Nghiên cứu biến động đường bờ biển phục vụ quản lý tai biến xói lở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Bùi Quang Dũng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn ThS chuyên ngành: Sử dụng và bảo vệ t
Trang 1Nghiên cứu biến động đường bờ biển phục vụ quản lý tai biến xói lở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Bùi Quang Dũng
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn ThS chuyên ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
Mã số: 60 85 15 Người hướng dẫn: PGS.TS Vũ Văn Phái
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Nghiên cứu biến động bờ biển ở trong nước và trên thế giới Xác định rõ các
nhân tố tự nhiên và xã hội ảnh hưởng đến biến động bờ biển vùng nghiên cứu Nghiên cứu hiện trạng biến động bờ biển các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong khoảng thời gian từ
1965 đến nay Xác định được nguyên nhân trực tiếp gây ra và các nhân tố ảnh hưởng đến biến động bờ biển vùng nghiên cứu Đề xuất một số các giải pháp thích hợp nhằm hạn
chế, giảm thiểu tai biến biến động bờ biển khu vực nghiên cứu
Keywords: Bảo vệ tài nguyên môi trường; Đường bờ biển; Tai biến xói lở; Vũng Tàu
Content
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Bà Rịa-Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thuộc vùng Đô thị Thành Phố Hồ Chí Minh Đây chính là cửa ngõ của các tỉnh miền Đông Nam Bộ hướng ra Biển Đông và cũng là một trong ba cực tam giác tăng trưởng kinh tế Nam Bộ với thế mạnh khai thác dầu khí, du lịch, đánh bắt hải sản và giao thông vận tải đường biển vởi cảng nước sâu Cái Mép ở cửa sông Thị Vải Với đường bờ biển dài, nhiều bãi tắm đẹp, cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng giúp cho Bà Rịa - Vũng Tàu trở thành một trong những trung tâm du lịch hàng đầu cả nước Hàng loạt dự án du lịch lớn đã và đang được thẩm định và cấp phép như: Saigon Atlantis (300 triệu USD), Công viên giải trí Bàu Trũng và Bể cá ngầm Nghinh Phong (500 triệu USD), công viên bách thú Safari Xuyên Mộc (200 triệu USD)
Trang 2Tuy nhiên, trong những năm gần đây bờ biển Bà Rịa – Vũng Tàu bị biến đổi rất mạnh
mẽ Có thể nói, hoạt động phá hủy đang xảy ra trên toàn bộ chiều dài bờ biển trong khu vực Bờ biển lấn sâu vào đất liền phá hủy các công trình ven bờ gây ra hậu quả rất nặng nề, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư địa phương cũng như chi phí khắc phục,
hạn chế tác hại của xói lở bờ biển gây ra Vì vậy Đề tài: “Nghiên cứu biến động đường bờ biển
phục vụ quản lý tai biến xói lở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” là rất cần thiết
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu chung: Làm sáng tỏ hiện trạng và nguyên nhân biến đổi bờ biển tỉnh Bà
Rịa-Vũng Tàu qua các giai đoạn phục vụ cho quản lý tai biến xói lở khu vực nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu
1) Làm sáng tỏ tình hình nghiên cứu biến động bờ biển ở trong nước và trên thế giới
2) Xác định rõ các nhân tố tự nhiên và xã hội ảnh hưởng đến biến động bờ biển vùng nghiên cứu 3) Làm sáng tỏ hiện trạng biến động bờ biển các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong khoảng thời gian
từ 1965 đến nay
4) Xác định được nguyên nhân trực tiếp gây ra và các nhân tố ảnh hưởng đến biến động bờ biển vùng nghiên cứu
