Tuy nhiên do sự tập trung ngày càng nhiều số lượng cá thể các loài cò, vạc nên lượng chất thải từ các loài chim nước này càng nhiều bên cạnh đó các chất thải từ hoạt động của con người t
Trang 11
Nghiên cứu các biện pháp xử lý ô nhiễm nước hồ An Dương, xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
Dương Văn Vinh
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn Thạc sĩ ngành: Khoa học Môi trường; Mã số: 60 85 02
Người hướng dẫn: PGS.TS Trần Yêm
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Tìm hiểu điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội xã Chi Lăng Nam huyện
Thanh Miện, tỉnh Hải Dương; đảo cò Chi Lăng Nam; vấn đề ô nhiễm nước sông hồ
và biện pháp xử lý Nghiên cứu các biện pháp xử lý ô nhiễm nước hồ An Dương xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương ; phương pháp nghiên cứu: khảo sát thực địa, điều tra thu thập số liệu, đánh giá nhanh nhanh có sự tham gia của cộng đồng Nghiên cứu những nguyên nhân chính làm suy giảm chất lượng môi trường đất đảo cò, nước hồ An Dương; hiện trạng chất lượng môi trường nước hồ
An Dương; hiện trạng môi trường đất đảo cò; giải pháp kỹ thuật để cải thiện chất
lượng nước hồ An Dương và đất đảo cò
Keywords: Khoa học môi trường; Xử lý ô nhiễm; Hồ An Dương; Ô nhiễm nước
Content
Mở Đầu
Hồ An Dương, xã Chi Lăng Nam, Thanh Miện, Hải Dương với diện tích mặt hồ là 90.377,5 m2, với 2 đảo nhỏ nằm giữa hồ là nơi cư trú của khoảng 15.000 con cò và 5.000 con vạc Nước hồ ngày càng bị ô nhiễm do chất thải của đàn cò vạc, nước thải sinh hoạt chăn nuôi, đồng ruộng Tuy nhiên do sự tập trung ngày càng nhiều số lượng cá thể các loài
cò, vạc nên lượng chất thải từ các loài chim nước này càng nhiều bên cạnh đó các chất thải
từ hoạt động của con người thải xuống hồ đã làm chất lượng môi trường xung quanh đảo nói chung và chất lượng môi trường nước hồ An Dương nói riêng bị suy giảm Đây là một trong những nguy cơ ảnh hưởng tới đa dạng sinh học của hồ, cũng như gây trở ngại cho việc duy trì và phát triển bền vững đàn cò, vạc, ảnh hưởng tới việc duy trì phát triển du lịch sinh thái Đảo Cò, quan trọng hơn là ảnh hưởng tới việc gìn giữ cảnh quan nguyên sơ nhất
Trang 22
còn giữ lại của vùng đất ngập nước ven sông Hồng xa xưa Chính vì vậy nghiên cứu các biện pháp xử lý ô nhiễm nước hồ An Dương là cần thiết
Chương 1 - TỔNG QUAN
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI
1.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Chi Lăng Nam
a, Vị trí địa lý
Xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương cách Hà Nội khoảng 80km
về phía Đông, cách thành phố Hải Dương 34km, có tọa độ địa lý 200
42’53” vĩ độ Bắc,
106013’41’’ kinh độ Đông
Phía Bắc giáp xã Chi Lăng Bắc;
Phía Nam giáp xã Diên Hồng;
Phía Đông giáp xã Ngũ Hùng - Thanh Giang;
Phía Tây giáp huyện Phù Tiên - Hưng Yên
1.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội
Trang 33
