Xác định mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất nông nghiệp và sinh kế của người dân tại xã Tản Lĩnh.. Tuy nhiên, những nghiên cứu về những sự thay đổi nói trên tại Việt Nam nói chung và
Trang 1Nghiên cứu biến đổi sử dụng đất phục vụ phát triển sinh kế bền vững khu vực xã Tản Lĩnh,
huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Nguyễn Hoàng Hoa
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn Thạc sĩ ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
Mã số: 60 85 15 Người hướng dẫn: PGS TS Phạm Văn Cự
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Tổng quan về biến đổi sử dụng đất; sinh kế bền vững; mối quan hệ giữa
biến đổi sử dụng đất và sinh kế Phân tích sự biến động sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 1993 - 2010 tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Xác định mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất nông nghiệp và sinh kế của người dân tại xã Tản Lĩnh Đánh giá về các loại hình sinh kế liên quan tới sử dụng đấtnôngnghiệp tại
xã Tản Lĩnh
Keywords: Sử dụng đất; Sinh kế bền vững; Ba vì
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, đã và đang diễn ra những sự thay đổi trong sử dụng đất và sinh kế của người dân, đặc biệt từ sau khi Luật đất đai 1993 và Luật đất đai mới năm 2003 ra đời Cụ thể, khác với trước đây, bên cạnh loại hình sử dụng đất chủ yếu
là trồng lúa, hoa màu; nơi đây đã xuất hiện thêm loại hình mới là trồng cỏ (phục vụ nuôi bò sữa), và sinh kế của người dân cũng phát triển thêm rất nhiều phương thức mới như nuôi bò sữa hay thu mua sản phẩm sữa
Tuy nhiên, những nghiên cứu về những sự thay đổi nói trên tại Việt Nam nói chung và
xã Tản Lĩnh nói riêng chỉ diễn ra tách biệt trong từng vấn đề sử dụng đất hoặc sinh kế mà ít có
sự quan tâm tới mối quan hệ giữa chúng Điều này dẫn đến những kết quả đánh giá thiếu chính xác, ảnh hưởng tới việc đưa ra những chiến lược sinh kế phù hợp, bền vững cả về lợi ích kinh tế xã hội và tài nguyên thiên nhiên
Trang 2Nhằm góp phần giải quyết vấn đề này, trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, học viên đã
lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu biến đổi sử dụng đất phục vụ phát triển sinh kế bền vững khu
vực xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu: Đánh giá mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất nông nghiệp và sinh kế của người dân tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Nội, nhằm góp phần phục vụ phát triển sinh
kế bền vững tại đây
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
o Phân tích sự biến động sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu giai đoạn 1993 -
2010 tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
o Xác định mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất nông nghiệp và sinh kế của người dân tại xã Tản Lĩnh
o Đánh giá về các loại hình sinh kế liên quan tới sử dụng đấtnôngnghiệp tại xã Tản Lĩnh
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Xác định mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất nông nghiệp và sinh kế đểtừ đó đưa ra những đánh giá phù hợp về phát triển sinh kế của người dân