5) Đề xuất một số các giải pháp thích hợp nhằm hạn chế, giảm thiểu tai biến biến động bờ biển khu vực nghiên cứu
3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu biến động bờ biển
Nội dung 2: Phân tích các nhân tố động lực gây biến động bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu
Nội dung 3: Phân tích biến động bờ biển khu vực nghiên cứu
Nội dung 4: Đề xuất và định hướng các giải pháp
4 Giới hạn phạm vị nghiên cứu
Luận văn tiến hành thực hiện trên phạm vi 82km bờ Đông tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bao gồm 12km bờ đá và 70km bờ cát chạy dài từ bờ biển xã Bình Châu huyện Xuyên Mộc đến bờ biển khu vực Núi Lớn thành phố Vũng Tàu
Trang 3Nội dung của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, sẽ được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu biến động đường bờ
Chương 2: Nhân tố ảnh hưởng đến biến động đường bờ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Chương 3: Đánh giá khả năng biến động dựa vào chỉ số tổn thương bờ biển phục vụ
quản lý tai biến xói lở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM
Đường bờ biển Theo quan niệm chung, đường bờ biển là ranh giới tiếp xúc giữa biển và
đất liền
Đường bờ trong (coastline) là ranh giới tác động cao nhất của sóng trong năm (thường là
sóng bão) với đất liền;
Đường bờ ngoài (shoreline) là ranh giới tác động của sóng vào lúc thủy triều cao trung
bình
Tính dễ bị tổn thương của bờ biển (coastal vulnerability) Tính dễ bị tổn thương, nói
chung, là một thuật ngữ được sử dụng khi đánh giá tai biến hoặc rủi ro Khi có tai biến hoặc rủi
ro xảy ra, thì một hay nhiều hợp phần nào đó của tự nhiên hay xã hội sẽ có những phản ứng lại đối với chúng
1.2 CƠ Sở LÝ LUậN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ
1.2.1 Cơ sở lý luận: cách tiếp cận hệ thống
Tiếp cận hệ thống là phương pháp luận sử dụng để giải quyết những vấn đề thực tế trên
cơ sở xem xét xử lý đầy đủ các đặc điểm hệ thống của đối tượng Các công cụ chủ yếu của tiếp cận hệ thống là vận trù học, lý thuyết điều khiển và lý thuyết hệ thống Khi áp dụng phương pháp
luận hệ thống vào thực tiễn cần chú ý các vấn đề: Tính nhất thể; Tính hướng đích của hệ thống;
Tính trồi; Cấu trúc, hành vi, phân cấp
Trang 41.2.2 Các phương pháp nghiên cứu
1.2.2.1 Thiết lập các đường bờ trong lịch sử
Để đánh giá biến động bờ biển trong tương lai người ta phải dựa vào tốc độ biến động đường bờ trên cơ sở thay đổi vị trí của nó theo thời gian Do đó, trước hết cần phải thiết lập được các đường bờ biển trong lịch sử Các tài liệu có thể giúp xác lập các đường bờ qua các thời kỳ khác nhau là các bản đồ, ảnh hàng không và ảnh viễn thám, đo vẽ theo hệ thống định vị toàn cầu, hoặc hiện đại hơn là đo vẽ LIDAR
1.2.2.2 Chỉ số mức độ tổn thương bờ biển
Chỉ số mức độ tổn thương bờ biển (Coastal Vulnerability Index - CVI) được tính toán
theo 6 biến số là: địa mạo, biến động đường bờ, độ nghiêng của bờ, thay đổi mực nước biển tương đối, độ cao sóng có ý nghĩa và độ lớn thủy triều CVI được tính như sau:
CVI =
6
*
*
*
*
*b c d e f a
ở đây a là địa mạo, b là tốc độ biến động đường bờ, c là độ nghiêng của bờ, d là thay đổi mực nước biển tương đối, e là độ cao sóng có ý nghĩa trung bình và f là độ cao trung bình của thủy
triều
1.2.2.3 Các phương pháp địa mạo
