1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá mức độ ô nhiễm nicotin trong môi trường khí nơi sản xuất thuốc lá và tác động của nó đến sức khỏe người lao động

12 1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá mức độ ô nhiễm nicotin trong môi trường khí nơi sản xuất thuốc lá và tác động của nó đến sức khỏe người lao động
Tác giả Bùi Thị Kiều Trang
Người hướng dẫn PGS.TS. Đỗ Quang Huy
Trường học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học Môi trường
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 304,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định hàm lượng nicotin trong máu của người lao động làm việc tại các bộ phận trong nhà máy sản xuất thuốc lá.. với sức khỏe người lao động, luận văn đã lựa chọn đề tài “Đánh giá mức

Trang 1

Đánh giá mức độ ô nhiễm Nicotin trong môi trường khí nơi sản xuất thuốc lá và tác động

của nó đến sức khỏe người lao động

Bùi Thị Kiều Trang

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

Khoa Môi trường Luận văn Thạc sĩ ngành: Khoa học môi trường; Mã số: 60 85 02

Người hướng dẫn: PGS.TS Đỗ Quang Huy

Năm bảo vệ: 2011

Abstract Trình bày về nguồn gốc, cấu tạo và tính chất hóa lý của nicotin Tìm hiểu

về thuốc lá, hiện trạng sản xuất và sử dụng thuốc lá trên thế giới và Việt Nam Nghiên cứu hàm lượng nicotin trong môi trường không khí của nhà máy sản xuất thuốc lá Xác định hàm lượng nicotin trong máu của người lao động làm việc tại các

bộ phận trong nhà máy sản xuất thuốc lá Tìm hiểu mối liên quan giữa hàm lượng nicotin trong không khí và hàm lượng nicotin trong máu với tình trạng bệnh lý của

người lao động

Keywords Khoa học môi trường; Ô nhiễm môi trường; Ô nhiễm không khí;

Nicotin; Người lao động

Content

Mở đầu

Thuốc lá là một trong những sản phẩm có số người sử dụng nhiều trên thế giới Việc sản xuất thuốc lá tuy không được khuyến khích nhưng ngày càng phát triển và mở rộng cùng với sự gia tăng mạnh về thị trường tiêu thụ Ngành công nghiệp thuốc lá đã mang lại lợi ích không nhỏ về kinh tế cũng như xã hội cho nhiều quốc gia Tuy nhiên, xét về mặt tác hại thì thuốc lá là một ngành sản xuất có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động Vào năm 1998, R.A Ehsay đã đề cập đến ảnh hưởng sinh học ở công nhân tiếp xúc nghề với bụi thuốc trong quá trình sản xuất Trong khói và bụi thuốc lá chứa trên 40 chất có khả năng gây

ung thư như nicotin, cacbon monoxit, các hợp chất vòng thơm… trong đó nicotin là thành

phần chính gây hại đến sức khỏe con người, nó là chất gây độc thần kinh rất mạnh, gây ảnh hưởng đến da, phổi, tim mạch

Trong quá trình sản xuất thuốc lá đã thải ra một lượng khói và bụi thuốc lá đáng kể gây ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động tại nơi sản xuất Với mong muốn tìm hiểu được mức độ ô nhiễm và mối tương quan giữa nicotin trong môi trường khí nơi sản xuất thuốc lá

Trang 2

với sức khỏe người lao động, luận văn đã lựa chọn đề tài “Đánh giá mức độ ô nhiễm nicotin trong môi trường khí nơi sản xuất thuốc lá và tác động của nó đến sức khỏe người lao động”

để có thể đưa ra lời cảnh báo về mức độ ảnh hưởng của nicotin trong không khí khu vực sản xuất thuốc lá đến sức khỏe người lao động Nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nội dung sau:

 Xác định hàm lượng nicotin trong môi trường không khí của nhà máy sản xuất thuốc

 Xác định hàm lượng nicotin trong máu của người lao động làm việc tại các bộ phận trong nhà máy sản xuất thuốc lá

 Tìm hiểu mối liên quan giữa hàm lượng nicotin trong không khí và hàm lượng nicotin trong máu với tình trạng bệnh lý của người lao động

Chương 1 Tổng quan

1.1 Tìm hiểu về nicotin

Nicotin là một loại ankanoid bay hơi mạnh tìm thấy trong các cây họ Cà

(Solanaceae), chủ yếu trong cây thuốc lá, và với số lượng nhỏ trong cà chua, khoai tây, cà

tím và ớt Bell Nicotin là tên gọi được đặt theo tên của một nhà ngoại giao người Pháp Nicot (1530 - 1600), ông đã gửi thuốc lá và hạt của nó từ Bồ Đào Nha tới Paris vào năm 1550 và cổ

vũ cho các ứng dụng y tế của nó Nicotin được các nhà hoá học người Đức, Posselt & Reimann chiết xuất ra khỏi cây thuốc lá vào năm 1828 Công thức hoá học của nicotin được Melsen miêu tả vào năm 1843, được A.Pictet và Crepieux tổng hợp lần đầu tiên vào năm

