Cơ sở tài liệu để thực hiện luận văn - Kế thừa các kết quả nghiên cứu từ trước về phát triển nông nghiệp, phát triển nông nghiệp bền vững, và những nghiên cứu khác tại quận Hà Đông, th
Trang 1Đánh giá hiện trạng và định hướng phát triển nông nghiệp bền vững ở quận Hà Đông,
Hà Nội Trần Thị Liên
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn ThS ngành: Sử dụng và Bảo vệ Tài nguyên Môi trường
Mã số: 60 85 15 Người hướng dẫn: PGS.TS Đinh Văn Thanh
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Khái quát cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp bền vững ở một đô thị
đang diễn ra quá trình đô thị hóa mạnh Nghiên cứu, phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển nông nghiệp ở quận Hà Đông Định hướng phát triển nông nghiệp bền vững Đề xuất các giải pháp thực hiện phương án quy hoạch phát triển nông nghiệp
ở quận Hà Đông
Keywords Phát triển nông nghiệp; Định hướng phát triển; Tài nguyên môi trường;
Hà Nội
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp ngoại thành Hà Nội mặc dù chiếm tỷ lệ khiêm tốn trong cơ cấu kinh tế Thủ đô, nhưng được xác định là ngành có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Vai trò đó không chỉ được thể hiện ở chỗ đáp ứng đáng kể nhu cầu lương thực, thực phẩm cho người dân Thủ đô, làm đẹp cảnh quan, bảo vệ môi trường, mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc mang lại những giá trị tinh thần độc đáo, làm giàu nét đẹp truyền thống văn hoá người Hà Nội Trong bối cảnh đô thị hoá và cạnh tranh ngày càng sâu sắc với các hoạt động phi nông nghiệp, lợi ích từ các sản phẩm nông nghiệp thuần tuý ở các vùng ngoại ô ngày càng thu hẹp Chính vì vậy, nông nghiệp ven đô nói chung và nông nghiệp ngoại thành Hà Nội nói riêng chỉ có thể tiếp tục duy trì và phát triển đúng hướng, phục vụ phát triển đô thị khi nó được phát triển theo hướng sản xuất nông nghiệp sinh thái
Hà Nội là Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là trung tâm chính trị-hành chính Qu ốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế Với lợi thế về vị trí địa lí- chính trị, có lịch sử phát triển lâu đời, Hà Nội luôn giữ vai trò quan trọng nhất của đất nước, có sức hút và tác động rộng lớn đối với Quốc gia và khu vực Bắc Bộ Hà Nội đồng thời còn là hạt nhân phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm phía Bắc và Vùng Hà Nội Trong xu hướng hội nhập và phát triển, việc nâng cao vai trò vị thế của Thủ đô Hà Nội trên trường quốc tế là một nhu cầu tất yếu Ngày 29/05/2008
Trang 2Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã ra Nghi ̣ quyết 15/2008 QH12 về viê ̣c điều chỉnh đi ̣a giới hành chính thủ đô Hà Nô ̣i trên cơ s ở sáp nhập Thành phố Hà Nội cũ với tỉnh Hà Tây
cũ, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình Theo kết quả tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009, dân số thành phố Hà Nội mở rộng có 6.448.837 người và diện tích tự nhiên rộng 3.344,6 km2, gồm 10 quận, 1 thị xã và 18 huyện ngoại thành, đứng thứ hai về dân số và đứng đầu cả nước về diện tích, nằm trong danh sách 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới Chính vì vậy, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm nông sản như rau quả, thịt cá, sữa, trứng rất lớn