phương án phân bổ đất canh tác và vùng cây lương thực hợp lý, kết hợp với phát triển đa dạng về dịch vụ và nghề thủ công truyền thống
b, Về văn hóa - xã hội
Hiện nay, dân số xã Chi Lăng Nam là 5.415 người, mật độ dân số là 1.027 người/km2, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,67%, trong đó: thôn An Dương có 1.855 người, thôn Triều Dương có 1.879 người, thôn Hội Yên có 1.651 người
1.2 ĐẢO CÒ CHI LĂNG NAM
Theo các cụ già ở thôn An Dương, Đảo Cò được hình thành khoảng thế kỷ 15, vào thời kỳ đó khu vực Đảo Cò vẫn còn là những cánh đồng ruộng trũng mênh mông, nổi trên giữa cánh đồng là một gò cao, tuy nhiên do các trận lũ lớn làm vỡ đê sông Luộc, nước tràn vào làm ngập cả một vùng, gò cao đó không biến mất mà hình thành một đảo nhỏ còn tồn tại đến ngày nay
Người dân coi đây là vùng nước thiêng, không bao giờ tát cạn được nên đã sống dạt
ra phía ngoài hồ Theo nhịp thời gian, cò và vạc bắt đầu đến trú ngụ ở đảo mỗi ngày một nhiều, Đảo Cò Chi Lăng Nam cũng bắt đầu hình thành từ đó
1.2.1 Đặc điểm thủy văn của hồ An Dương
Hồ An Dương có diện tích mặt nước 90.377,5m2
với độ sâu dao động từ 3 - 8m, chỗ sâu nhất tới 18m Thời gian nước cạn nhất trong năm diễn ra từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, trong khi đó thời gian nước cao nhất là từ tháng 6 đến tháng 10 Hồ có chức năng chính là tiêu nước cho thôn An Dương và Triều Dương ở phía trên, đồng thời cung cấp nước tưới cho cánh đồng Đống Trâu giáp ranh với hồ ở phía Đông Nam vào mùa khô
a, Các dòng nước chảy vào hồ
Dòng nước chính chảy vào hồ qua cống tiếp nhận ở phía Tây Bắc, gần với đường bộ dẫn vào hồ là kênh tiêu nước của thôn Triều Dương và phần lớn thôn An Dương ở phía trên Ở phía Đông Bắc của hồ, gần khu vực cánh đồng Đống Trâu còn có cống tiêu thông với sông Luộc Vào mùa cạn cống này được mở để nước từ sông Luộc chảy vào hồ
Hồ còn tiếp nhận một lượng lớn nước mưa từ các khu vực xung quanh Chỉ tính riêng khu vực hồ với lượng nước mưa trung bình là 1.500mm thì một năm đã tiếp nhận khoảng 125.000m3 Vào mùa mưa, nước từ khu vực cánh đồng Đống Trâu cũng được tháo trực tiếp xuống hồ để không gây ngập úng cho lúa
Các mạch ngầm trong hồ cung cấp một lượng nước đáng kể cho hồ Hồ còn tiếp nhận nước thải sinh hoạt của các hộ dân sống xung quanh
Trang 44
b, Các dòng chảy nước ra khỏi hồ
Cống tiêu chính của hồ nằm ở phía Đông Nam Tại cống này có trạm bơm Mi Động với công suất 3000m3/giờ, để bơm nước từ hồ ra sông Luộc vào mùa mưa Ngoài ra vào mùa mưa cống tiêu ở phía Đông Bắc hồ gần khu vực Đống Trâu được mở để nước của hồ thoát ra sông Luộc
Dòng nước ra khỏi hồ còn bao gồm sự bốc thoát hơi nước và sự tích nạp nước cho các mạch nước ngầm
Vào mùa khô, hồ còn cung cấp nước tưới cho cánh đồng khu vực Đống Trâu
1.2.2 Hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên
1.2.3 Hiện trạng hoạt động du lịch tại khu vực Đảo Cò
1.2.4 Ý nghĩa kinh tế xã hội của Đảo Cò Chi Lăng Nam
1.2.5 Những cơ hội và thách thức đối với phát triển khu du lịch Đảo Cò