1) Phương pháp phân tích hình thái - động lực
Thực chất đây là phương pháp hình thái- nguồn gốc Nhưng do địa hình bờ biển đều được hình thành chủ yếu do các tác nhân động lực của biển, như sóng và dòng chảy do nó sinh ra, thủy triều, hoặc có sự kết hợp của cả sóng và thủy triều, hoặc giữa biển và sông, v.v Giữa hình thái địa hình bờ biển và các nhân tố động lực thành tạo chúng có mối liên quan rất mật thiết với nhau theo quan hệ nhân - quả
2) Phương pháp phân tích trắc lượng hình thái
Đây là một trong những phương pháp nghiên cứu địa mạo truyền thống và mang lại hiệu quả cao Tài liệu được sử dụng trong phương pháp này là bản đồ địa hình năm năm xuất bản khác nhau của vùng nghiên cứu Dựa vào bản đồ địa hình và quan sát ngoài thực tế, có thể cho ta thấy bờ biển dốc hay thoải Trên cơ sở độ mau-thưa và sự phân bố của các đường bình độ, có thể
Trang 5thấy được hình dạng của địa hình: kéo dài, đẳng thước, lồi hay lõm Nếu trên một vùng bằng phẳng, độ mau của các đường bình độ, có thể cho thấy đó là đá gốc có độ bền vững cao
3) Phương pháp phân tích hình thái - thạch học
Cơ sở của phương pháp này được dựa trên mối liên quan chặt chẽ giữa đặc điểm hình thái với các tính chất của vật liệu (đất đá gắn kết hay bở rời, kích thước hạt, v.v.) tạo nên chúng Chẳng hạn, độ dốc của bãi phụ thuộc rất nhiều vào kích thước hạt Hạt càng thô, độ dốc của bãi càng lớn
và ngược lại
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CứU
1.3.1 Nghiên cứu biến động bờ biển trên thế giới
Biến động bờ biển tự nhiên bao gồm xói lở bãi cũng như vùng đất ven biển và tích tụ trầm tích để tạo ra một vùng đất mới là một hiện tượng tự nhiên trong quá trình tiến hóa vùng bờ biển Nó xảy ra sau những thay đổi về mực nước biển tương đối, khí hậu và các nhân tố khác trên những quy mô thời gian-không gian khác nhau từ các sự kiện theo thời gian địa chất đến các hiện tượng cực đoan trong khoảng thời gian ngắn Nó cũng có thể được làm tăng lên bởi các hoạt động của con người hoặc là ngay tại bờ, hoặc trên các lưu vực sông, đặc biệt trên các lưu vực sông lớn vốn có nguồn cung cấp một lượng trầm tích to lớn cho bờ biển, như sông Hoàng Hà, Trường Giang, Ấn-Hằng, sông Mê Kông và sông Hồng ở Việt Nam
1.3.2 Nghiên cứu biến động bờ biển ở Việt Nam
Cũng như trên quy mô toàn cầu, bờ biển Việt Nam bị biến đổi theo những quy luật của tự nhiên: xói lở và bồi tụ Đây là hai mặt của một quá trình tiến hóa bờ biển Việt Nam đã được ghi nhận trong các văn liệu từ lâu Tuy nhiên, việc nghiên cứu quá trình này chỉ mới được bắt đầu trong khoảng thời gian gần đây
1.3.3 Nghiên cứu biến động bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Bờ biển Bà Rịa – Vũng Tàu trong những năm gần đây đang bị xói lở nghiêm trọng đặc biệt trong các đoạn bờ như Bình Châu, Hồ Tràm, Lộc An, Cửa Lấp Tuy chưa có thiệt hại về người, nhưng xói lở bờ biển đã làm mất đất, làm sập đổ các công trình, đe dọa đường giao thông, v.v gây ảnh hưởng đến tâm lý của người dân
Trang 6CHƯƠNG 2 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bà Rịa - Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ, tiếp giáp tỉnh Đồng Nai ở phía bắc, Thành phố Hồ Chí Minh ở phía tây, tỉnh Bình Thuận ở phía đông, còn phía nam giáp Biển Đông
Đường bờ biển phần đất liền là 104 km (không kể bờ biển huyện Côn Đảo), trong đó có