1893

Cơ quan Kiểm soát Dược và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) xếp nicotin vào nhóm các chất có tính chất dược lý gây nghiện chủ yếu, tương tự như các heroin và cocain Nicotin rất độc, trước hết nó là một chất độc thần kinh, ảnh hưởng lên các hệ thần kinh thực vật và hệ thần kinh trung ương với sự có mặt của các thụ thể nicotin trên các cấu trúc não gây kích thích và làm tê liệt hệ thần kinh

Ngoài ra, nicotin còn ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn như: thay đổi huyết áp, tăng thể tích tim, gây tổn thương hệ tim mạch, tác động trực tiếp lên cơ tim, thành mạch Ảnh hưởng tới quá trình cấu tạo tế bào máu Gây đột biến gen, biến đổi chromosomal, mạng lưới chromatit và các axit nucleic trong tế bào lympho của máu ngoại vi

Nicotin có thể gây nhiễm độc hoặc gây tử vong (do hấp thụ bằng đường tiêu hóa) Một điếu thuốc có từ 1 - 3mg nicotin, một giọt nicotin có thể gây chết một con thỏ hay một con chó, 7 giọt nicotin làm chết một con ngựa, một giọt tiêm vào tĩnh mạch gây chết người Người lớn chết khi cơ thể hấp thụ 15 - 20 gam nicotin, trẻ em chỉ cần vài gam cũng có thể gây chết vì nó tăng bệnh tim mạch, ung thư… Nicotin làm cản trở đáp ứng thở của trẻ bình thường, làm giảm các cảm thụ thể (ảnh hưởng đến việc báo động cho cơ thể tình trạng thiếu oxi khi ngủ) ở trẻ, nhất là dưới 6 tháng tuổi, dẫn đến nguy cơ đột tử ở trẻ

Nicotin là chất chủ yếu tác động lên não bộ, thay đổi tâm thế con người, gây cảm giác thèm ăn, và sự tỉnh táo theo những cách mà con người tìm thấy sự thoải mái và có lợi

Nicotin có khả năng gây nghiện cao, khi bị nghiện sẽ phải gắn bó với nó một cách thường xuyên và càng ngày càng nhiều Mỗi năm có khoảng 35 triệu người nỗ lực từ bỏ thuốc lá Tuy nhiên chưa đến 7% trong số này thành công trong việc cai nghiện với khoảng thời gian nhiều hơn một năm, và hầu hết đều bắt đầu hút thuốc trở lại trong vòng vài ngày

Trang 3

Đối với người mới hút thuốc, hệ phó thần kinh giao cảm bị kích thích, toát mồ hôi, lạnh, buồn nôn, hạ huyết áp, tim đập nhanh, ngất lịm Đối với người nghiện thuốc lá hay người thu hoạch, phơi sấy thuốc lá, thuốc lào thường hay bị cháy bỏng thực quản, dạ dày, chóng mặt, vã mồ hôi, run tay, đau bụng, rối loạn thị giác, tim đập nhanh, kích thích hệ giao cảm, tăng huyết áp, suy nhược cơ thể, rối loạn cục bộ Nicotin gây độc cấp tính do nhai thuốc

lá vì hấp thụ nước chất từ thuốc

Nicotin trong cơ thể tích lũy lâu ngày gây nên co thắt phế quản, tăng nồng độ axit béo trong máu gây nên xơ mỡ động mạch, tăng tiểu cầu, làm máu chóng đông, giảm lượng estrogen trong máu làm mãn kinh sớm, gây nên tai biến như cơn đau, viêm động mạch, nhồi máu cơ tim

- Tăng tác dụng của tuyến thượng thận trong thời gian đầu

- Giảm sự sản xuất histamine

- Thay đổi sự tổng hợp proteine và dự trữ serotonine

- Gia tăng sự tập hợp tiểu cầu, gây hư hại tế bào biểu mô, gây biến đổi ở chuyển hóa prostacyclin và thromboxane

- Gây co mạch và gây thuyên tắc trên hệ thống mạch máu ngoại vi

- Ức chế phản ứng viêm thông qua tác động của hệ thống thần kinh trung ương và ngoại

vi và thông qua tác động trực tiếp trên các tế bào miễn dịch

- Nicotin kích thích dòng chảy canxi và gia tăng sự biệt hóa tế bào Tương tự như hệ thống thần kinh, dòng chảy canxi vào tế bào sừng của thượng bì thông qua các cấu trúc tiếp nhận các truyền đạt thần kinh hướng điện giải sẽ là yếu tố quyết định trong thăng bằng nội

mô của da

- Nicotin làm chậm lành vết thương: do làm giảm lượng máu đến da, gây thiếu máu

mô và làm chậm sự lành các mô bị chấn thương

Thông thường công nhân tiếp xúc nghề nghiệp với nicotin trong các nhà máy sản xuất thuốc lá, trong quá trình công nghệ: chế biến, sấy khô, lên men, cuốn điếu, đóng bao…

Nicotin xâm nhập vào cơ thể thông qua các con đường như: đường tiêu hóa, đường hô hấp, qua Khi nicotin được đưa vào cơ thể, nó được vận chuyển nhanh thông qua đường máu

và có thể vượt qua rào cản giữa máu và não Kể từ khi hít vào nicotin mất trung bình 7 giây