1.3 Ô NHIỄM NƯỚC SÔNG, HỒ VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ
1.3.1 Ô nhiễm nước sông, hồ
1.3.2 Xử lý ô nhiễm môi trường nước bằng biện pháp sinh học
Trang 55
Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Khu vực nghiên cứu bao gồm khu vực hồ An Dương thuộc xã Chi Lăng Nam, Thanh Thanh Miện, Hải Dương Diện tích khu vực nghiên với diện tích mặt nước hồ là 90.377,5m2, và diện tích Đảo Cò (đảo mới và đảo cũ) là 7.324,2m2
Các nguồn gây ô nhiễm nước hồ An Dương và đất Đảo Cò, các yếu tố môi trường
bị ảnh hưởng (nước hồ An Dương, đất Đảo Cò), các biện pháp cải thiện chất lượng môi trường nước hồ An Dương, đất Đảo Cò cũng là đối tượng nghiên cứu
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp khảo sát thực địa
2.2.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
2.2.3 Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng
2.2.4 Bố trí thí nghiệm và phân tích trong phòng thí nghiệm
Thí nghiệm 1 xử lý nước bằng bèo lục bình
Thí nghiệm nghiên cứu khả năng sử dụng bèo lục bình để cải thiện chất lượng nước
hồ An Dương được tiến hành tại trụ sở BQL Đảo Cò (cách bờ hồ khoảng 10m) Thời gian lấy mẫu nước đầu tháng 1 năm 2012 (vào mùa khô) Mẫu nước được lấy tại vị trí cách bờ đảo cũ khoảng 3m (theo tiêu chuẩn lấy mẫu nước mặt TCVN 6663-1:2011) sau đó mẫu
nước này được cho vào 4 thùng xốp có thể tích bằng nhau (60cm x 45cm x 40cm) và được
thả bèo cao khoảng 5cm không tính phần rễ theo các trường hợp:
- Đối chứng: Không thả bèo
- CT1: Thả bèo 1/3 mặt thùng xốp
- CT2: Thả bèo 1/2 mặt thùng xốp
- CT3: Thả bèo kín mặt thùng xốp
Trang 66
Hình 2.1 Mô hình bố trí thí nghiệm xử lý nước bằng bèo lục bình
Lấy mẫu nước sau khi thả bèo 15 ngày, 30 ngày và 45 ngày, tiến hành phân tích mẫu nước so sánh hiệu quả với mẫu đối chứng (là mẫu không thả bèo lục bình), phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước chủ yếu như: pH, SS, BOD5, COD, Pts, Nts, NH4+, NO3-
Thí nghiệm 2 xử lý nước lẫn phân cò vạc bằng cây sậy
Thí nghiệm được tiến hành vào tháng 10/2012 tại Hà Nội: Dùng đất ruộng lúa cho
vào 4 thùng xốp có kích thước như nhau (60cm x 45cm x 40cm), chiều dày lớp đất trong
mỗi thùng xốp là 10 cm Trồng sậy vào 3 thùng xốp với mật độ 6 cây/thùng xốp (sậy có chiều cao thân khoảng 80cm), còn lại 1 thùng không trồng để so sánh đối chứng
Hòa 400 gam phân cò vạc vào 300 lít nước sạch, để nước ổn định trong 48 giờ với mục đích cho nước lắng cặn sau đó loại bỏ phần cặn và đổ nước vào 4 thùng xốp với lượng nước như nhau, đổ nước vào thùng xốp vào thời điểm 7 ngày sau khi trồng sậy, lúc này sậy
đã bắt đầu bắt đầu bén rễ, đâm chồi , thích nghi với môi trường mới Tiến hành phân tích mẫu nước trước và sau khi xử lý bằng cây sậy trong 7 ngày, xác định hiệu quả thí nghiệm Phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước chủ yếu như: pH, SS, BOD5, COD, Pts, Nts, NH4+,
NO3-
Trang 77
Hình 2.2 Mô hình bố trí thí nghiệm xử lý nước lẫn phân cò vạc bằng cây sậy
