ thuật đục thủng màng trong suốt (PZD) để hỗ trợ thụ tinh được giới thiệu ở Mỹ bời Cohen
- 1992, kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng được báo cáo thànnh công lần đầu tiên tại Bỉ bởi Palermo và cộng sự
- 1994, trường hợp có thai đầu tiên từ trứng non trưởng thành trong ống nghiệm (IVM) được báo cáo tại Úc
- 1994, các trường hợp MESA-ICSI (hút tinh trùng từ mào tinh qua
vi phẫu và tiêm tinh trùng vào bào tương trứng) đầu tiên được báo cáo
- 1995, kỹ thuật PESA-ICSI (chọc hút tinh trùng từ mào tinh xuyên
da và tiêm tinh trùng vào bào tương trứng) được giới thiệu
Trang 11- 1995, kỹ thuật TESE-ICSI (phân lập tinh trùng từ tinh hoàn ở những trường hợp giảm sinh tinh tại tinh hoàn và tiêm tinh trùng vào bào tương trứng) được báo cáo thành công.
- 1997, trường hợp có thai ở phụ nữ 63 tuổi với kỹ thuật xin TTTON được báo cáo
trứng 1997, trường hợp có thai đầu tiên từ trứng trữ lạnh và rã đông của
Mỹ được báo cáo 11 năm sau trường hợp đầu tiên trên thế giới được báo cáo
- 2001, phác đồ mới trong kỹ thuật trữ trứng được báo cáo, cải thiện đáng kể tỉ lệ thành công Đồng thời, những trường hợp sinh đầu tiên từ
cả trứng và tinh trùng đông lạnh được báo cáo tại Ý
7.2 Tại Việt Nam [9]
TTTON được thực hiện thành công tại Việt nam khá muộn so với các nước trên thế giới và trong khu vực Tuy nhiên, trong những năm gần đây chúng ta đã đạt được những bước tiến nhanh và vững chắc Hiện nay, chúng ta đã thực hiện thành công các kỹ hỗ trợ sinh sản phổ biến trên thế giới hiện nay với tỉ lệ thành công khá cao và ổn định
Trung tâm TTTON tại Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ hiện được ghi nhận là trung tâm lớn nhất khu vực Đông Nam Á và là một trong những trung tâm hàng đầu ở Châu Á Uy tín của ngành hỗ trợ sinh sản Việt nam đã bắt đầu được ghi nhận trong khu vực và trên thế giới trong
Trang 12học về lãnh vực này tại các hội nghị khoa học trong vùng và trên thế giới Trong thời gian qua, chúng tôi đã thu hút được trên 100 trường hợp người ở nước ngoài đến điều trị Năm 2004, chúng ta cũng bắt đầu thu hút được bác sĩ từ các nước đến học hỏi kinh nghiệm trong lãnh vực này
* Sự phát triển của TTTON tại Việt nam từ 1997 đến nay
- 1997, Bệnh viện phụ Sản Từ Dũ bắt đầu thực hiện TTTON
- 30/4/1998, 3 em bé TTTON đầu tiên ra đời ở Việt nam
-1998-2000, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ bước đầu đào tạo và chuyển giao công nghệ cho học viện Quân Y về kỹ thuật lọc rửa tinh trùng, trữ lạnh tinh trùng, TTTON
- 1999, Bệnh viện Hùng Vương bắt đầu thực hiện TTTON
- 1999-2000, Bệnh viện Từ Dũ bắt đầu đào tạo và chuyển giao công nghệ cho viện Bảo vệ bà mẹ và sơ sinh Trong thời gian này, 6 bác sĩ
và 2 kỹ thuật viên của Viện BVBMSS đã được đào tạo tại Bệnh viện
Từ Dũ
- Cũng trong thời gian này, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ đã đào tạo các
kỹ thuật viên của Viện BVBMSS kỹ thuật thực hiện tinh dịch đồ theo tiêu chẩn của WHO và kỹ thuật lọc rửa tinh trùng Nhờ đó, trước khi thực hiện được TTTON Viện BVBMSS cũng đã triển khai được kỹ
Trang 13thuật IUI với tinh trùng lọc rửa thay vì bơm tinh dịch trực tiếp vào tử cung
- Từ 4/1999 đến hết năm 2001, 2 bác sĩ Huỳnh Thanh Liêm và Nguyễn Việt Quang được Sở Y tế Cần thơ cử đến đào tạo chuyên sâu tại Bệnh viện Từ Dũ về các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
- Cuối năm 2000, Bệnh viện Từ Dũ hỗ trợ về kỹ thuật trong thời gian chuẩn bị và cử bác sĩ giúp Viện BVBMSS thực hiện các trường hợp TTTON đầu tiên Trong thời gian 3 tháng đầu thực hiện chương trình, bác sĩ Huỳnh Thanh Liêm đã ở hẳn tại Viện BVBMSS để trực tiếp tham gia và hướng dẫn cán bộ của Viện BVBMSS thực hiện các trường hợp đầu tiên
- 2001, em bé đầu tiên ra đời tại Viện BVBMSS
- Sau thời gian gửi cán bộ đào tạo tại Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ và
tích lũy được kinh nghiệm, Học viện quân Y bắt đầu thực hiện các trường hợp TTTON đầu tiên với sự hỗ trợ của Bệnh viện Từ Dũ và Viện BVBMSS
- Cuối năm 2001, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ hỗ trợ Bệnh viện Phụ Sản quốc tế thực hiện các trường hợp TTTON đầu tiên
- Đầu năm 2002, tạp chí định kỳ “Sinh sản & sức khỏe” ra mắt số đầu tiên Tạp chí đã đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần phổ biến kiến thức liên quan đến hiếm muộn – vô sinh và các kỹ thuật hỗ
Trang 14trợ sinh sản đến các cán bộ y tế, nhân dân và các đối tượng quan tâm trong cả nước
- 2002, các em bé TTTON đầu tiên ra đời tại Học viện quân Y và Bệnh viện Phụ Sản quốc tế
- Khóa đào tạo “Sơ bộ chuyên khoa về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” đầu
tiên được khai giảng tại Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ
- 2/2003, Nghị định của Chính phủ về sinh và con theo phương pháp khoa học được ban hành
- Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ 1999 đến nay, qua các khóa đào tạo thường xuyên, Bệnh viện Từ Dũ đã giúp đào tạo nhân sự cho các chương trình điều trị hiếm muộn và TTTON của nhiều đơn vị khác trong cả nước như: Trường Đại học Y Hà nội, Bệnh viện Phụ Sản Hà nội, Bệnh đa khoa Thái Nguyên, Bệnh viện Phụ Sản Hải phòng, Bệnh viện Phụ Sản Thanh Hóa, Bệnh viện TW Huế, Bệnh viện Trường đại học Y Huế, Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng, Bệnh viện Sản Phụ khoa Bình Dương, Bệnh viện Hùng Vương, Bệnh viện đa khoa Cần Thơ
- Cho đến năm 2003, đa số các tỉnh thành phía Nam (khoảng 90%)
đã xây dựng được các đơn vị chuyên biệt khám, chẩn đoán và điều trị hiếm muộn theo quan điểm hiện đại và thực hiện được kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung với tinh trùng lọc rửa
Trang 15- 2004, website đầu tiên cung cấp thông tin, kiến thức về hiếm muộn-vô sinh và các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ra đời: www.ivftudu.com.vn
- Với sự quan tâm của ngành y tế nhiều địa phương và sự chuẩn bị tích cực trong việc đào tạo nhân sự cũng như sự phát triển nhanh chóng của lãnh vực này tại Việt nam trong thời gian qua, hy vọng trong thời gian tới chúng ta sẽ tiếp tục đón nhận sự ra đời của nhiều trung tâm TTTON mới trong cả nước
PHẦN II NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
I Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là gì? [4]
Trang 161.1 Khái niệm:
- Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART) bao gồm các kỹ thuật giúp tăng
khả năng sinh sản của người
- Theo định nghĩa, ART là những kỹ thuật trong đó có thực hiện đem tế bào trứng người ra khỏi cơ thể Đây là những kỹ thuật được phát triển cơ bản dựa trên kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) trên người
1.2 Một số từ viết tắt thường dùng trong hỗ trợ sinh sản [17]
- AI (Art ificial ensemination) - Thụ tinh nhân tạo: Kỹ thuật đưa tinh trùng vào đường sinh dục người phụ nữ để điều trị vô sinh Hiện nay chủ yếu thực hiện bằng cách bơm tinh trùng đã chuẩn bị vào buồng tử cung
- AID, DI (artificial insemination using donor sperm, donor insemination)-
Thụ tinh nhân tạo với tinh trùng người cho: Hiện nay thường sử dụng thuật ngữ DI để thay thế cho AID
- AIH (artificial insemination with husband’s sperm) - Thụ tinh
nhân tạo với tinh trùng chồng
- ET ( embryo transfer) - Kỹ thuật chuyển phôi vào buồng tử cung,
được thực hiện bằng cách đưa một catheter qua cổ tử cung để bơm phôi vào buồng tử cung
Trang 17- FER ( frozen embryo replacement) - Kỹ thuật chuyển phôi vào
buồng tử cung, trong đó các phôi được chuyển là những phôi được trữ lạnh (cryopreserve) và sau đó rã đông (thaw)
- GIFT ( gamete intra-fallopian transfer)- Chuyển giao tử vào vòi
trứng: đây là một kỹ thuật HTSS hiện nay ít được sử dụng Trong kỹ thuật này, tinh trùng được chuẩn bị, trứng được chọc hút ra ngoài, sau
đó, tinh trùng và trứng được bơm vào vòi trứng GIFT được thực hiện qua nội soi ổ bụng
- ICSI ( intracytoplasmic sperm injection) - Kỹ thuật hỗ trợ sự thụ
tinh giữa trứng và tinh trùng ICSI được thực hiện bằng cách tiêm một tinh trùng vào bào tương của trứng để thụ tinh trứng và tạo phôi Sau
đó phôi được chuyển vào buồng tử cung Đây là kỹ thuật được sử dụng rộng rãi tại các trung tâm hỗ trợ sinh sản
- IUI ( intra-uterine insemination) - Bơm tinh trùng vào buồng tử
cung: đây là một kỹ thuật phổ biến nhất và hiệu quả nhất để thực hiện thụ tinh nhân tạo IUI được thực hiện bằng cách bơm tinh trùng đã được chuẩn bị vào buồng tử cung
- IVF ( in-vitro fertilization) - Thụ tinh trong ống nghiệm: quá trình
thụ tinh của trứng và tinh trùng diễn ra bên ngoài cơ thể IVF là kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được thực hiện nhiều nhất ở phần lớn các trung tâm hỗ trợ sinh sản trên thế giới Trong IVF, tinh trùng và trứng được cho nuôi cấy với nhau trong phòng thí nghiệm để tạo phôi
Trang 18- IVF-ET (in-vitro fertilization and embryo tranfer) - Thụ tinh
trong ống nghiệm và chuyển phôi, thường được viết đơn giản là IVF
1.3 Nguyên tắc cơ bản của TTTON [3]
- Tinh trùng và trứng được đem ra khỏi cơ thể người, sau đó được
xử lý và nuôi cấy trong điều kiện phòng thí nghiệm Quá trình tạo phôi
và nuôi cấy phôi trong những ngày đầu cũng diễn ra bên ngoài cơ thể Sau đó, phôi hình thành sẽ được chọn lựa để cấy trở lại vào buồng tử cung của người vợ Sự phát triển và làm tổ của phôi, sự phát triển của thai sau đó diễn ra tương tự như những trường hợp có thai tự nhiên
II Các phương pháp sinh sản có hỗ trợ [1, 130], [3, 186]
- Các phương pháp này có hai đặc điểm:
+ Liên quan đến việc thao tác xử lí các giao tử và phôi trong ống nghiệm, bên ngoài cơ thể mẹ
+ Không cần có giao hợp giữa bố và mẹ
- Khi tình trạng vô sinh là kết quả của những bất thường ở bộ máy sinh dục nam hoặc nữ thì người ta sẽ sử dụng các giao tử của chính bố
mẹ để tiến hành sinh sản có hỗ trợ Biện pháp này có tên là thụ thai nhân tạo "trong hôn nhân" Nhưng nếu một trong hai người hoặc cả hai không có khả năng sản sinh giao tử hoạt động, hay có nguy cơ giao tử mang đột biến có hại thì biện pháp cho giao tử sẽ được sử dụng
Trang 19- Nói đến sinh sản hữu tính có hỗ trợ (SSHTCHT), người ta nghĩ ngay đến gieo tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm trước khi chuyển trứng thụ tinh vào tử cung.