để chạy tới não Thời gian bán phân rã của nicotin trong cơ thể vào khoảng 2 giờ

Nicotin nuốt vào dạ dày bị dịch vị axit ngăn cản sự hấp thụ, xuống ruột vào hệ thống gan, nicotin bị phân rã trong gan bằng enzym cytochrome P450 (chủ yếu là CYP2A6, và cũng có CYP2B6) Tại đây, 70% nó bị phá hủy ngay từ lần đầu đi qua Cơ thể người có thể đào thải nicotin ra nước tiểu dưới dạng cotinin với thời gian bán hủy kéo dài (20 giờ)

1.2 Tìm hiểu về thuốc lá, hiện trạng sản xuất và sử dụng trên thế giới và ở Việt Nam

Tổ chức sức khỏe thế giới (năm 1990) đã đưa ra định nghĩa về cây thuốc lá như sau:

“thuốc lá là một loài cây độc, nhất là những lá già, có hàm lượng nicotin cao đóng vai trò là hoạt chất chính của thuốc lá hay thuốc lào”

Cây thuốc lá có nguồn gốc Nam Mỹ và có lịch sử trồng trọt cách đây khoảng 4000 năm, từ Nam Mỹ cây thuốc lá được đem đi trồng khắp nơi trên thế giới thuộc châu Á, châu

Mỹ, châu Âu, châu Phi

Thuốc lá là tên gọi của một loại sản phẩm được làm chủ yếu từ nguyên liệu lá cây thuốc lá đã thái sợi, được cuốn hay nhồi định hình bằng giấy, có dạng hình trụ (thường có độ

dài dưới 120mm, đường kính khoảng 10mm) Thuốc lá điếu thường được đốt cháy ở một

đầu, để cháy âm ỉ nhằm mục đích tạo khói và khói này theo dòng khí vào miệng người hút từ

Trang 4

đầu đối diện (thường có gắn đầu lọc) Một điếu thuốc lá có chứa từ 1mg đến 3mg nicotin

Từ thế kỷ XIX, việc sử dụng thuốc lá đã trở nên phổ biến trên phạm vi toàn cầu, với quy mô lớn Ngày nay, có khoảng 1,1 tỷ người trên thế giới hút thuốc lá Trong số này, có 80% người hút thuốc sống tại các nước có thu nhập trung bình và thấp, với số lượng 933 triệu người và chỉ có 20% người hút thuốc sống tại các nước có thu nhập cao với khoảng 209 triệu người

Tỷ lệ hút thuốc theo vùng cũng rất khác nhau ở cả hai nhóm nam và nữ Tuy nhiên, tỷ

lệ hút thuốc trong nữ giới có sự khác biệt rõ ràng giữa các vùng Tại Đông Âu và Trung Á, trong năm 2001 có 59% nam giới và 26% nữ giới hút thuốc, cao hơn tất cả các khu vực khác Tại Đông Á và Thái Bình Dương, tỷ lệ hút thuốc trong nam giới khá cao ở mức 59% trong khi tỷ lệ hút thuốc của nữ chỉ có 4% Đi đôi với nó là tổng số điếu thuốc lá tiêu thụ bình quân của một người trưởng thành cũng gia tăng Theo số liệu thống kê, thế giới sản xuất ra 5,5 nghìn tỷ điếu thuốc lá mỗi năm

Theo thống kê của WHO, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời thì sẽ có khoảng 10% dân số hiện nay nghĩa là vào khoảng 7,5 triệu người Việt Nam sẽ chết sớm vì các bệnh liên quan đến thuốc lá, trong đó có 3,7 triệu người chết ở độ tuổi trung niên

Số liệu ước tính mới đây (năm 2006) cho thấy tỷ lệ hút thuốc ở nam giới ở Việt Nam

là hơn 49% Trong số những người trẻ (từ 25 đến 45 tuổi) tỷ lệ hút thuốc thậm chí còn cao hơn, khoảng 65% Tuy tỷ lệ hút thuốc là thấp ở nữ giới dưới 2% nhưng nữ giới lại phải chịu những tác hại của hút thuốc thụ động

Thuế thuốc lá ở Việt Nam hiện chiếm 45% giá bán lẻ thuốc lá đã bao gồm thuế, thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ 65 - 80% do Ngân hàng Thế Giới ghi nhận ở các nước có chính sách kiểm soát thuốc lá hiệu quả Các chính sách kiểm soát thuốc lá như tăng thuế dường như không có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể lên việc làm trong các ngành trồng và sản xuất thuốc lá

Ở Việt Nam, tỷ lệ hút thuốc lá năm 2006 là khoảng trên 49,2% ở nam giới, nhưng dưới 2% ở nữ giới Tỷ lệ này thấp hơn so với một thập kỷ trước đây khi có tới hơn 60% nam giới và 4% nữ giới hút các sản phẩm thuốc lá, mặc dù mức giảm này chủ yếu xuất hiện trong khoảng thời gian từ 1993 đến 1998

Cuộc điều tra y tế thế giới tiến hành năm 2003 cho thấy tỷ lệ hút thuốc là 51,2% ở nam giới và 2,8% ở nữ giới Tỷ lệ hút thuốc được phân bổ đều giữa đô thị và nông thôn, mặc

dù người sử dụng thuốc lá ở các khu vực khác nhau có khuynh hướng sử dụng các loại sản phẩm thuốc lá khác nhau Trong số những người hút thuốc là nam giới trong năm 2001 -