- Ý nghĩa thực tiễn:Sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính kết hợp với không gian hóa dữ liệu điều tra nông hộ để thể hiện mối quan hệ giữa sử dụng đất nông nghiệp và sinh kế, nhằm phục vụ đánh giá phương thức sinh kế gắn với hoạt động nông nghiệp của người dân tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Nội
5 Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
- Kết quả điều tra 198 hộ gia đình trên toàn bộ 13 thôn của xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội thuộc dự án “Tác động của biến đổi khí hậu đến biến đổi sử dụng đất và
Trang 3thay đổi sinh kế cộng đồng ở đồng bằng sông Hồng” (DANIDA) của Trung tâm quốc tế nghiên cứu biến đổi toàn cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Số liệu thống kê kinh tế xã hội xã Tản Lĩnh năm 2008 và 2009
- Ảnh vệ tinh Landsat các năm 1993, 2005, và 2010 tại khu vực nghiên cứu
- Bản đồ nền xã Tản Lĩnh năm 2005
- Phương pháp 1: Phương pháp điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân(Participatory Rural appraisal – PRA)
Đây là một phương pháp hệ thống bán chính quy được tiến hành ở một địa điểm cụ thể bởi một nhóm liên ngành và được thiết kế để thu thập được những thông tin cần thiết và những giả thuyết cho sự phát triển nông thôn Trong đề tài này, PRA được sử dụng trong giai đoạn đầu của dự án “Tác động của biến đổi khí hậu đến biến đổi sử dụng đất và thay đổi sinh
kế cộng đồng ở đồng bằng sông Hồng” (DANIDA) của Trung tâm quốc tế nghiên cứu biến đổi toàn cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội Trình tự tiến hành theo các bước chính: (i) Chọn điểm
và thông qua các thủ tục, cho phép của chính quyền địa phương; (ii) Tiền trạm điểm để khảo sát; (iii) Điều tra chọn mẫu để thu thập thông tin: không gian, thời gian (giai đoạn 2005 – 2011), đặc điểm kinh tế - xã hội; (iv) Tổng hợp số liệu và phân tích các vấn đề phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu.Trong đó, trong giai đoạn điều tra chọn mẫu, riêng tại xã Tản Lĩnh, số hộ mẫu được lựa chọn tại 13 thôn trung bình là 15 hộ/thôn với tổng số là 198 hộ, dựa trên danh sách cử tri bầu cử hội đồng nhân dân cấp xã năm 2011 và theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
- Phương pháp 2: Phương pháp khảo sát thực địa
Việc khảo sát thực địa được thực hiện vào tháng 4/2011 và tháng 9/2012 nhằm mục đích kiểm chứng các mẫu giải đoán, kiểm tra độ chính xác của các yếu tố địa lý của khu vực,
độ chính xác của các ranh giới sử dụng đất, bổ sung các yếu tố địa vật đặc trưng hay các yếu
tố kinh tế - văn hóa - xã hội mà không thể đoán nhận được ở trong phòng Tuyến thực địa được thực hiện dọc theo trục đường giao thông chính xuyên qua xã Tản Lĩnh Việc cập nhật hiện trạng và biến động sử dụng đất năm 1993, 2005 và 2010 được kết hợp giữa khảo sát thực địa, đo GPS xác định điểm và ranh giới khu vực và lấy thông tin từ cán bộ, người dân địa phương
- Phương pháp 3: Phương pháp viễn thám và GIS
Với dữ liệu là ảnh vệ tinh độ phân giải trung bình Landsat, quá trình phân loại ảnh dựa theo phương pháp phân loại có giám sát (supervised classification) với thuật toán phân loại hợp lý tối đa (Maximum Likelihood) sử dụng phần mềm Envi 4.7 Phân loại theo phương