Trước ngày 29/5/2008, quận Hà Đông là Thành phố Hà Đông (thuộc tỉnh Hà Tây cũ) là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh Hà Tây, nằm giáp với phía Tây Nam của thành phố Hà Nội Vị trí địa lý tự nhiên đó tạo cho quận Hà Đông một lợi thế lớn về địa lý- kinh tế và giao thông thuận lợi, có điều kiện để tiếp thu những thành tựu khoa học tiên tiến, thu hút nguồn lao động trẻ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và sự quan tâm của Đảng ủy- Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Quá trình đô thị hóa tại quận Hà Đông những năm gần đây rất mạnh, đặc biệt là khu vực ngoại thành quận Hà Đông Đó cũng là nguyên nhân khiến diện tích đất nông nghiệp tại quận Hà Đông giảm một cách đáng kể Mặc dù là một quận thuộc thành phố Hà Nội nhưng quận Hà Đông vẫn có một lượng lao động đáng kể làm nông nghiệp lâu đời Do đó ta cần phải quy hoạch, tổ chức lại để duy trì phát triển nông nghiệp trên địa bàn quận Hà Đông hợp lý, trên có sở xác định mục tiêu:
- Xác định quy hoạch để cân đối lại diện tích đất nông nghiệp ở quận Hà Đông để đảm bảo mục tiêu phát triển vùng chuyên canh nông nghiệp bền vững, cơ cấu nông nghiệp bền vững đáp ứng nhu cầu phát triển
- Phát triển nông nghiệp nghĩa là phát triển một đô thị xanh đảm bảo cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường cho vùng đô thị, trên quan điểm sinh thái bền vững
Tác giả xin chọn đề tài: “Đánh giá hiện trạng và định hướng phát triển nông nghiệp bền vững ở quận Hà Đông, Hà Nội” làm hướng đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ khoa học
1 Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ phát triển Nông nghiệp bền vững ở quận Hà Đông, Hà Nội
2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khái quát cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp bền vững ở một đô thị đang diễn
ra quá trình đô thị hóa mạnh
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển nông nghiệp ở quận Hà
Đông
- Định hướng phát triển nông nghiệp bền vững
- Đề xuất các giải pháp thực hiện phương án quy hoạch phát triển nông nghiệp ở
quận Hà Đông
3 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập và sử lý số liệu thống kê
- Phương pháp khảo sát thực địa và điều tra xã hội học
- Phương pháp phân tích logic
- Phương pháp thống kê học
- Phương pháp cân đối kinh tế
- Phương pháp mô hình toán học
4 Cơ sở tài liệu để thực hiện luận văn
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu từ trước về phát triển nông nghiệp, phát triển nông
nghiệp bền vững, và những nghiên cứu khác tại quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
- Tài liệu thu thập được bao gồm hệ thống số liệu, bản đồ, các công trình nghiên cứu
khoa học có liên quan: tài liệu về khí hậu, địa chất, địa hình, thuỷ văn, thuỷ lợi, dân số, lao
Trang 3động, mức sống, tình hình phát triển của các ngành kinh tế, các số liệu có liên quan đến phát triển nông nghiệp của quận , bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ chuyên đề…
5 Tổng quan tài liệu trong và ngoài nước về vấn đề nghiên cứu
- “Các nguyên lý sinh thái của nông nghiệp”, tác giả Laura E Powers và Robert
McSorley, năm 1998, nhà xuất bản Mc Graw Hill, Inc phát hành
- “Kinh tế học sinh thái và phát triển bền vững: Lý thuyết, phương pháp và ứng
dụng”, tác giả Jenroen, năm 1996, nhà xuất bản Mc Graw Hill, Inc phát hành
- “Lịch sử nông nghiệp bền vững và hệ thống nông nghiệp bền vững”, tác giả
Richard R Harwood, năm 1990, ấn hành bởi Lucie Press
- “Nông nghiệp đô thị và ven đô” thuộc “Chương trình đặc biệt về an toàn lương
thực” của FAO
- Mô hình hệ sinh thái “Aqua-terra” ở Inđônêsia, mô hình nông nghiệp xanh (Green