2002, 69,1% chỉ hút thuốc lá, 23,2% chỉ hút thuốc lào, và 7,7% sử dụng cả hai loại Ở thành phố, trong tổng số nam giới thì tỷ lệ nam giới chỉ hút riêng thuốc lá chiếm 48,6%, chỉ hút thuốc lào chiếm 3,8% Trong khi đó ở nam giới nông thôn, 35,6% chỉ hút thuốc lá và 16% chỉ hút thuốc lào

Tỷ lệ hút thuốc thấp ở phụ nữ ở Việt Nam không hẳn đã bảo vệ được họ khỏi các tác hại của khói thuốc Trong năm 2001 - 2002, 63% hộ gia đình có ít nhất một người hút thuốc Tương tự như vậy, năm 2003, gần 60% học sinh tuổi thiếu niên nói rằng thường hay hít phải khói thuốc thụ động ở nhà, trong khi 71% trẻ em dưới 5 tuổi sống trong các hộ gia đình có ít nhất một người hút thuốc

Ở Việt Nam, theo Báo cáo của Bộ Y tế (tháng 4 năm 2003), tỷ lệ người hút thuốc lá ở nam chiếm 50% và ở nữ chiếm 3,4%, thanh thiếu niên có độ tuổi từ 15 - 24 chiếm 26% cao nhất châu Á Trên 40% nam cán bộ y tế và 1,3% nữ cán bộ y tế hút thuốc lá Thuốc lá giết

Trang 5

chết một nửa số người sử dụng nó, một nửa số này chết ở lứa tuổi trung niên

1.3 Các phương pháp phân tích nicotin

Phương pháp quang phổ

Phương pháp sắc ký lỏng cao áp

Phương pháp sắc ký khí

Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng được chọn là Nicotin trong không khí nơi sản xuất thuốc lá và khu vực xung quanh; trong máu người làm trong môi trường sản xuất thuốc lá và người hút thuốc lá 2.2 Phương pháp nghiên cứu

Với đối tượng nghiên cứu là nicotin trong môi trường không khí và nicotin trong máu, lựa chọn phương pháp sắc ký khí với detectơ cộng kết điện tử (GC/ECD) và phương pháp sắc

ký khí khối phổ (GC-MS), phương pháp chiết lỏng - lỏng là các phương pháp chính sử dụng trong nghiên cứu Các phương pháp lựa chọn này cho hiệu suất và độ thu hồi cao, ngưỡng phát hiện thấp, quy trình đơn giản; thiết bị sử dụng trong nghiên cứu thông dụng ở các phòng thí nghiệm tại Việt Nam hiện nay

Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp như: Phương pháp chiết lỏng - lỏng, các phương pháp lấy mẫu khí, mẫu máu

Thực nghiệm

Quá trình tiến hành thực nghiệm được thực hiện tại phòng nghiên cứu độc chất thuộc Trung tâm Giáo dục và Phát triển sắc ký - Đại học Bách Khoa Hà Nội

Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1 Xây dựng đường ngoại chuẩn của nicotin

3.1.1 Đường ngoại chuẩn xác định nicotin trong mẫu khí

Phương trình định lượng nhận được từ đường ngoại chuẩn để xác định nicotin trong không khí có dạng:

y = 7886x + 37475, R2 = 0,996

Trong đó: x là nồng độ của chất chuẩn nicotin (x10-3

mg/mL)

y là số đếm diện tích píc trên sắc đồ

R là hệ số tương quan 3.1.2 Đường ngoại chuẩn xác định nicotin trong mẫu máu

Phương trình đường chuẩn có dạng:

y = 4E+07x - 154025, R2 = 0,997

Trong đó: x là nồng độ nicotin (ng/mL)

y là số đếm diện tích píc của nicotin

R là hệ số tương quan 3.2 Phân tích nicotin trong không khí

3.2.1 Kết quả phân tích nicotin trong các mẫu khí lấy tại khu vực Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

Kết quả phân tích nicotin trong mẫu khí lấy tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên cho thấy, mẫu M1 và M2 không phát hiện ra nicotin, có thể là do thời tiết xấu, trời vừa tạnh mưa, không có nắng, độ ẩm không khí cao, chưa có sự phân tán nicotin trong không khí nên mẫu thu được không phát hiện ra nicotin trong kết quả đo

Trang 6

Mẫu M4, M7, M5 cho thấy nồng độ nicotin tương đối lớn, trong đó mẫu M4 là lớn nhất Các mẫu này được lấy vào thời điểm từ 10 - 14 giờ và trời đang nắng và là lúc mùi thuốc lá nồng nặc nhất Thời điểm này là thời điểm nhà máy sản xuất và khi trời nắng, độ ẩm không khí thấp nên trong không khí có nồng độ nicotin cao Mẫu M4 xác định thấy nồng độ nicotin cao nhất, vì vị trí lấy mẫu gần nhà máy thuốc lá Thăng Long hơn so với các vị trí lấy mẫu khác