Thí nghiệm 3 xử lý đất lẫn phân cò vạc bằng cây sậy
Thí nghiệm được tiến hành vào tháng 10/2012 tại Hà Nội: Trộn 150g phân cò vạc
với 20kg đất, toàn bộ lượng đất này được chứa trong một thùng xốp có thể tích (60cm x
45cm x 40cm), tiến hành tương tự với 4 thùng xốp khác nhau, dùng nước sạch tưới đủ ẩm
lên lớp đất có trong thùng xốp Tiến hành trồng sậy với 3 thùng xốp và 1 thùng xốp không trồng, sậy có chiều cao thân trung bình 80cm, với mật độ 6 cây/1 thùng xốp Tiến hành lấy mẫu đất trước và sau khi trồng sậy được 10 ngày, so sánh với mẫu đối chứng xác định hiệu quả biện pháp Các chỉ tiêu được phân tích là Nts, P2O5, K2O
Trang 88
Hình 2.3 Mô hình bố trí thí nghiệm xử lý đất lẫn phân cò vạc bằng cây sậy
Thí nghiệm 4 xử lý nước bằng lọc sỏi, cát và xỉ than có bổ sung SANBOS để xử lý nước mưa chảy tràn lẫn phân cò vạc
Biện pháp được đề xuất là xử lý nước mưa chảy tràn lẫn phân cò từ Đảo Cò xuống
hồ bằng lọc sỏi, xỉ than, cát vàng có bổ sung SANBOS Thí nghiệm được thực hiện tại Hà Nội như sau:
Một hộp gỗ có chiều dài 240cm, rộng 60cm, cao 50cm được chia làm ba ngăn, mỗi
ngăn có kích thước như sau: 80cm x 80cm x 80cm (tính theo chiều dài) Ngăn 1 nước có
chứa phân cò theo tỷ lệ: 200 gam phân cò vạc hòa trong 50 lít nước sạch, ngăn 2 chứa sỏi,
xỉ than và cát vàng, ngăn 3 chứa nước sau khi đã xử lý qua ngăn 2 Hóa chất SANBOS được bổ sung vào ngăn thứ 2 với liều lượng 30 gam xử lý cho 50 lít nước thải (liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuât là 600g xử lý cho 1000 lít nước thải) Tiến hành lấy mẫu ngăn
1 và ngăn 3 phân tích xác định hiệu quả thí nghiệm Các chỉ tiêu được phân tích là SS, BOD5, COD, pH, Pts, Nts, NH4+, NO3-
Hoạt động của hệ thống: Đổ nước đã pha phân cò vạc vào ngăn 1, từ đây nước được ngấm dần qua ngăn 2 để sang ngăn 3 (các ngăn được ngăn cách với nhau bởi các tấm xốp
có đục lỗ nhỏ để nước có thể chảy qua) Đánh giá hiệu quả xử lý với thời gian 3 ngày, 5 ngày trong các trường hợp không bổ sung và có bổ sung SANBOS Hai thí nghiệm này được tiến hành cách nhau 3 ngày, thí nghiệm không bổ sung SANBOS được tiến hành trước, sau đó tiến hành thí nghiệm có bổ sung SANBOS bằng cách thay lớp lọc sỏi, xỉ than, cát vàng trong ngăn 2 bằng lớp lọc sỏi, xỉ than và cát vàng mới
Hình 2.4 Sơ đồ mô hình bố trí thí nghiệm xử lý nước bằng lọc sỏi, xỉ than, cát
80cm 80cm
80cm
Ngă n 3 Ngă n 2
Ngă n 1
Sỏ
i
Xỉ than Cát
Nướ c sau khi xử lý Nướ c có chứa phân
cò
Trang 99
Hình 2.5 Mô hình thí nghiệm xử lý nước bằng phương pháp lọc sỏi, xỉ than, cát
Thí nghiệm 5 xử lý nước bằng lọc sỏi, cát và xỉ than có bổ sung EM để xử lý nước mưa chảy tràn lẫn phân cò vạc
Thí nghiệm được tiến hành tương tự như thí nghiệm dùng SANBOS Dùng 0,05 lít
EM bổ xung vào hệ thống ngăn lọc 2 (liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất là 1/1000 so với lượng nước thải), phân tích mẫu nước trước khi xử lý và sau 3 ngày, 5 ngày trong các trường hợp có bổ sung EM và không bổ sung EM vào ngăn 2 để xác định hiệu quả thí nghiệm