2.1 Gieo tinh nhân tạo [1, 130], [3, 186]
- Tinh dịch tươi hay đã bảo quản lạnh, đã qua hay không qua xử lí tuỳ trường hợp sẽ được đưa vào đường sinh dục nữ
- Vị trí đưa vào có thể là âm đạo, cổ tử cung, lòng tử cung hay trong màng bụng
- Tỉ lệ thành công biến động rất lớn tuỳ thuộc nhiều yếu tố: mức độ nặng nhẹ của tình trạng hữu thụ hay vô sinh ở cả hai bên, tính chính xác của chẩn đoán, sự thành thạo trong thao tác Tỉ lệ thành công cao nhất được tìm thấy ở biện pháp gieo tinh vào âm đạo (25%)
2.2 Thụ tinh nhân tạo và chuyển trứng thụ tinh vào tử cung [1, 131], [3, 187-189]
- Biện pháp này bao gồm nhiều công đoạn:
+ Dự đoán hay chủ động kích thích rụng trứng Thời điểm rụng trứng được dự đoán thông qua việc đo hàm lượng LH trong nước tiểu hay huyết tương Hàm lượng LH tăng cao đột ngột báo trước thời điểm này Trứng được hút khoảng 34-36 giờ sau đó
Trang 20Hiện nay, người ta chủ động kích thích rụng trứng bằng hoocmon như GnRH, FSH, HCG để kích thích sự phát triển của nang trứng và gây rụng trứng Trước tiên sử dụng đều đặn một lượng chất tương đồng với GnRH để ức chế hoạt động kích dục tố của tuyến yên; đồng thời dùng một liều cao FSH để kích thích sự phát triển đồng loạt một số lượng lớn nang cho đến giai đoạn tiền rụng trứng; khi nang đã đủ lớn, tiêm một liều HCG duy nhất để hây rụng trứng Các trứng được thu nhận 36 giờ sau khi tiêm.
+ Thu nhận và xử lí tinh dịch: Thao tác này được thực hiện 1 giờ trước khi hút thu trứng Việc xử lí tinh dịch nhằm mục đích loại các nhân tố ức chế khả năng thụ tinh của tinh trùng trong tinh tương, chọn lọc các tinh trùng có khả năng chuyển động mạnh nhất, cô đặc lượng tinh trùng
+ Hút nang chín và thu trứng: Thao tác được thực hiện với sự trợ giúp của kỹ thuật siêu âm Mỗi lần thu trung bình 8 trứng
+ Thụ tinh trong ống nghiệm: Trứng sau khi thụ tinh nhận được ủ trong môi trường nhân tạo để giúp nó hoàn tất quá trình thành thục Sau
đó, trứng được kết hợp với tinh trùng trong ống nghiệm Khoảng 48 giờ sau khi phôi có từ 2-3 phôi bào sẽ được đưa vào tử cung
- Tỷ lệ thành công của phương pháp này là trung bình có 17% mang thai và 12% sinh con Đó là một tỷ lệ thấp Tỉ lệ mang thai tăng tương ứng với số phôi được đưa vào: tỉ lệ là 15% với 2 phôi, 25% với 3 phôi,
Trang 2130% với 4 phôi Điều này làm tăng xác suất đậu thai nhiều (20% sinh đôi, 4% sinh ba, tư).