Trang 4pháp này coi số liệu thống kê của mỗi lớp trong mỗi kênh ảnh được phân tán một cách thông thường và phương pháp này có tính đến khả năng một pixel thuộc một lớp nhất định Nếu như không chọn một ngưỡng xác suất thì sẽ phải phân loại tất cả các pixel Mỗi pixel được gán cho một lớp có độ xác suất cao nhất (maximum likelihood) Phương pháp này cho rằng các band phổ có sự phân bố chuẩn và các pixel sẽ được phân loại vào lớp mà nó có xác suất cao nhất Việc tính toán không chỉ dựa vào giá trị khoảng cách mà còn dựa vào cả xu thế biến thiên độ xám trong mỗi lớp Đây là một phương pháp phân loại khá chính xác nhưng đòi hỏi nhiều thời gian tính toán và phụ thuộc vào sự phân bố chuẩn của dữ liệu.Bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Tản Lĩnh năm 1993, 2005 và 2010 sẽ được sử dụng làm đầu vào cho công đoạn thành lập bản đồ biến động sử dụng đất trong phần mềm Arcgis desktop10.0 Để tạo ra được bản đồ biến động sử dụng đất thì đề tài đã sử dụng công cụ Intersect (giao nhau giữa các đối tượng trên hai lớp khác nhau tạo thành nhiều đối tượng mới nhỏ hơn có tất cả các thuộc tính của 2 layer)
- Phương pháp 4: Phương pháp phân tích nhân tố
Phân tích nhân tố là mô hình toán học cho phép đưa số lượng lớn chỉ tiêu quan trắc về một số các nhân tố mà chỉ bị mất mát một phần những thông tin ban đầu Các nhân tố là những tổ hợp tuyến tính của các chỉ tiêu quan trắc Trên cơ sở các nhân tố này, ta có thể tính được các chỉ số tổng hợp mang thông tin khái quát mới về chất [1] Trong đề tài này, phương pháp phân tích nhân tố được sử dụng là phân tích trục thành phần chính (Principal Component Analysis – PCA) PCA là công cụ phân tích nhân tố sử dụng với mục đích giảm dữ liệu Thuật toán PCA tìm kiếm sự kết hợp tuyến tính giữa các biến mà phương sai của chúng đạt cực đại Sau đó, loại bỏ phương sai này ra khỏi mô hình và cố gắng tìm kiếm sự kết hợp tuyến tính thứ hai để có thể giải thích tối đa phần còn lại của phương sai và quá trình tiếp tục được thực hiện tới khi tất cả các phương sai được loại trừ hết Đây được gọi là phương pháp trục thành phần chính và kết quả là các nhân tố trực giao (do vậy không có quan hệ)
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn bao gồm 3 phần chính Trong đó, chương đầu tiên tổng quan các vấn đề lý luận chung về biến đổi sử dụng đất, sinh kế bền vững, mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất
và sinh kế, đồng thời tổng quan lại các công trình nghiên cứu được thực hiện tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Chương tiếp theo nêu các đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu và phân tích biến động sử dụng đất giai đoạn 1993 – 2010 tại đây Chương cuối phân tích mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất nông nghiệp và sinh kế của người dân tại xã Tản Lĩnh, từ đó nêu những đánh giá về các loại hình sinh kế nông nghiệp liên quan
Trang 5Chương 1 – TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan vềnghiên cứu biến đổi sử dụng đất
Liên quan tới biến đổi sử dụng đất, dựa trên 320 nguồn tài liệu từ sách báo, tạp chí trong các lĩnh vực kỹ thuật, vật lý, khoa học xã hội, có những từ “sử dụng đất”, “biến đổi sử dụng đất”, “biến đổi lớp phủ và sử dụng đất” hoặc “biến đổi lớp phủ đất” trong tiêu đề hoặc từ khóa, các tác giả B McCusker và E.R.Carrđã tổng kết 4 xu hướng nghiên cứu chính[22]:
- Nguyên nhân của sự biến đổi sử dụng đất thường được cho là do kết hợp lại các động lực được xác định một cách rộng rãi