70 km là bờ cát (từ mũi Nghinh Phong về phía Đông - Bắc), 12 km bờ đá (Núi Lớn, Núi Nhỏ và núi Kỳ Vân) và 22 km bờ biển thấp cấu tạo bằng bùn - sét (trong vịnh Gành Rái)
2.1 CÁC NHÂN TỐ NỘI SINH
2.1.1 Cấu trúc địa chất
Đới cấu trúc Đà Lạt: nằm phía Bắc, Tây Bắc đứt gãy Hòn Khoai - Cà Ná kéo dài từ vịnh
Ba Kiềm về tới thành phố Vũng Tàu Đới cấu trúc Đà Lạt cơ bản là một khối nâng tương đối Tuy nhiên vào Holocen sớm giữa ở trung tâm khu vực nghiên cứu có sự sụt lún cục bộ, tạo một đới trũng ở độ sâu 25 - 30m nước, đới trũng này do bị thiếu hụt trầm tích nên bề dày của trầm
tích Holocen mỏng hơn so với vùng còn lại Đới cấu trúc bồn trũng Cửu Long: nằm ngoài khơi
phía Nam đới nâng Đà Lạt, trong phạm vi nghiên cứu chỉ thấy được một phần của đới sụt này Đặc trưng cấu tạo của đới là một đơn nghiêng, trên băng địa chấn nông phân giải cao quan sát thấy chiều dày lớp phủ Đệ tứ khá lớn, trên bề mặt địa hình cũng tạo ra một máng trũng chạy dài theo phương Đông Bắc - Tây Nam Đới cấu trúc bồn trũng Cửu Long: được chia 2 tầng cấu trúc
2.1.2 Đặc điểm thạch học
1 Hệ tầng Nha Trang (Knt): lộ ra thành các chỏm nhỏ nằm rải rác ven biển ở khu
vực mũi Kỳ Vân và mũi Vũng Tàu Trong không gian chúng có quan hệ khăng khít với granit phức hệ Đèo Cả
2 Trầm tích sông biển (amQ1 3): Phân bố trong vịnh Gành Rái, và các vùng cửa sông
Bà Đáp, Cửa Lấp Thành phần thạch học gồm: bùn cát chứa sạn, cát, cát sạn, cát pha bột lẫn sạn nhỏ và bột sét, ít cát lẫn vụn thực vật, trầm tích có màu xám, xám nâu, xám tối, ở khu vực cửa sông Cửa Lấp trầm tích còn chứa các vỏ sò ốc do sóng biển đưa từ ngoài vào Bề dày
thay đổi 1 - 5m
Trang 73 Trầm tích biển (mQ1 3 ): Phân bố dọc theo dải đồng bằng ven biển nằm ở độ cao 2-4m
thuộc các xã Phước Long Hội, Lộc An, Phước Thuận và thành phố Vũng Tàu Thành phần trầm tích gồm: cát thạch anh màu trắng hạt trung đến nhỏ, cát bột sét màu xám Bề dày 2 - 6m
4 Trầm tích biển (mQ2 3) : Phân bố hầu khắp chiều dài bờ biển vùng nghiên cứu, có
chiều rộng trung bình 500m từ lục địa ra đến vùng biển ven bờ Thành phần trầm tích gồm: cát thạch anhm ilmenit, bột, sét, xác sinh vật
2.2 CÁC NHÂN TỐ NGOẠI SINH
2.2.1 Địa hình ban đầu
2.2.1.1 Địa hình lục địa ven biển:
Do nằm ở vị trí tiếp xúc giữa khối cao nguyên Đà Lạt nâng mạnh ở phía Bắc và vùng đáy biển sụt lún trong giai đoạn Kainozoi (trũng Cửu Long) đồng thời chịu sự chi phối mạnh của hệ thống sông rạch chằng chịt (sông Dinh, sông Ray, sông Thị Vải, ), nên địa hình lục địa ven biển khu vực Hồ Tràm - Vũng Tàu chia làm hai dạng điển hình Dạng 1 là các khối núi thấp ven biển với độ cao dưới 300 mét bị phân cắt bóc mòn mạnh Dạng 2 là đồng bằng lục địa ven biển: bao gồm các đồng bằng nhỏ trước núi, giữa núi và các đồng bằng tam giác châu thổ
2.2.1.2 Địa hình đường bờ:
Đường bờ biển Hồ Tràm - Vũng Tàu được chia làm 2 phần rõ rệt: từ mũi Hồ Tràm đến mũi Vũng Tàu đường bờ có hướng kéo dài theo phương Đông, Đông Bắc - Tây Nam với hệ số thẳng của đường bờ đạt khoảng 0,68, bị phân cắt bởi các mũi nhô, được cấu tạo bởi đá magma phức hệ Đèo Cả (ở mũi Vũng Tàu) và phun trào hệ tầng Nha Trang ở mũi Kỳ Vân (Long Hải) Các đoạn bờ tương đối thẳng được cấu tạo bởi cả trầm tích biển, sông - biển tuổi Holocen lẫn Pleistocen Phần còn lại từ mũi Vũng Tàu đến mũi Gành Rái là phần địa hình với đường bờ rất phức tạp, bị phân cắt mạnh bởi hàng loạt các cửa sông và rạch như sông Dinh, sông Ray, sông Thị Vải phần ngoài được khống chế bởi bán đảo Vũng Tàu tạo nên vũng vịnh Đây là nơi cư trú rất tốt cho thuyền bè mỗi khi có gió, bão hay biển động