- Do đó, ngày nay người ta có thể tạo một khe hở trong vùng sáng
để tinh trùng xâm nhập vào bên trong Tuy nhiên, hai kỹ thuật đang áp
dụng hiệu quả nhất hiện nay là vi tiêm dưới vùng sáng nhằm đưa tinh trùng vào giữa vùng sáng và màng noãn và kỹ thuật vi tiêm thẳng tinh
trùng vào trứng là biện pháp được ưa chuộng nhất
2.3 Thụ tinh trong ống nghiệm có hỗ trợ [3, 189]
- Các kĩ thuật được sử dụng khi tinh trùng không có khả năng đi
xuyên qua vùng sáng của noãn Người ta có thể tạo một khe hở trong vùng sáng, cho phép tinh trùng xâm nhập vào bên trong: đây là biện pháp tách một phần lớp zona Bất lợi của biện pháp này là tần số đa thụ tinh cao và trứng là biện pháp được ưa chuộng nhất hiện nay
Quá trình sinh tinh: Tế bào nguồn phân chia đẳng nhiễm tạo tinh nguyên bào lưỡng bội Tinh nguyên bào tiếp tục phân chia đẳng nhiễm tạo các tinh bào lưỡng bội Tinh bào sẽ phân chia giảm nhiễm tạo các tinh tử tròn đơn bội Kế đó là các thay đổi xảy ra trên tinh tử tròn (hình thành roi và túi tiết tức thể ngọn) biến nó thành tinh tử dài rồi cuối cùng
là tinh trùng có khả năng tiếp cận, xâm nhập vào trứng và kết hợp với nhân của trứng
- Ở người, một số trường hợp vô sinh là do sự vắng mặt hoàn toàn của các tinh trùng biệt hoá trong tinh dịch Vào đầu năm 1995, nhóm
Trang 22nghiên cứu của P.Vanderzwalmen (Bỉ) tiến hành một thử nghiệm nhằm khắc phục dạng vô sinh này Họ thu lấy một tinh tử từ sinh thiết tinh hoàn đem tiêm thẳng vào trứng Sự thụ tinh có vẻ xảy ra bình thường nhưng phôi không phát triển xa hơn Các thử nghiệm sau đó sử dụng cả
tế bào tinh tử dạng tròn hay dạng dài, cả nhân trần tách từ các tinh tử ấy
2.4 SSCHT với giao tử hay phôi từ người cho [3, 189]
- Các biện pháp vừa kể sử dụng giao tử của chính bố và mẹ Nhưng
khi các giao tử ấy, vì các lí do đã nêu ở trên, không sử dụng được, người ta phải viện đến khả năng nhận giao tử và phôi từ người cho thường là vô danh Các biện pháp áp dụng tương tự như trong SSCHT
"trong hôn nhân." Bao gồm: gieo tinh nhân tạo với tinh trùng người cho, thụ thai trong ống nghiệm với tinh trùng hay với trứng của người cho
Trong một số trường hợp SSCHT, số lượng phôi hình thành quá nhiều so với mong muốn của bố mẹ thì họ có thể tặng các phôi dư này cho các cặp vợ chồng vô sinh khác Người ta đã cấy và cho phát triển thành công các phôi hoàn toàn khác biệt về mặt di truyền với cơ thể mẹ
2.5 Một kỹ thuật mới làm tăng khả năng có thai - Hỗ trợ phôi thoát màng bằng Laser [5], [6]
Trang 23- Trong một chu kỳ điều trị thụ tinh trong ống nghiệm, bệnh nhân thường trải qua các bước: kích thích buồng trứng, chọc hút trứng, nuôi cấy phôi, chuyển phôi, làm xét nghiệm thử thai và theo dõi thai cho đến ngày sinh Có thể nói sự thành công của một chu kỳ điều trị là một chuỗi liên kết chặt chẽ sự hoàn tất của các khâu trên Do đó sau khi phôi được chuyển vào buồng tử cung, để gọi là thành công thì phôi phải làm tổ được trong buồng tử cung và phát triển thành thai cho đến ngày sinh
- Có ba giả thuyết giải thích vì sao phôi không làm tổ được:
+ Liên quan đến yếu tố nội tại của phôi, nghĩa là chính bản thân phôi không có khả năng làm tổ
+ Thiếu các thành phần gắn kết với phôi tại nội mạc tử cung (bình thường phôi phải gắn với các phân tử tại nội mạc tử cung này thì mới
có thể làm tổ được)
+ Phôi không thể thoát khỏi sự bao bọc của màng zona (màng bao bọc quanh phôi) Nguyên nhân sau cùng này chính nó mang lại sự phát triển các kỹ thuật vi thao tác nhằm hỗ trợ phôi nuôi cấy trong môi trường ống nghiệm(Cohen và cs , 1990 )
Trang 24- Sự thụ tinh ở người xảy ra ở đoạn eo bóng của vòi trứng Sau đó trứng đã thụ tinh sẽ di chuyển vào buồng tử cung Trong ống nghiệm,
sự xuất hiện 2 tiền nhân trong thụ tinh bình thường xuất hiện khoảng 18-19 giờ sau cấy tinh trùng Đến ngày 2-3, phôi phát triển đến giai đoạn 2-4 và 8 tế bào Hiện tượng nén tế bào có thể xảy ra ở giai đoạn 8
tế bào khoảng ngày 3 Biểu hiện bằng sự tăng tiếp xúc bằng cách hình thành các cầu nối giữa các phôi bào kế cận, giảm các khoảng gian bào
và đường viền mờ đi Ngày thứ 4 sau khi thụ tinh, có sự hình thành khoang phôi nang ở giữa Ngay thời điểm bắt đầu quan sát thấy khoang này là bắt đầu giai đoạn phôi nang
- Hiện tượng thoát màng thường xảy ra vào ngày thứ 5 hay 6, lúc này phôi đã ở tại buồng tử cung Ở người hiện tượng này xảy ra tại một vùng trên bề mặt của phôi nang Phôi dần dần thoát ra khỏi màng trong suốt bằng cách lồi qua một lỗ nhỏ Hiện tượng thoát màng hoàn toàn là lúc phôi chui ra khỏi màng trong suốt, thường xảy ra vào ngày thứ 6 hay 7
Trang 25Phôi thoát màng: Mặc dù phôi nang người dễ nở rộng trong ống
nghiệm, khoảng 20% những phôi nang này gặp trở ngại trong vấn đề giãn nở hay chỉ dãn rộng ở một vài chỗ hoặc không thể dãn nở hoàn toàn để thoát khỏi màng zona, cuối cùng nang xẹp xuống và thoái hóa
Hỗ trợ phôi thoát màng (Assisted hatching): là kỹ thuật làm mỏng
hoặc tạo một lỗ thoát trên màng của phôi nhằm cải thiện tỉ lệ có thai và
tỉ lệ làm tổ của phôi
- Theo Ủy ban Thực hành của Hiệp hội các Kỹ thuật Hỗ trợ sinh sản
và Hội Y học Sinh sản của Hoa Kỳ (2005), hỗ trợ phôi thoát màng có thể mang lại lợi ích lâm sàng đối với những người có tiên lượng kém: thực hiện IVF thất bại 2 lần, chất lượng phôi kém, lớn tuổi Ngoài ra nhiều nghiên cứu đã cho thấy lợi ích làm tăng tỉ lệ làm tổ cũng như tỉ lệ thai lâm sàng ở các đối tượng: chuyển phôi trữ, màng zona dày, FSH cơ bản cao Cho nên hỗ trợ phôi thoát màng thường được các trung tâm hỗ
Trang 26trợ sinh sản trên thế giới chỉ định trong các trường hợp sau: lớn tuổi, màng zona(màng phôi) dày, chuyển phôi trữ, không có thai sau 3 lần chuyển phôi, FSH cơ bản cao.