-Việc nghiên cứu về nguyên nhân của sự thay đổi hướng tới tiếp cận các động lực biến đổi mang tính toàn cầu hoặc khu vực
- Biến đổi sử dụng đất thường được coi như là kết quả của các quá trình khác (chính trị, kinh tế, môi trường), đóng vai trò như một điều kiện cho những quá trình ở quy mô địa phương và toàn cầu, thay vì là một quá trình được thành lập bởi mối quan hệ quyền lực địa phương, khu vực, và quốc gia
- Các tài liệu có xu hướng hướng tới nghiên cứu các hộ gia đình (sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống – gợi nhắc phương pháp tiếp cận văn hóa sinh thái tới tương tác con người - môi trường) và kết quả mô hình hóa
Trong đó, đáng lưu ý là các tác giả đã nhận thấy các vấn đề sau:
- Xu hướng trong lý thuyết biến đổi sử dụng đất chỉ dừng lại ở xác định động lực và
mô hình hóa kết quả dựa trên những gì tìm được, mà ít đi sâu vào nguyên nhân tại sao những động lực này làm biến đổi sử dụng đất và cách chúng xây dựng mang tính xã hội như thế nào
- Tuy lý thuyết biến đổi sử dụng đất theo hướng kết quả mô hình hóa phần nào đáp ứng nhu cầu thực tế cho việc ra chính sách với các kịch bản biến đổi nhưng vẫn có sự hạn chế bởi các mô hình này không thể nắm bắt được sự phức tạp của các động lực dẫn đến những thay đổi về đối tượng quan sát, và như vậy, việc thực hiện những mô hình phức tạp nhất bị giới hạn
1.2 Tổng quan về nghiên cứu sinh kế bền vững
1.2.1 Khái niệm sinh kế và sinh kế bền vững
Liên quan tới lý thuyết về biến đổi sử dụng đất, sinh kế thường được hiểu là “khả năng, tài sản (sự dự trữ, nguồn tài nguyên, quyền đòi hỏi và tiếp cận) và các hoạt động cần thiết cho phương tiện sinh hoạt” [11, 12, 14, 18, 27].Trên cơ sở đó, khái niệm sinh kế bền vững cũng được được hình thành và hoàn thiện với công trình nghiên cứu sinh kế bền vững của Viện Nghiên cứu Phát triển tại Đại học Sussex, Brighton, UK, và kết quả nghiên cứu về
áp dụng khái niệm và phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế của
Trang 6Anhvới hai đặc trưng cần thiết, cần được đảm bảo đồng thời: (i) Khả năng có thể đương đầu với và phục hồi sau những áp lực và cú sốc và duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản hiện
tại cũng như trong tương lai; (ii) Không làm hủy hoại nguồn tài nguyên tự nhiên
1.2.2 Đặc điểm phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững của DFID
Khái niệmvề sinh kế và sinh kế bền vững trên đã dẫn đến một số phương pháp tiếp cận sinh kế tập trung chặt chẽ vào truy cập các loại tài sản của người dân Trong các phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững, phương pháp được phát triển tại DFID từ năm 1998có trọng tâm là khung sinh kế bền vững - một cấu trúc phân tích để tạo điều kiện cho một sự hiểu biết rộng lớn và mang tính hệ thống của các yếu tố khác nhau có tác dụng hạn chế hoặc tăng cường cơ hội sinh kế và để chỉ ra cách chúng liên quan với nhau [21] Khung sinh kế bền vững được DFID xây dựng với các nhân tố: khung hoàn cảnh dễ bị tổn thương, tài sản sinh kế, cấu trúc chuyển đổi và quá trình thực hiện, các chiến lược sinh kế và kết quả.Trong đó, nhân tố quan
trọng, đóng vai trò trung tâm của khung sinh kế bền vững là tài sản sinh kế với 5 loại vốn:
nhân lực, tự nhiên, tài chính, vật chất, xã hội [17]