Trong các mẫu khí lấy tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên xác định thấy nồng độ nicotin dao động từ 0,0187 (M6) cho đến 0,1086 (M4)

Từ kết quả xác định nicotin trong các mẫu thực tế cho thấy, nồng độ nicotin trong không khí nhỏ hơn so với Tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam (TCCP 3733/2002/QĐ-BYT cho phép nồng độ nicotin trong không khí là 1,0 mg/m3

) vì vậy mức độ mùi ứng với nồng độ nicotin đã nêu vẫn có thể chấp nhận được Tuy nhiên, về lâu dài với nồng độ nicotin như vậy cũng sẽ ảnh hưởng tới người lao động và người dân sống quanh nhà máy

3.2.2 Kết quả phân tích tại khu vực sản xuất thuốc lá

Trong các mẫu nghiên cứu lấy tại cơ sở sản xuất, hàm lượng nicotin dao động rộng từ 0,015 mg/m3 không khí (M22) đến 1,2 mg/m3 không khí (M24) Như vậy, trong thực tế đã có

sự phát tán rộng nicotin trong môi trường không khí nơi có người lao động làm việc

Mẫu M24 xác định thấy nồng độ nicotin cao nhất (1,2 mg/m3 không khí), vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP 3733/2002/QĐ-BYT cho phép nồng độ nicotin trong không khí

là 0,5 mg/m3

), vì đây là mẫu lấy tại nơi có dây chuyền sản xuất thuốc lá thuộc công đoạn hấp sợi Do vậy sẽ làm phát thải ra nhiều chất khí độc hại trong đó có chứa nicotin, vì vậy kết quả xác định nồng độ nicotin cao nhất

Mẫu M22 xác định thấy nồng độ nicotin thấp nhất (0,015 mg/m3 không khí), mẫu này được lấy ở sân phía trước nhà hành chính, cách xa nơi sản xuất thuốc lá Vị trí lấy mẫu ở sân trước nhà hành chính thuộc phía cuối của hướng gió nên ít bị ảnh hưởng bởi khói thuốc lá thải ra trong qúa trình sản xuất, vì nồng độ nicotin thấp Nồng độ nicotin trong các mẫu khí lấy trong khu vực nhà máy thuốc lá Thăng Long dao động rộng (từ 0,015 mg/m3 không khí đến 1,2 mg/m3

không khí)

3.3 Hàm lượng nicotin trong máu người lao động

3.3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được lựa chọn là 42 người, trong đó tỷ lệ nam và nữ chênh lệch cao, tỷ lệ nữ chiếm 71,4% Phần lớn nam công nhân đều hút thuốc trong giờ nghỉ giải lao và sau ngày làm việc, vì vậy, phải loại bỏ họ khỏi nhóm đối tượng chọn để nghiên cứu

Số đối tượng nghiên cứu có tuổi đời trong khoảng từ 42 đến 54 tuổi; nhóm có độ tuổi

từ 46 đến 50 chiếm tỷ lệ cao nhất 57,2%

Tuổi nghề của các đối tượng được lựa chọn để nghiên cứu là khá cao, nằm trong khoảng từ 24 đến 34 năm; trong đó có đến 83,3% đối tượng có tuổi nghề trong khoảng từ 26 đến 30 năm

Cơ cấu tổ chức của nhà máy thuốc lá Thăng Long được xác lập gồm các phòng chức năng và có 6 phân xưởng sản xuất, trong đó có 3 phân xưởng chính là phân xưởng Bao cứng, phân xưởng Bao mềm và phân xưởng Sợi

Số mẫu máu được lấy để phân tích xác định nicotin được lấy ở những người làm việc tại Phân xưởng Bao mềm chiếm tỷ lệ cao nhất là 66,7% Có sự chênh lệch về số lượng đối tượng nghiên cứu là do: Phân xưởng Bao mềm là phân xưởng có quy mô lớn nhất trong nhà

Trang 7

máy Phòng nguyên liệu có số người được lấy mẫu máu nhiều thứ 2, nhưng ở đây số người

được lấy mẫu chủ yếu là nữ giới

3.3.2 Kết quả xác định nồng độ nicotin trong các mẫu máu của người lao động tại nhà máy thuốc lá Thăng Long

Kết quả phân tích cho thấy nồng độ nicotin trong máu của 12 lao động nam làm việc tại Nhà máy thuốc lá Thăng Long có nồng độ nicotin trong khoảng từ 0,06 đến 0,2 ng/mL

Nồng độ nicotin trong máu của người lao động cao chủ yếu đối với những người làm việc tại Phân xưởng Bao mềm Mẫu M5 có nồng độ nicotin cao nhất là 0,2 ng/mL, đây là mẫu máu của người làm việc tại phân xưởng bao mềm, có số năm công tác tại nhà máy là 28 năm và có tuổi đời là 46 tuổi

Nồng độ nicotin trong máu của các lao động nữ cũng đã được xác định, kết quả phân tích nêu ở Bảng 3.10; nồng độ nicotin trong các mẫu máu nằm trong khoảng giá trị từ 0,06 đến 0,38 ng/mL