2.2.5 Thu mẫu ngoài hiện trường và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
2.2.6 Tổng hợp và phân tích số liệu
Trang 1010
Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 NHỮNG NGUYÊN NHÂN CHÍNH LÀM SUY GIẢM CHẤT LƯỢNGMÔI TRƯỜNG ĐẤT ĐẢO CÒ, NƯỚC HỒ AN DƯƠNG
3.1.1 Hoạt động cư trú của cò và vạc
Đảo Cò là nơi tập trung của một số lượng lớn cá thể cò vạc, hoạt động cư trú của đàn cò vạc này gây ra một số vấn đề môi trường do phân và chất thải của chúng, vi trùng và kí sinh trùng sống kí sinh trên cơ thể cò vạc, xác cò vạc chết
Lượng N, P, K tổng số trung bình trong phân cò vạc lần lượt là 1,75% (N), 2% (P2O5) và 1,25% (K2O) Như vậy hàng năm có khoảng 1.750 kg nitơ, 2.000 kg kali và 1.250 kg phốtpho được thải ra, nếu không có biện pháp xử lý sẽ dẫn đến nguy cơ gây phú dưỡng nước hồ An Dương
3.1.2 Hoạt động dân sinh
160 nhân khẩu hằng ngày thải xuống hồ An Dương khoảng: 11.200 - 23.200g SS; 7.200 - 8.640g BOD5; 11.520 - 16.320g COD; 384 - 768g NH4+; 960 - 1.920g Nts; 128 - 640g Pts Lượng nước thải trực tiếp từ 27 hộ dân sống xung quanh hồ và nguồn thải từ các khu vực dân cư khác xâm nhập vào hồ là nguồn gây suy giảm chất lượng nước hồ
3.1.3 Hoạt động du lịch
Trong những năm gần đây , trung bình mỗi năm Đảo Cò đón tiếp khoảng 20.000 lượt khách du li ̣ch đến thăm quan Giả sử thời gian thăm quan tại khu vực là 12h, kết hợp với bảng 3.1, với 20.000 lượt khách/năm thì trung bình một năm có 700 - 1.450 kg TSS;
450 - 540 kg BOD5; 720 - 1.020 kg COD; 24 - 48kg NH4+; 60 - 120kg tổng Nitơ và 8 - 40kg tổng Photpho được thải ra tại đây
3.1.4 Hoạt động nông nghiệp
Trang 1111
a, Trồng trọt
Theo điều tra hồ An Dương là nơi tiếp nhận nước từ cánh đồng Đống Trâu, đặc biệt
là vào mùa mưa toàn bộ lượng nước từ cánh đồng này được tháo xuống hồ để tránh ngập úng Do vậy, lượng tồn dư thuốc BVTV và phân bón sẽ theo dòng nước vào hồ
Với cánh đồng Đống Trâu rộng 36ha thì mỗi ngày đã phát sinh lượng chất thải: 4,32kg BOD5; 540kg SS ; 6,84kg Nts; 0,072kg Pts Như vậy có thể thấy lượng chất ô nhiễm
từ đồng ruộng là tương đối lớn, vào mùa mưa một lượng lớn chất ô nhiễm này theo dòng nước vào hồ An Dương là nguy cơ suy giảm chất lượng nước hồ
(+) Chăn nuôi
Theo điều tra, tỷ lệ các hộ dân trong xã đã xây hầm chứa Biogas để xử lý chất thải chăn nuôi đạt 60%, số các hộ dân thu gom chất thải chăn nuôi để bón cho cây trồng khoảng 20% Do vậy, vẫn còn lượng phân của 20% số hộ gia đình được thải vào môi trường và một phần trong số này sẽ trực tiếp và gián tiếp xâm nhập vào hồ qua nhiều con đường Đây
sẽ là một mối nguy hại cho chất lượng hồ vì nếu kết hợp với chất dinh dưỡng có trong phân cò, vạc và lượng phân bón tồn dư xâm nhập vào hồ sẽ gây phú dưỡng nước hồ