1.3 Tổng quan về mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất và sinh kế
1.3.1 Trên thế giới
Mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất và sinh kế thường được nghiên cứu theo hướng một chiều, tức là nhân tố này đóng vai trò tác động, gây ra sự thay đổi cho nhân tố kia, mà ít
có sự quan tâm tới tác động ngược lại, thậm chí chúng còn được nghiên cứu riêng biệt, không
có mối liên quan với nhau Kết quả nghiên cứu của các tác giả B McCusker và E.R Carr [22]
là minh chứng rõ ràng và cụ thể cho điều này Cụ thể, trong số 209 tài liệu tham khảo được xác định có liên quan tới sinh kế chỉ có 5% (12) giải quyết biến đổi sử dụng đất (tập trung vào các quá trình của sự biến đổi, không phải khái niệm rộng rãi về đất như đầu vào của hệ thống sinh kế) trong các bối cảnh sinh kế và 11% (35) trong số 320 nguồn tài liệu về biến đổi sử dụng đất có tham chiếu cụ thể tới khái niệm sinh kế bất kỳ Hệ quả của hướng nghiên cứu này được các tác giả B McCusker và E.R Carr đưa ra: (i) Bằng cách coi thay đổi sử dụng đất như
là kết quả của một vài động lực chính trị, kinh tế, môi trường, các tài liệu sử dụng đất đã vô tình che khuất câu chuyện làm thế nào và tại sao con người tương tác với môi trường của họ theo những cách nhất định và lý do tại sao kết quả từ cùng một hành động trong không gian hoặc quy mô có thể khác nhau nhiều như vậy; (ii) Lý thuyết sinh kế xử lý các mối liên kết giữa sinh kế, đặc biệt là đa dạng hóa, và sử dụng đất như là một trong những nguyên nhân và tác động Trước thực tế nghiên cứu này, các tác giả đã đề xuất ý tưởng kết nối giữa sử dụng đất và sinh kế theo hướng hợp tác sản xuất, mà trong đó, sử dụng đất và sinh kế đều đóng vai trò quyết định trong xác định các vấn đề và đề ra chiến lược giải quyết các vấn đề đó [22]
Trang 71.3.2 Tại Việt Nam
Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng theo xu hướng tập trung phân tích một yếu tố là sử dụng đất hoặc sinh kế, mà ít quan tâm tới mối liên hệ qua lại giữa chúng Để có thể phân tích được mối quan hệ này, bên cạnh khả năng có thể coi sử dụng đất và sinh kế như biểu hiện của quá trình xã hội, yếu tố thời gian và không gian cũng cần được xem xét Tại Việt Nam, một dấu mốc quan trọng đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong nền kinh tế xã hội nói chung cũng như biến đổi sử dụng đất và sinh kế người dân tại nông thôn nói riêng là thời kỳ Đổi mới Các thành phần nổi bật nhất của cuộc cải cách là: (1) bãi bỏ chăn nuôi tập thể; (2) cải cách giá nông nghiệp; (3) thành lập các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao; (4) chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và hỗ trợ phát triển chính thức; (5) sự phân quyền của chính sách tài chính; (6) sự đẩy mạnh các doanh nghiệp vừa và nhỏ; (7) cải cách quyền sử dụng đất; (8) thành lập thị trường đất đai[28] Theo tác giả Trần Thị Quế [26], quá trình cải cách diễn ra với những đặc trưng sau: (i) bắt đầu trong lĩnh vực nông nghiệp; (ii) xuất phát từ các yêu cầu của nông dân (quá trình từ dưới lên); (iii) mangđặc trưng kinh tế, đáp ứng lợi ích kinh tế của người dân; (iv) trải qua một quá trình dần dần, bắt đầu với yếu tố quan trọng nhất của sản xuất nông nghiệplà đất đai, sau đó đến một sự thay đổi trong hệ thống quản lý đất đai