Kỹ thuật Hỗ trợ phôi thoát màng: [6]
- Hỗ trợ phôi thoát màng đã được thực hiện từ những năm đầu của thập niên 90
- Có 4 cách để hỗ trợ phôi thoát màng:
+ Hỗ trợ thoát màng bằng acid Tyrod
Kỹ thuật này được áp dụng cho những trường hợp phôi tiên lượng kém từ năm 1990 (Cohen và cộng sự) Dùng pipette giữ phôi ở vị trí 9 giờ và một pipette 10 μm chứa dung dịch acid Tyrod được đưa vào vị trí 3 giờ cạnh vùng có khoang quanh noãn trống Một vùng khiếm khuyết trên màng zona được tạo ra bằng cách thổi acid Tyrod trên bề mặt ngoài của màng zona Phôi sau đó được rửa vài lần để loại bỏ lượng acid Tyrod thừa và được đặt trong môi trường nuôi cấy trở lại cho đến lúc chuyển phôi
Trang 27+ Hỗ trợ thoát màng bằng phương pháp cơ học
Cieslak và cộng sự đã mô tả kỹ thuật này vào năm 1999 Phôi được giữ nhẹ nhàng bằng một pipette giữ và một vi kim đâm xuyên qua màng zona ở vị trí khoảng trống quanh phôi bào lớn nhất Sau đó phôi được buông ra khỏi pipette giữ, lúc này phôi được giữ bởi vi kim Mang phôi đang bị vi kim xuyên qua cọ bên dưới pipette giữ cho đến khi tạo được một vết cắt trên màng zona
+ Hỗ trợ thoát màng bằng phương pháp sinh hóa
Với phương pháp này, phôi được đặt trong môi trường có chứa men thủy phân trong một thời gian nhất định Được mô tả bởi Fong và cs vào năm 1998 Đầu tiên đặt phôi trong dung dịch pronase hòa tan trong
Trang 28zona có bị dãn rộng, mờ đi và khoảng quanh noãn có tăng lên không Nếu những tiêu chuẩn này không đạt được thì phôi được đặt tiếp tục trong dung dịch pronase từ 30-60 giây nữa Tiếp đó phôi được đặt trở lại môi trường nuôi cấy cho đến khi chuyển phôi Kết quả là màng zona được làm mỏng
Trang 29- Các bước thực hiện:+ Điều chỉnh mức năng lượng laser phù hợp+ Phôi được đặt trong giọt môi trường nuôi cấy, đặt dưới kính hiển
vi đảo ngược có gắn hệ thống laser hồng ngoại+ Chọn vị trí cần chiếu tia laser và tiến hành chiếu tia
+ Lấy đi những phân mảnh trong quá trình phân cắt của phôi+ Sinh thiết phôi bào để làm chẩn đoán bất thường di truyền của phôi
Trong một nghiên cứu hồi cứu thực hiện với 794 chu kỳ tiên lượng xấu, tỷ lệ thai lâm sàng trên chu kỳ chuyển phôi thay đổi giữa 46% (acid Tyrod) và 49,3% (xé màng zona) nhưng không liên quan đến bất
kỳ kỹ thuật thoát màng nào (tỷ lệ làm tổ cũng không) Nhưng có bằng chứng từ một nghiên cứu tiền cứu trên những bệnh nhân lớn tuổi (Hsieh và cộng sự, 2002) cho thấy khi xét về tỷ lệ làm tổ (8,2 với 3,8%) cũng như tỷ lệ thai (31,8 m vượt trội hơn µvới 16,1%) hỗ trợ thoát
Trang 30Hơn nữa, hỗ trợ thoát màng bằng laser đã được kết luận là làm tăng tỷ
lệ thai lâm sàng trong bài tổng quan từ thư viện Cochrane (OR=1,27; khoảng tin cậy 95% là 1,03-1,56) (Das S và cộng sự, 2008)
- Về phương pháp thực hiện, trước đây một kỹ thuật được thực hiện phổ biến để hỗ trợ phôi thoát màng đó là làm thủng màng zona bằng dung dịch acid Tyrod Dù kỹ thuật này đã được báo cáo là có hiệu quả
to lớn đối với tỷ lệ thai, nhưng nó có nhiều điều không thuận tiện, bao gồm nguy cơ tổn thương tế bào bên dưới màng zona, thoát màng sớm,
và đòi hỏi thời gian thực hiện nghiêm ngặt và tay nghề của người thực hiện Kỹ thuật mới nhất và đang được ứng dụng nhiều nơi trên thế giới
đó là Hệ thống quang học laser hồng ngoại, hiện tại cung cấp một kỹ thuật thay thế mà nó có thể khắc phục được những cản trở của các kỹ thuật trước
Phương pháp này đặc biệt hiệu quả trong các trường hợp:
+ Bệnh nhân thất bại nhiều lần mặc dù chất lượng phôi tốt
+ Bệnh nhân chuyển phôi trữ lạnh
+ Bệnh nhân ít phôi, lớn tuổi
+ Bệnh nhân có phôi có màng trong suốt dày bất thường
+ Bệnh nhân thực hiện kỹ thuật trưởng thành trứng trong ống
nghiệm (IVM)
2.6 ICSI (Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng) [4], [16]