Đối với lao động nữ số mẫu máu có nồng độ nicotin ≥ 0,2 ng/mL là 10 mẫu, phần lớn thuộc nhóm người làm việc tại Phân xưởng Bao mềm, trong đó có ba mẫu máu thuộc nhóm người lao động làm việc tại Phòng nguyên liệu Mẫu số 4 có nồng độ nicotin cao nhất (0,38 ng/mL) là mẫu máu của người lao động nữ làm việc tại Phân xưởng Bao mềm, có tuổi đời là

51, thâm niên công tác là 28 năm

Do việc lấy mẫu máu phức tạp và gặp nhiều khó khăn nên chủ yếu tập trung lấy mẫu máu của đối tượng nghiên cứu làm việc tại Phân xưởng Bao mềm, với khoảng độ tuổi giới hạn trong khoảng từ 42 - 54 tuổi, thâm niên công tác nằm trong khoảng từ 24 - 34 năm

3.3.4 Kết quả phân tích hàm lượng nicotin trong máu của 29 người điều trị bệnh tại Viện

Y học Cổ truyền Quân đội

Để có cơ sở so sánh nồng độ nicotin trong mẫu máu giữa người làm việc trực tiếp trong nhà máy, tiến hành lấy mẫu máu của 29 người điều trị bệnh tại Viện Y học Cổ truyền Quân đội Đây là những người làm việc trong nhà máy thuốc lá và đã có các biểu hiện bệnh

lý về tim mạch, hô hấp, sạm da…,

Từ kết quả phân tích cho thấy nồng độ nicotin trong mẫu máu của những người đến điều trị bệnh tại Viện Y học Cổ truyền Quân đội nằm trong khoảng từ 0,05 đến 0,75 ng/mL Trong đó, mẫu số 1 và mẫu số 77 có nồng độ nicotin cao 0,31 và 0,75 ng/mL thuộc người lao động là nam giới, có tiền sử hút thuốc lá hàng ngày và không làm việc trong nhà máy sản xuất thuốc lá Có 3 mẫu có nồng độ nicotin lớn hơn 0,2 ng/mL, còn lại 26 mẫu có nồng độ từ thấp hơn 0,2 ng/mL

Mẫu máu của những người còn lại, mặc dù đã được Viện cho uống thuốc loại bỏ nicotin ra khỏi cơ thể, nhưng vẫn khá cao so với những người không được uống thuốc đang làm việc trực tiếp tại nhà máy sản xuất thuốc lá Thăng Long

3.4 Đánh giá mối tương quan giữa nồng độ nicotin trong máu và bệnh tật của người lao động

Nicotin xâm nhập vào cơ thể qua nhiều con đường: qua đường hô hấp, qua đường tiêu hóa, qua da Cho dù đi vào cơ thể bằng con đường nào thì nicotin cũng đều gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người bị nhiễm nó với các mức độ khác nhau tùy thuộc vào nồng độ nicotin

có trong cơ thể

Công nhân sản xuất thuốc lá làm việc trong nhà máy thuốc lá Thăng Long phần lớn đều mắc bệnh về răng: sâu răng, viêm lợi

Trang 8

Với người lao động có hàm lượng nicotin trong máu <0,2 ng/mL chưa thấy có triệu chứng về tuần hoàn, các biểu hiện về thần kinh chiếm 6,67%, hô hấp chiếm 26,67%

Số người lao động có hàm lượng nicotin ≥0,2 ng/mL có triệu chứng mắc các bệnh về

hô hấp là 58,33%, thần kinh là 41,67%, tiêu hóa là 16,67%, xuất hiện các triệu chứng về tuần hoàn là 8,33%, sạm da 25%

3.5 Một số ảnh hưởng của nicotin đến sức khỏe người lao động

Nhiễm độc mãn tính: là biểu hiện nhiễm độc nicotin nghề nghiệp ở các công nhân làm việc trong nhà máy sản xuất thuốc lá, thường phải tiếp xúc với môi trường có nồng độ bụi nicotin cao trong điều kiện vệ sinh chung và vệ sinh cá nhân kém Các biểu hiện của nhiễm độc mãn tính:

+ Niêm mạc mắt, mũi, họng bị kích thích (chảy nước mắt, nhức mắt, giảm thị lực) + Có thể bị dị ứng ngoài da, móng tay mỏng, dễ gẫy, sạm da

+ Rối loạn về tim mạch: rối loạn nhịp tim, huyết áp cao

+ Về thần kinh: run, đau đầu, mất ngủ, kém ăn, hay xúc động, trí nhớ giảm sút, dễ quên, thính lực và thị lực giảm

+ Về tiêu hóa: buồn nôn, ăn không ngon, khó tiêu, ợ chua, đau thượng vị

+ Về hô hấp: viêm phế quản mãn tính, giảm thông khí phổi

+ Xét nghiệm cận lâm sàng: Nicotin niệu cao Đối với người không hút thuốc lá: trên 0,3 mg/L Đối với người hút thuốc lá: trên 1,2 mg/L