mà theo sau là các thay đổi thể chế khác; (v) diễn ra chậm nhưng toàn diện
1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố
Hà Nội
Tản Lĩnh là một xã thuộc vùng đệm (buffer zone) của Vườn Quốc gia Ba Vì, huyện
Ba Vì, thành phố Hà Nội Vì vậy, những công trình, dự án nghiên cứu từng được thực hiện tại đây khá chú trọng tới sự sử dụng đất và sinh kế của người dân Trong đó, một số nghiên cứu
phân tích cả 2 vấn đề sử dụng đất và sinh kế (Gilmour D.A, Nguyen Van San (1999), “Buffer
zone management in Vietnam”, IUCN – The world conservation union – Vietnam
programme), hoặc vấn đề sử dụng đất (Le Phuong Thuy, Jaap Zevenbergen, Christiaan
Lemmen, Harry Uitermark, Tran Quoc Binh (2012), “Investigating the Conformity between
the Land Administration Domain Model and the Vietnamese Land Administration System”,
FIG Working Week 2012, Italy) hoặc sinh kế (Nguyễn Quốc Toản, Adam Pain, Vũ Chí
Cương (2008), “Thực trạng chăn nuôi bò sữa quy mô hộ gia đình tại Ba Vì 2006 – 2007”, Tạp
chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi, 15, tr 1-7.) Tuy nhiên, không có nghiên cứu nào đề cập
tới mối quan hệ giữa biến đổi sử dụng đất và sinh kế tại đây Khu vực này được lựa chọn để nghiên cứu bởi sự đổi thay dễ nhận thấy trong sử dụng đất và sinh kế của người dân, nhất là
từ khi Luật đất đai 1993 và Luật đất đai mới năm 2003 ra đời Sự thay đổi này đặt ra rất nhiều câu hỏi đáng để quan tâm và nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn như sau: (i)Quá
Trang 8trình biến động sử dụng đất tại xã Tản Lĩnh giai đoạn 1993 – 2010 diễn ra như thế nào, đặc biệt đối với các loại hình đất sản xuất nông nghiệp? (ii) Đặc điểm sinh kế chính của các hộ dân tại xã Tản Lĩnh ra sao? (iii) Khung sinh kế bền vững được áp dụng như thế nào trong nghiên cứu? (iv)Biến đổi sử dụng đất và sinh kế có mối quan hệ thế nào?
Chương 2 – ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT GIAI ĐOẠN 1993 – 2010 TẠI XÃ TẢN LĨNH, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý: Xã Tản Lĩnh là một trong 31 xã của huyện Ba Vì, giáp với các xã sau: phía Bắc giáp xã Cẩm Lĩnh và xã Thụy An, phía Nam giáp xã Vân Hòa, phía Đông giáp Thị
xã Sơn Tây, phía Tây giáp xã Ba Vì, Ba Trại
*Đặc điểm địa hình: có xu hướng thấp dần từ Tây sang Đông, nằm trong dải trung du đặc biệt giữa một khối núi được hình thành do nâng tân kiến tạo dạng vòm – khối tảng với đỉnh Tản Viên có độ cao 1200m, chuyển rất nhanh xuống đồng bằng trũng Hà Nội cao xấp xỉ 10m qua dải chuyển tiếp nghiêng thoải và đều với địa hình đồi và đồng bằng đồi cao từ 15 –
35 – 40m[2].Về mặt nguồn gốc hình thái địa hình bao gồm các kiểu địa hình do bóc mòn tổng
hợp; địa hình sườn và địa hình dòng chảy [2]
* Chế độ thủy văn: Hệ thống sông suối trong khu vực chủ yếu bắt nguồn từ thượng nguồn núi Ba Vì Về dòng chảy mặt, suối ở đây ngắn, dốc phù hợp với địa hình và các cấu tạo của đất đá, tiết diện dọc của suối chưa cân bằng Về dòng chảy ngầm, nguồn nước ngầm trong
khu vực tương đối dồi dào
* Đặc điểm thổ nhưỡng: Theo Nguyễn Đăng Khôi [6], đại bộ phận đất đồng cỏ là
những đồi phù sa cổ, một ít diện tích còn lại là những đồi phiến thạch sét Loại đất đồng cỏ phù sa cổ có cấu trúc: lớp trên cùng bao gồm cát pha màu xám, thành phần cơ giới nhẹ, cũng