core) ở Hà Lan, mô hình “vườn trong thành phố” với kỹ thuật trồng rau thuỷ canh ở Ecuađo
và một số nước châu phi khác
- Một hướng nghiên cứu khác về nông nghiệp đô thị của các chuyên gia nông nghiệp
Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Á lại quan tâm đến tác động của đô thị hoá đến nông nghiệp đô thị Trong khi các nhà nghiên cứu Bắc Mỹ (trong những năm 70 và 80) tập trung đánh giá ảnh hưởng của đô thị hoá đến năng suất và sản lượng nông nghiệp trên cơ sở nghiên cứu hoạt động của các nông trại trong điều kiện đô thị hoá, thì các nghiên cứu ở Châu Âu và châu Á lại quan tâm nhiều hơn đến vai trò của nông nghiệp ven đô đối với bảo vệ cảnh quan môi trường Các nghiên cứu này đã đi đến kết luận là sự phát triển của nông nghiệp ven đô phụ thuộc rất lớn vào các chủ trương, chính sách về kế hoạch hoá đô thị (như nghiên cứu về “Kế hoạch chiến lược phát triển không gian xanh cho các khu vực đô thị có mật độ dân cư cao” được trình bày tại hội thảo quốc tế về “Các vấn đề và tương lai phát triển thành phố sinh thái” tổ chức qua mạng năm 2003
- Mô hình vành đai xanh- Greenbelt của Boal (1970)
- “Chuyển dịch cơ cấu- cẩm nang kinh tế phát triển”, tác giả Chenery, năm 1988
- “Nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu, các chiến lược kinh tế ở các quốc gia đang
phát triển” của Johnston B F Kilby P., ấn hành bởi Oxford University năm 1975
- “Nghiên cứu so sánh về cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế” của Kuznets năm
1959
- Có một số nghiên cứu khá điển hình liên quan đến nông nghiệp đô thị và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở các quốc gia như Thái Lan, Trung Quốc và Mỹ như các nghiên cứu của McGee và Greenberg (1990), của Doras (1996), của Mollard (1997) và của Srijantr (1998) về nông nghiệp đô thị Bangkok; nghiên cứu của Gale F.H (1999) về các mô hình nông nghiệp kết hợp ở Trung Quốc; và nghiên cứu của Harison và P Grant (1976) về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đô thị ở Mỹ
Trong nước:
- Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Thủ đô từ năm 2000 đã nêu rõ “Phát triển
nông nghiệp ngoại thành theo hướng một nền nông nghiệp đô thị-sinh thái” là định hướng
cơ bản và có tính chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành Hà Nội
- Năm 2001, UBND Thành phố Hà Nội đã giao cho Khoa Kinh tế Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn, đại học Kinh tế Quốc dân chủ trì và nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu
cơ sở khoa học để xác định nội dung, tiêu chí và các giải pháp phát triển nông nghiệp ngoại thành theo hướng nông nghiệp sinh thái”
- “Phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái” do
PGS.TS Phạm Văn Khôi chủ biên, nhà xuất bản nông nghiệp ấn hành năm 2004
- Năm 2003, đề tài nghiên cứu khoa học “Cơ sở khoa học để phát triển nông nghiệp
theo hướng nông nghiệp đô thị-sinh thái và hiện đại hoá nông thôn Hà Nội giai đoạn
Trang 42006-2010” bắt đầu được nghiên cứu, do Phó chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Lê Quý Đôn làm chủ nhiệm đề tài
- “Nông nghiệp sinh thái hay nông nghiệp bền vững” của GS VS Đào Thế Tuấn
đăng trong tạp chí “Phát triển nông thôn”, số 37 tháng 3, 4 năm 2003
- “Nghiên cứu khái niệm, nội dung nông nghiệp đô thị”, tác giả Đào Thế Tuấn, năm
2003
“Nghiên cứu khái niệm về nông nghiệp đô thị-sinh thái và hiện đại hoá nông thôn” của PGS.TS Nguyễn Trung Quế, thực hiện năm 2003