Trang 31Kể từ khi Louise Brown - đứa bé đầu tiên từ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm - ra đời năm 1978, các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã không ngừng phát triển Tuy nhiên, kỹ thuật IVF cổ điển còn một số mặt hạn chế như đòi hỏi chất lượng tinh trùng người chồng phải tương đối khá tốt, bất thường nhẹ hay trung bình Do vậy, những bệnh nhân nam có chất lượng tinh trùng kém, rất kém, hoặc bất thường nặng hay thậm chí không có tinh trùng thì cơ hội làm cha gần như là không có Mãi đến năm 1992, kỹ thuật ICSI lần đầu tiên được công bố đã thật sự là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, đem đến cơ hội làm cha
mẹ cho không ít các cặp vợ chồng hiếm muộn do vấn đề người chồng
* Thực hiện ICSI như thế nào? [4]
- ICSI (Intra-cytoplasmic sperm injection): Nghĩa là tiêm tinh trùng vào bào tương trứng i
- Tinh trùng lấy được từ người chồng sẽ được xử lý đặc biệt để thu được một ít tinh trùng tốt nhất Sau đó chuyên viên labo sẽ chọn lấy từng tinh trùng, giữ bằng một vi kim và tiêm trực tiếp vào bào tương trứng Do trứng và tinh trùng rất nhỏ mà mắt thường không nhìn thấy được, tất cả quá trình trên đều đựơc thực hiện dưới kính hiển vi phóng đại hàng trăm lần Vì vậy, đây là một kỹ thuật hết sức tinh
vi, đòi hỏi sự khéo léo của các chuyên viên labo
- Sự thụ tinh sẽ được kiểm tra sau 16-18h kể từ khi thực hiện tiêm tinh trùng vào bào tương trứng Phôi sẽ được chuyển vào buồng tử
Trang 32cung người vợ vào ngày 2, ngày 3 hay ngày thứ 5 tùy thuộc vào từng trung tâm
* ICSI được chỉ định trong trường hợp nào? [4]
- ICSI chủ yếu được chỉ định đối với các trường hợp vô sinh do nam : Tinh trùng rất ít, tinh trùng có độ di động kém, tinh trùng có hình dạng bất thường nặng, không tinh trùng do tắc nghẽn ống dẫn tinh, bất
- Ngoài ra, ICSI còn được chỉ định đối với những trường hợp vô sinh không rõ nguyên nhân Nghĩa là nếu người vợ có chức năng buồng trứng và vòi trứng bình thường Người chồng có chất lượng tinh trùng khá tốt, nhưng vẫn không thể có thai Người ta nghĩ rằng có một nguyên nhân nào đó mà khoa học chưa nghiên cứu được, làm cho tinh trùng không thể xâm nhập vào trứng Tương tự đối với các trường hợp thực hiện IUI nhiều lần không có kết quả; hoặc kết quả thụ tinh kém hoặc không thụ tinh trong chu kỳ IVF trước đó Những trường hợp này cũng sẽ được chỉ định ICSI Những trường hợp hiếm muộn do vấn đề
Trang 33từ người vợ như tắc ống dẫn trứng, bất sản ống dẫn trứng v.v , mà khả năng buồng trứng vẫn còn hoạt động tốt; đồng thời tinh trùng người chồng khá tốt thì không cần phải áp dụng kỹ thuật ICSI để điều trị hiếm muộn, mà có thể áp dụng phương pháp khác như kỹ thuật IVF cổ điển.
* Khả năng thụ tinh của ICSI như thế nào? [4]
- Người ta thấy rằng khoảng 70-85% trứng được thực hiện ICSI sẽ được thụ tinh Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp xảy ra sau ICSI: Trứng bị tổn hại và chết, trứng không phát triển thành phôi mặc dù đã được tiêm tinh trùng vào bào tương trứng, phôi không phát triển Khả năng có thai của các cặp vợ chồng được thực hiện kỹ thuật ICSI tương
tự như đối với kỹ thuật IVF thông thường
* Em bé sinh ra từ kỹ thuật ICSI sẽ như thế nào? [4]
- Đây là một kỹ thuật mới, các nghiên cứu về sự phát triển của các
em bé ra đời từ kỹ thuật ICSI vẫn còn đang được các nhà khoa học trên thế giới thực hiện
- Tuy nhiên đa số nghiên cứu đều cho thấy các bé ra đời từ kỹ thuật ICSI cũng như các kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm nói chung:
+ Đều có tỷ lệ dị tật bẩm sinh và phát triển tâm lý không khác biệt
so với trẻ em bình thường
+ Nếu đứa bé sinh ra là con trai, nhiều khả năng bé sẽ thừa hưởng gen này của cha và mang bệnh lý hiếm muộn như cha
Trang 34+ Nếu đứa bé sinh ra là con gái thì sẽ không bị ảnh hưởng.