3.6 Bàn luận về giải pháp làm giảm thiểu ảnh hưởng xấu của nicotin trong môi trường khí đến người lao động

Trên thế giới đã xây dựng “Công ước Khung về kiểm soát thuốc lá”, các quốc gia ký Công ước cần có hành động thiết thực để giảm thiểu tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người và môi trường sống Hiện nay, ở Việt Nam đã xây dựng “Chính sách quốc gia phòng chống tác hại của thuốc lá”, với nội dung như: Giáo dục sức khoẻ, điều chỉnh quy định về

thuế và giá thuốc lá, giảm nhu cầu sử dụng, tiến tới kiểm soát và giảm mức cung cấp các sản

phẩm thuốc lá, nhằm giảm tỷ lệ mắc và chết do các bệnh liên quan đến thuốc lá Năm 2011, hưởng ứng phát động của Tổ chức Y tế Thế giới, tại Việt Nam Thủ tướng Chính phủ đã quyết

định phát động “Tuần lễ Quốc gia không thuốc lá”, từ ngày 25/5/2011 đến ngày 31/5/2011

Tuy nhiên, những nội dung trên chủ yếu nhằm vào các đối tượng sử dụng thuốc lá và những người chịu ảnh hưởng từ khói thuốc của những người hút thuốc lá, còn sức khỏe của người lao động tại nơi sản xuất thuốc lá thì hầu như chưa được đề cập và chưa có biện pháp giảm thiểu nào được đưa ra

Để giảm thiểu tác động của các chất phát tán vào không khí do sản xuất thuốc lá gây

ra và ảnh hưởng của nicotin có trong môi trường không khí nói riêng đến sức khỏe người lao động nơi sản xuất thuốc lá cần phải có chiến lược và biện pháp cụ thể

Đối với nhiễm độc nicotin mãn tính không có thuốc điều trị giải độc đặc hiệu do vậy chủ yếu là điều trị triệu chứng kết hợp với điều dưỡng nâng cao thể trạng

Về dự phòng, cần lắp đặt các hệ thống thông hút gió có gắn với bộ phận hấp phụ khí độc ở những nơi phát sinh hơi, bụi thuốc lá và đây chính là biện pháp hữu hiệu và quan trọng nhất Định kỳ tổ chức khám để phát hiện sớm tình trạng nhiễm độc nicotin nghề nghiệp ở công nhân trực tiếp sản xuất, thường xuyên tiếp xúc với thuốc lá

Trong nhà máy cần có những nơi để công nhân thực hiện vệ sinh cá nhân tốt nhất sau mỗi ca làm việc trước khi về nhà, áp dụng chế độ ăn giữa giờ, uống sữa theo quy định về bảo

Trang 9

hộ lao động cá nhân Định kỳ theo dõi, giám sát nồng độ nicotin trong không khí để có giải pháp khắc phục kịp thời làm giảm nồng độ nicotin trong không khí ở dưới mức tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (dưới 0,5 mg/m3

không khí)

Kết luận

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thu được có thể rút ra một số kết luận sau:

1 Đã sử dụng phương pháp sắc ký khí với detector cộng kết điện tử (GC-ECD) và detector khối phổ (GC/MS) để định lượng nicotin trong mẫu không khí và trong mẫu máu; các phương pháp này cho kết quả xác định nicotin đáng tin cậy

2 Đã tiến hành xác định nồng độ nicotin trong mẫu không khí lấy tại các phân xưởng sản xuất của nhà máy thuốc lá Thăng Long và khu vực xung quanh Nồng độ nicotin trong không khí thuộc khu vực sản xuất thuốc lá nằm trong khoảng từ 0,015 đến 1,2 mg/m3

, phần lớn không vượt quá giới hạn cho phép (TCCP 3733/2002/QĐ-BYT là 0,5 mg/m3); nồng độ nicotin trong môi trường không khí xung quanh nhà máy sản xuất thuốc lá Thăng Long là từ 0,0187 đến 0,1086 mg/m3, không vượt quá giới hạn cho phép(TCCP 3733/2002/QĐ-BYT là 1,0 mg/m3)

3 Đã xác định nồng độ nicotin trong máu của 42 người lao động (12 nam, 30 nữ) làm việc tại các phân xưởng khác nhau trong nhà máy thuốc lá Thăng Long, ở độ tuổi từ 42 đến

54, có thâm niên công tác từ 24 đến 34 năm Nồng độ nicotin trong máu người lao động nằm trong khoảng từ 0,06 - 0,38 ng/mL, nồng độ nicotin trong máu của lao động nữ cao hơn lao động nam

4 Xác định hàm lượng nicotin trong máu của 29 người điều trị bệnh tại Viện Y học

Cổ truyền Quân đội có uống thuốc loại bỏ nicotin ra khỏi cơ thể Nồng độ nicotin trong máu nằm trong khoảng 0,05 - 0,75 ng/mL Chủ yếu các mẫu có nồng độ nicotin thấp hơn 0,2 ng/mL, các nồng độ này thấp hơn không đáng kể so với những người làm việc trong môi trường sản xuất thuốc lá

5 Bước đầu đánh giá mối liên quan giữa nồng độ nicotin trong máu với bệnh tật xuất hiện ở người làm việc trực tiếp trong môi trường sản xuất thuốc lá, chủ yếu là các bệnh liên quan đến: tim mạch, phổi, da, răng, hàm, mặt

Khuyến nghị

Để giảm thiểu tác hại của nicotin trong môi trường sản xuất thuốc lá đến sức khỏe người lao động cần phải có chiến lược và biện pháp cụ thể