2.2.2 Khí hậu
Khí hậu vùng nghiên cứu mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Trang 8Nhiệt độ không khí: vùng nghiên cứu có giá trị trung bình hàng năm 18,6 34,7C, trung bình là 25,8C Độ chênh lệch giữa mùa mưa và mùa khô không lớn, vào mùa mưa nhiệt độ trung bình tháng đạt 27o
C, mùa khô là 25,5oC Tháng nóng nhất là tháng 4 và
5 (trung bình 28,8C) Tổng giờ nắng trung bình hàng năm đạt 2.600 giờ Độ ẩm trung bình trong vùng hàng năm là khoảng 79,8%
2.2.3 Đặc điểm thủy văn
Vùng nghiên cứu có mạng lưới sông suối phát triển, gồm 3 hệ thống sông chính là hệ thống sông Thị Vải, sông Dinh và hệ thống sông Ray
- Hệ thống Sông Thị Vải: Chiều dài khoảng 30km Đây là sông có ý nghĩa giao thông
đường thuỷ quan trọng nhất trong khu vực
- Hệ thống sông Dinh: Bắt nguồn từ vùng đồi núi thấp Châu Thành, có chiều dài khoảng
35km gồm trên 10 chi lưu nhập vào, thượng lưu là sông Soài
- Hệ thống sông Ray: giữ vai trò quan trọng về việc cung cấp nước ngọt cho tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu và là sông lớn nhất trong khu vực
2.2.4 Đặc điểm hải văn
Sóng biển:Trong khu vực nghiên cứu, các đặc trưng của sóng thay đổi theo mùa
Thủy triều: Thủy triều vùng nghiên cứu khá phức tạp nhưng thiên về bán nhật triều Các
ngày bán nhật triều trong tháng thường xảy ra vào đầu và giữa tháng âm lịch Biên độ triều vào
kỳ nước cường đạt 3 - 4m Trong kỳ nước kém, triều chỉ lên xuống khoảng 1,5 - 2 mét và hàng ngày có thêm 1 con nước nhỏ
Dòng chảy biển: Vào mùa Đông dòng chảy có hướng Nam là chủ yếu với tốc độ khá lớn,
về mùa hạ, do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam dòng có hướng Bắc
2.2.5.Mực nước biển dâng
2.2.5.1 Thay đổi mực nước biển: quá khứ, hiện tại và tương lai
Các kết quả nghiên cứu địa chất và địa mạo bờ biển đều chỉ ra rằng, mực nước biển dâng lên, hạ xuống tương đối đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử hình thành và tiến hóa lớp vỏ trên cùng của bề mặt Trái đất Các lần mực nước dâng lên (biển tiến) và hạ xuống (biển lùi) trong kỷ Đệ tứ
có mối quan hệ rất mật thiết với những lần tan băng và đóng băng trên các lục địa Các nhà khoa
Trang 9học trên thế giới đều cho rằng, trong kỷ Đệ tứ có 4 lần băng hà gây ra biển lùi chính là: Gun, Midel, Riss và Vuộc và 4 lần gian băng gây ra biển tiến xen kẽ bốn thời kỳ băng hà nêu trên
Trên thế giới Từ cuối thế kỷ XX đến nay, hiện tượng mực nước biển dâng lên liên quan
tới biến đổi khí hậu toàn cầu là vấn đề nóng bỏng được nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế và nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm, trước hết là Tổ chức Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) Các kết quả quan trắc mực nước tại nhiều nơi trên thế giới cho thấy, trong thế kỷ XX, mực nước biển dâng trên toàn cầu đạt tốc độ từ 0,8 đến 3,3 mm/năm và giá trị trung bình là 1,8 mm/năm, còn theo số liệu đo mực nước biển từ vệ tinh, thì trong giai đoạn
1993-2010, mực nước biển dâng lên với tốc độ 2,9-3,4 ± 0,4-0,6 mm/năm