Tuy nhiên, với khả năng phát triển của y học ngày nay, trong tương lai hy vọng con người sẽ có khả năng chữa trị những bất thường này ngay từ giai đoạn rất sớm
* Những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả ICSI [16]
- Yếu tố tinh trùng: Nagy và các cộng sự đã tiến hành đánh giá ảnh hưởng của yếu tố tinh trùng lên kết quả ICSI trong 966 chu kỳ điều trị Mặc dù không có hình dạng bình thường trong mẫu tinh dịch, không có tinh trùng “ảo”, hay không có tinh trùng di động khi xuất tinh, nhưng vẫn có thể mang thai Nagy và các cộng sự nhận thấy rằng tiêu chuẩn tuyệt đối cho ICSI thành công là cần có sự hiện diện ít nhất một tinh trùng di động, thu được từ cặn lắng sau lọc rửa, để tiêm vào trứng
- Yếu tố do vợ: Oehninger và cộng sự đã nghiên cứu 92 cặp vợ chồng, 1163 trứng được tiêm với tỷ lệ thụ tinh là 61% Tỷ lệ thụ tinh không bị ảnh hưởng bởi tuổi người phụ nữ, nhưng tỷ lệ mang thai thấp
Trang 356% cho những cặp mà tuổi người phụ nữ là < 34, 35-39, < 40 Kết quả thu được tương tự bởi Sherins và cộng sự, tỷ lệ có thai là 30% đối với cặp trẻ nhất và 13% đối với những cặp mà người phụ nữ lớn tuổi nhất
Tỷ lệ hiện tượng lệch bội lẻ tăng rõ đối với những phôi thu được từ trứng của người phụ nữ trên 40 tuổi so với phụ nữ dưới 35 tuổi Do vậy, dường như cơ hội thụ tinh không liên quan đến yếu tố do vợ, nhưng cơ hội mang thai sau ICSI chủ yếu có liên quan đến trứng
- Hoạt hóa trứng: Bình thường, trứng được hoạt hóa khi được tinh trùng gắn vào, hòa tan và xâm nhập Tuy nhiên sự hoạt hóa trứng trong quá trình ICSI có thể không cần thiết Tầm quan trọng của việc hoạt hóa trứng được chứng minh bởi Tesarik and Sousa là làm tăng tỷ lệ thụ tinh và mang thai trong quá trình ICSI bằng việc hút và tiêm nhanh vào
tế bào chất của trứng
- Tiêm vào tế bào chất/ tổn thương trứng: Trong quá trình ICSI, có thể xảy ra tổn thương trứng Kết quả của một số trung tâm thực hiện ICSI cho thấy tỷ lệ trứng bị tổn thương sau tiêm từ 7-14% Mặc dù những nguyên nhân chính xác về việc tổn thương trứng chưa được biết
rõ, nhưng có thể đó là kết quả của sự kết hợp giữa những rối loạn siêu cấu trúc và màng plasma, phá hủy thoi vô sắc, và/hoặc phóng thích tế bào chất của trứng ra ngoài khi tiêm Ngoài ra, một số nhân tố khác như thay đổi nhiệt độ gây nên biến đổi không thể phục hồi đối với thoi vô sắc của trứng người thực hiện kỹ thuật thành thạo góp phần làm giảm
tỷ lệ tổn thương trứng Palemo và cộng sự đã mô tả những đặc điểm
Trang 36màng trứng đã đáp ứng lại với việc hình thành chỗ thủng khi tiêm ICSI Khi đó, màng trứng, chỗ tiếp xúc với kim tiêm, không còn bình thường Thay vào đó, màng trứng sẽ không còn dính với nhau nữa, tế bào chất thoát ra ngoài và kết quả tỷ lệ tổn thương là 14% Những trứng được chứng minh là bị thủng nhiều hơn khi thu nhận từ người phụ nữ được điều trị với liều lượng gonadotropin cao hơn (do nồng độ estradiol thấp), dẫn tới thu được đồng thời trứng non và trứng trưởng thành Những đặc điểm kích thích buồng trứng có thể gây ảnh hưởng lên khả năng thành công sau ICSI
2.7 Điều trị vô sinh nam không có tinh trùng bằng kỹ thuật hút tinh trùng từ mào tinh và tiêm tinh trùng vào bào tương noãn [7]
Vô sinh không có tinh trùng là trường hợp không tìm thấy tinh trùng trong tinh dịch Theo một số báo cáo trên thế giới, tỉ lệ nam giới không
có tinh trùng có thể lên đến 1%, tỉ lệ không có tinh trùng ở các trường hợp vô sinh là từ 5-10% Kỹ thuật điều trị vô sinh không có tinh trùng
do tắc hiện đang được áp dụng rất phổ biến trên thế giới là hút tinh trùng từ mào tinh và tiêm tinh trùng vào bào tương trứng Kỹ thuật này
có thể điều trị cho hầu như tất cả các trường hợp không có tinh trùng do tắc Tỉ lệ thành công của 1 của một chu kỳ điều trị có thể thay đổi từ 30%-60%
III Một số kĩ thuật phục vụ cho SSCHT
3.1 Bảo quản tinh trùng [3]
Trang 37Việc bảo quản tinh trùng trong nitơ lỏng (-1960C) đã bắt đầu từ năm
1963, đến năm 1983 thì đến lượt các phôi Nhưng đến nay vẫn chưa có
kĩ thuật nào cho phép bảo quản trứng mà không làm hỏng thoi vô sắc