Đối với nhiễm độc nicotin mãn tính không có thuốc điều trị giải độc đặc hiệu do vậy chủ yếu là điều trị triệu chứng kết hợp với điều dưỡng nâng cao thể trạng

Về dự phòng, cần lắp đặt các hệ thống thông hút gió có gắn với bộ phận hấp phụ khí độc ở những nơi phát sinh hơi, bụi thuốc lá và đây chính là biện pháp hữu hiệu và quan trọng nhất

Định kỳ tổ chức khám để phát hiện sớm tình trạng nhiễm độc nicotin nghề nghiệp ở công nhân trực tiếp sản xuất, thường xuyên tiếp xúc với thuốc lá

Định kỳ theo dõi, giám sát nồng độ nicotin trong không khí để có giải pháp khắc phục kịp thời làm giảm nồng độ nicotin trong không khí ở dưới mức tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (dưới 0,5 mg/m3

không khí)

Trong nhà máy cần có những nơi để công nhân thực hiện vệ sinh cá nhân tốt nhất, áp dụng chế độ ăn giữa giờ, uống sữa theo quy định về bảo hộ lao động cá nhân

Trang 10

References

Tiếng Việt

1 Hoàng Mai Anh, Nguyễn Hoài An, Lê Thị Thu (2003), Thuốc lá và các bệnh liên quan,

NXB Y học, Hà Nội

2 Hoàng Mai Anh, Lê Thị Thu, Trần Tuấn, Hoàng Văn Kinh (2004), Thuốc lá và chi tiêu cho các nhu cầu cơ bản ở Việt Nam

3 Lê Huy Bá (2008), Độc chất môi trường, NXB Khoa học và kỹ thuật

4 Bộ Công nghiệp-Tổng công ty thuốc lá Việt Nam (2001), Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch năm 2000, số 132/LTVN-TC

5 Bộ Công nghiệp (2006), Tình hình thực tế sản xuất và buôn bán thuốc lá, giai đoạn 2003 -

2005 và nửa đầu 2006, Hà nội

6 Bộ Y tế (2000), Chính sách Quốc Gia phòng chống tác hại thuốc lá 2000 -2001

7 Bộ Y tế (2003), Điều tra Sức khỏe Quốc gia Việt Nam (VNHS) 2001-2002, Hà nội

8 Bộ Y tế - Ban phòng chống tác hại của thuốc lá (1999), Một số kết quả điều tra về tình hình hút thuốc lá ở Việt Nam về các bệnh có liên quan, NXB Y học Hà Nội

9 Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Dược liệu, tr 8-48

10 Nguyễn Thị Thu Hiền, Hoàng Văn Kình, Đặng Vũ Trung, Nguyễn Tuấn Lâm (2010),

Thuế thuốc lá ở Việt Nam, Trung tâm Phân tích Chính sách và Kinh tế Y tế

11 Hiệp hội thuốc lá Việt Nam (2011), Dự thảo: Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2010 và định hướng nhiệm vụ năm 2011, Nha Trang

12 Nguyễn Đình Hòe, Tạ Hoàng Tùng Bách (2004), Sổ tay hướng dẫn thực hiện chiến dịch truyền thông môi trường, Cục bảo vệ môi truờng, Hà Nội

13 Hà Huy Kỳ (1996), Nghiên cứu một số khía cạnh bệnh học bệnh nghề nghiệp và bổ sung danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học công

nghệ cấp Bộ, tr 21-25

14 Hà Huy Kỳ, Vũ Khánh Vân (2001), Nghiên cứu ứng dụng phương pháp định lượng cotinin trong nước tiểu Xác định hàm lượng cotinin ở những người tiếp xúc nghề nghiệp trong sản xuất thuốc lá và những người không tiếp xúc, Báo cáo tổng kết đề tài

khoa học công nghệ cấp Bộ

15 Ngân hàng thế giới (2001), Ngăn chặn nạn dịch hút thuốc lá

16 Vũ Xuân Phú, Đặng Vũ Trung, Nguyễn Hồng Hà (2005), Chi phí về khám chữa bệnh cho những bệnh có liên quan đến thuốc lá, Đại học Y Hà Nội

17 Lê Thị Thu (2005), Luận văn thạc sĩ khoa học, Cơ sở khoa học của truyền thông môi trường trong giảm thiểu hút thuốc lá ở Việt Nam

18 Trần Thu Thủy, Đào Ngọc Phong và cộng sự (1999), Thực trạng tiếp xúc bị động với khỏi thuốc lá và ảnh hưởng của nó đến tình trạng sức khỏe của nhân dân tại hai phường nội thành Hà Nội, NXB Y học

19 Tổ chức Y tế Thế giới (2003), Công ước khung về kiểm soát thuốc lá

20 Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng (2008), Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6682-2008: Khói thuốc lá trong môi trường-Xác định nicotin và 3-etenylpyridin pha hơi trong không khí-Phương pháp sắc ký khí

21 Tổng cục Thống kê (1994), Điều tra Mức sống Việt nam (VLSS) 1992 - 1993, NXB Thống kê, Hà nội

Ngày đăng: 10/02/2014, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w