Theo kết quả điều tra hiện nay trên địa bàn thôn An Dương và Triều Dương có khoảng 1.500 con lợn, 65 con bò (do hồ An Dương là nơi tiếp nhận nước thải chủ yếu địa bàn thôn An Dương và Triều Dương nên ở đây chúng tôi đưa ra số liệu tính toán lượng chất thải phát sinh từ vật nuôi trên địa bàn thôn An Dương, Triều Dương làm cơ sở tính toán) Với khoảng 1.500 con lợn và 65 con bò hàng ngày sẽ thải ra môi trường: 68.410 - 203.410 lít nước thải; 973.000g BOD5; 4.545.500g SS; 437.600g Nts; 76.625g Pts Lượng chất ô nhiễm này nếu không được xử lý sẽ theo hệ thống các kênh mương vào hồ An Dương góp phần làm suy giảm chất lượng nước
3.2 HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC HỒ AN DƯƠNG
Kết quả phân tích các mẫu nước được lấy vào mùa mưa (6/2011) và mùa khô (11/2011), và được so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt (so sánh với cột A2, B1), từ đó ta có thể đánh giá được hiện trạng chất lượng nước hồ An Dương hiện nay
Nhận xét : Có sự chênh lệch kết quả phân tích các chỉ tiêu hóa học trong nước hồ An
Dương giữa mùa mưa và mùa khô , vào mùa mưa, nước mưa và nước tưới tiêu chảy qua hồ
An Dương đã pha loãng và giảm hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong nước hồ , tuy nhiên
Trang 123.3 HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT ĐẢO CÒ
Chất lượng môi trường đất , thực vật và nước hồ tại Đảo Cò có m ối liên hệ với nhau Sự sinh trưởng và phát triển của thực vâ ̣t tại Đảo Cò chi ̣u tác đô ̣ng rất lớn bởi hàm lượng các chất dinh dưỡng cũng như các quá trình sinh ho ̣c , hóa học diễn ra trong đất Vì
vâ ̣y nghiên cứu chất lượng môi trường đất là rất cần thiết trong viê ̣c bảo tồn và phát triển bền vững các loài chim cư trú tại đây
Nhận xét chất lượng môi trường đất Đảo Cò
Nhìn chung, hàm lượng tổng số các chất dinh dưỡng của các mẫu đất tại Đảo Cò dao động từ trung bình đến giàu Tại những vị trí có cò vạc sinh sống, các chất dinh dưỡng tích lũy nhiều hơn so với các vị trí khác Điều này có thể thấy rõ qua sự chênh lệch hàm lượng giá trị dinh dưỡng giữa các vị trí lấy mẫu với thang đánh giá tiêu chuẩn
Sự phân hủy một lượng lớn chất hữu cơ có trong phân cò, vạc trong điều kiện hiếu khí đã tạo ra nhiều CO2 và các axit hữu cơ làm chua đất Sự có mặt của một lượng lớn phân cò cùng với hoạt động sống của chúng là nguyên nhân chủ yếu khiến lá cây bị rụng đồng thời giảm khả năng quang hợp của cây do phân của cò vạc đọng lại trên lá Đây là nguy cơ ảnh hưởng đến sự bảo tồn và phát triển Đảo Cò
Sự phân hủy các hợp chất hữu cơ từ phân cò vạc và xác cò vạc chết tạo ra các chất khí như NH3, H2S, CH3SH và CH3(CH2)3SH còn làm ô nhiễm môi trường không khí quanh khu vực Đảo Cò Bên cạnh đó, các loài vi sinh vật cũng như kí sinh trùng trên cơ thể cò, vạc có thể lây truyền dịch bệnh không những cho các gia cầm và thủy cầm mà còn cho con người Điều này gây hạn chế lớn cho việc phát triển du lịch và bảo vệ sức khỏe người dân tại khu vực
3.4 GIẢI PHÁP KỸ THUẬT ĐỂ CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC HỒ AN DƯƠNG VÀ ĐẤT ĐẢO CÒ
3.4.1 Nghiên cứu khả năng sử dụng bèo lục bình để cải thiện chất lượng nước hồ An
Trang 1313
Dương