có nơi là sét pha màu vàng đỏ, dày trung bình 40 – 50 cm, nhưng cũng có nơi dày hàng mét Lớp thứ hai là lớp đá ong rắn chắc, lớp này dày 2- 3m, có nơi dày hơn hoặc mỏng hơn Lớp thứ ba là lớp đá cuội lẫn cát sỏi vụn Dưới lớp cuội là lớp sét màu loang lở, xen kẽ là các lớp diệp thạch ngậm than
*Chế độ khí hậu:mùa đông rất lạnh ít mưa kéo dài từ tháng 11 cho đến tháng 3; mùa
hè thì mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10 Cụ thể, theo tác giả Nguyễn Đăng Khôi [4], đặc trưng nhiệt ẩm tại đây như sau: Nhiệt độ trung bình cả năm là 240C Lượng mưa khá lớn, nếu
Trang 9ở lân cận đồng bằng lượng mưa năm vào khoảng 1.800mm thì đến sát chân núi Ba Vì, lượng
mưa tăng lên đến 1.900 – 2.000mm
* Sinh vật:
Hệ thực vật ở đây đều có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới, trong đó đáng chú ý thực vật ở đây có rất nhiều loại quý như kim giao, thông đỏ, bách xanh[2].Từ đường đồng mức 100m trở xuống là khu vực sườn, chân sườn núi thấp, đồi., đượcngười dân tiến hành trồng và khai thác rừng sản xuất Phân bố với diện tích rải rác nhỏ hẹp theo hộ gia đình là diện tích cây
ăn quả với các loại cây trồng như vải, nhãn, bưởi…, ngoài ra còn có chè xanh và chè đắng trồng trong vườn nhà Về động vật hoang dã: động vật có vú có 45 loài nhiều bộ (Gặm nhấm, Dơi, linh trưởng) Động vật làm thuốc có 8 loài Ếch nhái có 15 loài Đã phát hiện được 552 loài côn trùng thuộc 364 giống, 65 họ, 14 bộ[2]
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
* Dân số: Theo số liệu điều tra năm 2009, xã Tản Lĩnh tổng số dân là 10853 người,
trong đó hơn 90% số dân thuộc dân tộc Kinh, còn lại là dân tộc Mường với 8682 lao động nông nghiệp, số lao động phi nông nghiệp là 2170 lao động làm các ngành nghề khác nhau như công nhân viên chức, tiểu thủ công nghiệp, du lịch – dịch vụ Do đặc thù của địa bàn nên mức tăng dân số của xã chủ yếu là gia tăng dân số tự nhiên, với tốc độ tăng dân số năm2009 đạt 1.2%
* Cơ cấu kinh tế: Các chỉ tiêu kinh tế tăng ổn định, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển
dịch từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp với thu nhập bình quân trên đầu người là 6,425 triệu/năm; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới là 9,72% năm 2009 Nông nghiệp chiếm 45% năm
2008 và giảm xuống 35,5% năm 2009 trong cơ cấu kinh tế của xã Tản Lĩnh, với thế mạnh trồng trọt (bình quân lương thực 3785,4 tấn năm 2009) và chăn nuôi gia súc gia cầm, nhất là chăn nuôi, chế biến các sản phẩm từ sữa bò của địa phương đang được đầu tư và phát triển tốt Phi nông nghiệp cũng có những thành tựu đáng kể (chiếm 55% năm 2008 và tăng lên 64,5% năm 2009), nhất là hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và ngành dịch vụ và du
lịch phát triển khá nhanh [7,8]
* Cơ sở hạ tầng: Đồng thời với sự phát triển kinh tế, hệ thống cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã đã từng bước được đầu tư xây mới và nâng cấp.Hệ thống giao thông của xã đã được đầu tư xây dựng mở rộng và làm mới như đường 87A, đường vào Ao Vua; đường vào Vườn quốc gia được đổ bê tông với chiều dài 2km; hệ thống giao thông chính trong khu dân cư của
xã như thôn Hát Giang, Đức Thịnh,… , hệ thống đường giao thông nội đồng Bên cạnh đó, hệ thống thủy lợi của xã đã được đầu tư tu sửa thường xuyên, và kiên cố hóa một phần hệ thống kênh mương thuộc thôn Đức Thịnh, Hát Giang, Cẩm Phương,…song vẫn chưa đáp ứng được