Ở Việt Nam Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, việc nghiên cứu thay đổi mực nước
biển đã đượng nhiều nhà khoa học quan tâm Trên cơ sở số liệu đo mực nước biển trong khoảng thời gian 37 năm (1957-1994) tại 4 trạm Hải văn dọc bờ biển Việt Nam là Hòn Dấu, Đà Nẵng, Quy Nhơn và Vũng Tàu, tác giả Nguyễn Ngọc Thụy đã tính được mực nước dâng lên tại các trạm tương ứng là 2,15; 1,198; 0,957 và 3,203 mm/năm
2.2.5.2 Những tác động của thay đổi mực nước biển
Ở quy mô chung nhất, thay đổi mực nước biển gây ra sự dịch chuyển vị trí đường bờ biển theo chiều nằm ngang hàng chục, thậm chí hàng trăm km, kèm theo đó là hàng chục đến hàng trăm mét theo chiều thẳng đứng Khi mực biển hạ xuống, thì diện tích lục địa được mở rộng Đường bờ biển liên tục dịch chuyển ra phía biển vừa do mực nước rút đi, vừa do quá trình tích tụ chiếm ưu thế Ngược lại, khi mực nước biển dâng, dù do bất cứ nguyên nhân nào, cũng gây ra sự thu hẹp diện tích đất liền và có những tác động mạnh mẽ đến các điều kiện tự nhiên và kinh tế-xã hội, hay nói rộng hơn là toàn bộ môi trường bờ biển
2.2.6 Hoạt động nhân sinh
Con người là tác nhân đi ̣a mạo hoạt động ở mọi nơi cả trên bề mặt Trái đất, lẫn dưới đáy
biển và đại dương thuộc nhiều đớ i địa lý khác nhau và đã trở th ành tác nhân đ ịa mạo phi đi ̣a đới
Các hoạt động của con người trên bờ biển Trong vùng nghiên cứu, các hoạt động của
con người trên bờ biển diễn ra rất đa dạng, bao gồm xây dựng và mở rộng thành phố Vũng Tàu, xây dựng hạ tầng cơ sở (mở rộng và làm mới các tuyến đường giao thông ven biển, bến cảng,
Trang 10v.v.), xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng, các công trình bảo vệ bờ biến, san lấp biển để mở rộng diện tích, v.v
Các hoạt động của con người trên lưu vực sông Hầu hết các lưu vực sông trong vùng
nghiên cứu đều có diện tích nhỏ (trừ hệ thống sông Sài Gòn-Đồng Nai), nên các hoạt động nhân
sinh ở đây có ảnh hưởng không nhiều đến quá trình biến đổi đường bờ biển
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG BIẾN ĐỘNG DỰA VÀO CHỈ SỐ TỔN THƯƠNG BỜ BIỂN
PHỤC VỤ QUẢN LÝ TAI BIẾN XÓI LỞ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Cơ sở tài iệu đánh giá
Bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 UTM năm 1965
Bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 vùng nghiên cứu
Bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 VN2000 năm 2004
Bản đồ độ sâu đáy biển ven bờ (0-30m nước) Việt Nam tỷ lệ 1:200.000 tờ C-48- XVII C-48-XVIII, C-49-XIII năm 2001
Bản đồ địa mạo tỷ lệ 1:50.000 vùng nghiên cứu
Ảnh landsat 1990 chup 12/05/1990
Ảnh quickbird 2010 chụp 04/05/2010
Thực địa 2/2012 tại đường bờ biển tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
3.1 PHÂN LOạI Bờ BIểN TỉNH BÀ RịA – VŨNG TÀU
1 Bờ đá
Có thể dễ dàng nhận ra hình thái đường bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có các mũi đá nhô ra biển xen lẫn với các đoạn bờ lõm vào Bờ đá phát triển tại khu vực Núi Lớn, Núi Nhỏ tạo
ra hình thái điển hình của thành phố Vũng Tàu, các mũi Cơm Thiều, Kỳ Vân, Hồ Tràm, Ba Kiềm Phần bờ này là những đoạn vách dốc đứng hoặc những đoạn bờ đá thấp thoải dần ra phía biển, vật liệu tích tụ dưới chân thường chỉ là một lớp mỏng hoặc không có, đáy biển phía ngoài
có độ dốc lớn, năng lượng sóng tác động rất mạnh, tuy nhiên với đặc điểm thạch học được cấu