Tinh trùng được pha loãng trong một môi trường có chức năng bảo
vệ tinh trùng ở nhiệt độ thấp (môi trường Ackerman) trước khi được đông lạnh trong hơi nitơ lỏng ở -1960C Tinh trùng sẽ được giải phóng
ở nhiệt độ thường trước khi sử dụng
3.2 Các thao tác trên trứng thụ tinh và phôi trong khuôn khổ một quy trình SSCHT [3]
Các kĩ thuật vi thao tác cho phép hút bỏ bớt các tiền nhân đực thừa khi có hiện tượng đa thụ tinh
Kĩ thuật nuôi phôi cho đến giai đoạn túi phôi và phá vỡ vùng sáng trước khi cấy vào tử cung mẹ
Các kĩ thuật sinh học phân tử, đặc biệt là PCR được sử dụng để xác định một số đặc điểm của phôi Trước hết là xác định giới tính khi có khả năng phôi mang một đột biến di truyền trên nhiễm sắc thể giới tính,
ví dụ như sai hỏng trên NST X trong bệnh ưa chảy máu Ngoài ra, một
Trang 38số bệnh di truyền cũng có thể được xác định bằng kĩ thuật PCR trước khi phôi được cấy ghép Các kĩ thuật này, mặt khác, lại dẫn đến nhiều
ứng dụng lệch lạc, gây ra những tranh cãi lớn trên quan điểm đạo lí 3.3 Trữ lạnh trứng [10]
- Trữ lạnh trứng đầu tiên thành công vào năm 1986 Hiện nay trữ lạnh trứng được ứng dụng rộng rãi trên thế giới nhờ vào các thuận lợi sau:
+ Trữ lạnh trứng thích hợp đối với những phụ nữ chưa muốn có con vào thời điểm hiện tại, họ sẽ trữ lạnh trứng để có thể sử dụng khi
+ Trữ lạnh trứng đối với những phụ nữ chuẩn bị bước vào giai đọan điều trị có hại cho các tế bào, trong đó có thể đe dọa sức khỏe sinh sản của họ, ví dụ như trước khi điều trị ung thư bằng cách trị liệu
+ Trữ lạnh trứng cho những người cho trứng – thành lập “ngân hàng trứng” – tạo điều kiện thuận lợi và giảm bớt chi phí cho những phụ nữ không có khả năng sử dụng trứng của chính họ
Trang 39- Kỹ thuật trữ lạnh trứng được thực hiện tương tự như việc trữ lạnh phôi.
Trứng được trữ lạnh vào giai đọan trứng trưởng thành (MII) hoặc là trứng chưa trưởng thành (GV) Đối với những trứng chưa trưởng thành (GV), sau khi rã đông sẽ được nuôi cấy từ 1 – 2 ngày trong môi trường
in vitro để đạt đến giai đọan trưởng thành của trứng (MII)
- Trữ lạnh trứng cho đến nay chưa có báo cáo nào cho thấy có sự bất thường trong quá trình trữ lạnh hoặc rã đông trứng để sử dụng
- Tiêu chuẩn đánh giá kỹ thuật trữ lạnh trứng: phần trăm khả năng sống của trứng sau khi rã đông Theo nhiều báo cáo cho thấy tỷ lệ trứng sống sau rã đông phải đạt trên 50% số trứng trước khi trữ lạnh Một vấn
đề lớn thường xảy ra đó là trứng không thụ tinh tốt sau khi rã đông Đó
là do sự thay đổi cấu trúc của màng zona – đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến trứng không thụ tinh được với tinh trùng Và kỹ thuật ICSI - tiêm tình trùng vào bào tương trứng – được ứng dụng như
Trang 40là 1 phương pháp để tránh hầu hết các rào cản để trứng có thể thụ tinh bình thường.
3.4 Trữ lạnh phôi [2], [8], [11]
- Hiện nay, kỹ thuật điều trị vô sinh bằng thụ tinh trong ống nghiệm gắn liền với kích thích buồng trứng nhằm thu được nhiều trứng, tạo được nhiều phôi qua đó có được một số phôi tốt để chuyển trở lại vào
tử cung của người mẹ Kích thích buồng trứng sẽ có khả năng thừa phôi, nhưng nếu không kích thích buồng trứng thì tỷ lệ điều trị thành công sẽ thấp do ít phôi tốt Mặt khác, nếu chuyển nhiều phôi sẽ tăng tỷ
lệ đa thai, nhưng nếu đơn thuần hủy phôi thừa là điều đáng tiếc, thậm chí bị cấm ở một số quốc gia Trước những mâu thuẫn đó trữ phôi để chuyển sau này có thể xem là câu trả lời thích hợp nhất
- Phôi động vật đầu tiên được trữ thành công là phôi chuột vào năm
1972 Tiếp sau đó, kỹ thụật trữ phôi được phát triển và áp dụng cho trữ phôi gia súc Mãi đến năm 1983 phôi người đầu tiên mới được trữ thành công Trong một thời gian ngắn kỹ thuật trữ phôi được nghiên cứu phát triển, các quy trình trữ được đơn giản và tối ưu hóa Kể từ đó,
kỹ thuật trữ phôi trở thành một bộ phận không thể thiếu của kỹ thuật điều trị vô sinh bằng thụ tinh trong ống nghiệm
- Xét về tính chất, so với trữ phôi thì trữ trứng giúp hạn chế được những rắc rối pháp lý về quyền sở hữu phôi cũng như giúp cho việc cho trứng đơn giản và an toàn hơn Tuy nhiên xét về kỹ thuật, mặc dù trữ