Trang 10nhu cầu nước tưới của các khu vực cao dẫn tới vẫn còn tình trạng thiếu nước phục vụ sản xuất
- Đất nông nghiệp: Đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng hơn 55% trong cơ cấu sử dụng đất các năm 1993, 2005 và 2010 Diện tích chiếm ưu thế chính qua các năm là đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác và đất lâm nghiệp Diện tích đất trồng lúa thường tập trung xung quanh khu vực sinh sống của người dân và chiếm tới khoảng20% tổng diện tích đất canh tác vào các năm 2005 và 2010 Nếu trong năm 1993, diện tích đất trồng cây hàng năm khác bao phủ hầu khắp các thôn theo hướng từ tây sang đông, chiếm hơn 33% tổng diệntích thì tới năm
2005 và 2010, diện tích trồng chỉ còn tập trung tại một số khu vực ở phía đông bắc của xã và chiếm khoảng 10% tổng diện tích đất.Đất lâm nghiệp tập trung ở khu vực phía tây nam, bắcvà tây bắc của xã, chiếm diện tích hơn 20% tổng diện tích đất tự nhiên.Bên cạnh đó, tuy chiếm diện tích chưa tới 5% trong tổng diện tích đất, loại hình đất cỏ dùng vào chăn nuôi xuất hiện
từ năm 2005 cho thấy sự thay đổi trong sử dụng đất tại đây
Bảng 2.3 Diện tích và cơ cấu các loại đất xã Tản Lĩnh năm 1993
11 33,7 3,3
23
Đất phi nông nghiệp
Đất ở tại nông thôn
Đất chuyên dùng
Đất có mặt nước chuyên dùng
643,2 4,4 156,4
23,2 0,2 5,6
Nguồn: Thống kê từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất 1993 sử dụng Arcgis10.0
Bảng 2.4 Diện tích và cơ cấu các loại đất xã Tản Lĩnh năm 2005
Đất nông nghiệp
Trang 11Đất trồng lúa 621,1 22,4
Đất phi nông nghiệp
Nguồn: Thống kê từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất 2005 sử dụng Arcgis10.0
- Đất phi nông nghiệp: Đất phi nông nghiệp tuy chiếm tỷ trọng nhỏ hơn 45% trong cơ cấu sử dụng đất năm 1993, 2005 và 2010 nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống phát triển kinh tế xã hội của người dân Trong đó, diện tích đất ở luôn là diện tích lớn nhất trong nhóm đất phi nông nghiệp (chiếm hơn 20% tổng diện tích đất tự nhiên., bởi sự liên quan mật thiết với yếu tố dân số.Bên cạnh đó, sự phát triển của đất chuyên dùng tập trung chủ yếu vào hệ thống đường giao thông, cơ sở sản xuất kinh doanh, còn diện tích đất mặt nước chuyên dùng mở rộng vào năm 2005, 2010 do sự phát triển phục vụ du lịch sinh thái của hồ Suối Hai
Bảng 2.5 Diện tích và cơ cấu các loại đất xã Tản Lĩnh năm 2010
Đất nông nghiệp
Đất trồng lúa
Đất trồng cây hàng năm khác
Đất trồng cây lâu năm
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi
Đất lâm nghiệp
553,6 297,7
104 32,5 559,9
19,9 10,7 3,7 1,2
20,2
Đất phi nông nghiệp
Đất ở tại nông thôn
Đất chuyên dùng
Đất có mặt nước chuyên dùng
806 107,3 316,1
29 3,9 11,4
Nguồn: Thống kê từ bản đồ hiện trạng sử dụng đất 2010 sử dụng Arcgis10.0
2.3 Biến động sử dụng đất tại xã Tản Lĩnh giai đoạn 1993 - 2010
Trong giai đoạn từ năm 1993 tới 2010, việc sử dụng đất tại xã Tản Lĩnh diễn ra nhiều thay đổi, trong đó đáng chú ý là hai đặc điểm nổi bật sau:
- Sự biến động sử dụng đất giữa các loại hình đất sản xuất nông nghiệp, đáng chú ý là
sự gia tăng của đất trồng lúa (năm 2010 tăng 82% so với năm 2005), suy giảm của đất trồng cây hàng năm khác (năm 2010 giảm 68,2% so với năm 2005) và sự xuất hiện của đất cỏ phục