6 Cấu trúc luận văn:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp bền vững
1.1Tổng quan các tài liệu về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp phát triển bền vững 1.1.1Khái niệm về nông nghiệp bền vững
1.1.2 Một số khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng vấn đề tổ chức phát triển nông nghiệp bền vững 1.3Các mô hình tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
1.3.2 Ý nghĩa kinh tế xã hội của nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
1.3.3 Các mô hình tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
1.3.3.1 Xí nghiệp nông nghiệp
1.3.3.2 Thể tổng hợp sản xuất lãnh thổ nông nghiệp (TTHSX-LTNN)
1.3.3.3 Vùng nông nghiệp
1.4 Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của phát triển nông nghiệp bền vững
1.4.1 Sự cần thiết phải phát triển nông nghiệp bền vững
1.4.2 Hiệu quả kinh tế của phát triển nông nghiệp bền vững
1.4.3 Hiệu quả xã hội của phát triển nông nghiệp bền vững
1.4.4 Hiệu quả về môi trường của phát triển nông nghiệp bền vững
Chương 2: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của quận Hà Đông
2.1Đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
2.1.2 Địa hình
2.1.3 Tài nguyên khí hậu
2.1.4 Tài nguyên nước
2.1.5 Tài nguyên đất
2.2Đặc điểm Kinh tế - Xã hội
2.2.1 Tăng trưởng kinh tế
2.2.2 Dân cư và lao động
2.2.3 Cơ sở hạ tầng
2.2.4 Hiện trạng môi trường quận Hà Đông
2.2.5 Đường lối chính sách và cơ chế
2.2.6 Nguồn vốn
2.2.7 Thị trường tiêu thụ
2.3 Đánh giá tổng quát những lợi thể và hạn chế của quận Hà Đông
2.3.1 Lợi thế
2.3.2 Hạn chế và thách thức
Chương 3: Phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển nông nghiệp trên quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững và định hướng phát triển nông nghiệp bền vững tại
quận Hà Đông
3.1Biến động quy mô đất nông nghiệp
3.2Cơ cấu và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
3.3Các vùng sản xuất chuyên canh hóa của quận
3.4Đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp
Trang 53.5Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp hiện tại quận Hà Đông
3.6 Định hướng, giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững
3.6.1 Định hướng quy mô và diện tích đất
3.6.2 Định hướng cơ cấu nông nghiệp bền vững
3.6.3 Định hướng xây dựng các vùng chuyên môn hóa
3.6.4 Định hướng hiệu quả kinh tế
3.6.5 Định hướng hiệu quả xã hội
3.6.6 Định hướng hiệu quả sinh thái bền vững
3.6.7Các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững
3.6.7.1 Giải pháp về thực hiện tổ chức lãnh thổ nông nghiệp phát triển bền vững
3.6.7.2 Giải pháp về nguồn vốn và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
3.6.7.3 Giảm thiểu ô nhiễm
3.6.7.4 Giải pháp về quản lý chất lượng sản phẩm
Kết luận và kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp bền vững
1.1 Tổng quan các tài liệu về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp phát triển bền vững
1.1.1 Khái niệm về nông nghiệp bền vững
Theo Uỷ ban kỹ thuật của FAO, nền nông nghiệp bền vững bao gồm việc quản lý có hiệu quả nguồn lực để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người mà vẫn duy trì hay làm tăng thêm chất lượng của môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
1.1.2 Một số khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững
Tăng trưởng được đánh giá bằng tỉ lệ tăng thu nhập quốc dân (GNP) và sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm
Sự phát triển được đánh giá không chỉ bằng GNP hoặc GDP tính bình quân trên đầu người mà còn bằng một số chỉ tiêu khác phản ánh sự tiến bộ xã hội như: Cơ hội về giáo dục, nâng cao sức khoẻ cộng đồng, tình trạng dinh dưỡng, nâng cao giá trị cuộc sống, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng vấn đề tổ chức phát triển nông nghiệp bền vững
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên: điều kiện khí hậu, đất, nước,…
Điều kiện kinh tế xã hội: tăng trưởng kinh tế, vốn, ngân sách, thị trường tiêu thụ…
1.3 Các mô hình tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
Các mô hình tổ chức lãnh thổ nông nghiệp như:
- Xí nghiệp nông nghiệp
- Thể tổng hợp sản xuất lãnh thổ nông nghiệp (TTHSX-LTNN)
- Vùng nông nghiệp
- Nông nghiệp đô thị
1.4 Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của phát triển nông nghiệp bền vững
Phát triển nông nghiệp bền vững có 3 hiệu quả rõ rệt: Hiệu quả về kinh tế: Đem lại sản lượng cao trong nông nghiệp, cung cấp nguồn nông sản cho thị trường, giá trị sử dụng đất cao
Hiệu quả về xã hội: Đem lại công ăn việc làm, nguồn thu cho một lực lượng lao động đáng
kể
Hiệu quả môi trường: Môi trường trong sạch hơn, hạn chế ô nhiễm môi trường do sản xuất nông nghiệp gây ra, hướng tới phát triển đô thị xanh
Trang 6Chương 2: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của quận Hà Đông
2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Địa giới hành chính: phía bắc giáp huyện Từ Liêm, huyện Hoài Đức, phía đông giáp huyện Thanh Trì, phía đông bắc giáp quận Thanh Xuân, phía tây giáp huyện Quốc Oai, Hoài Đức, phía tây nam giáp huyện Chương Mỹ, phía nam giáp huyện Thanh Oai Quận Hà Đông nằm ở vị trí trung tâm hình học của thành phố Hà Nội, giữa giao điểm của Quốc lộ 6 từ Hà Nội đi Hòa Bình và quốc lộ 70A Hà Đông cũng là nơi khởi đầu của quốc lộ 21B nối trung tâm Hà Nội tới các huyện phía nam và Hà Nam, Ninh Bình Quận này cũng nằm trên ngã ba sông Nhuệ, sông La Khê, là một điểm nhấn của Hà Nội mở rộng, tác động lan tỏa ra các vùng lân cận thành các trục phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhưng không làm mất đi cảnh quan, môi trường sinh thái, Hà Đông hướng tới
là một đô thị xanh
2.1.2 Địa hình
Hà Đông nằm trong vùng châu thổ sông Hồng có địa hình khá bằng phẳng, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Độ cao trung bình từ 5-7 m so với mặt biển Địa hình vùng đồng bằng tương đối bằng phẳng, mang đặc trưng vùng đồng bằng Bắc Bộ với nhiều
ô trũng đê viền, độ chênh địa hình không lớn, biên độ cao trình nằm trong khoảng 3,5m- 6,8m Đất đai màu mỡ, có điều kiện thâm canh cây lúa nước cho năng suất cao, phát triển rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày
2.1.3 Tài nguyên khí hậu
Khí hậu thời tiết của Hà Đông mang đặc trưng sắc thái của vùng khí hậu nhiệt đới nóng
ẩm mưa nhiều Đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm vào mùa hạ và lạnh khô vào mùa đông, là một trong những thuận lợi để quận phát triển một nền nông nghiệp đa dạng với các loại cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới đặc biệt là các cây trồng cho giá trị sản phẩm, kinh tế cao như rau cao cấp- súp lơ, cà rốt, cây màu, cây vụ đông và hoa cây cảnh các loại
2.1.4 Tài nguyên nước
- Chế độ thủy văn: Sông Nhuệ và sông La Khê là 2 con sông ảnh hưởng trực tiếp đến việc cấp và tiêu thoát nước khu vực quận Nguồn nước mặt dồi dào, thích hợp cho phát triển nông nghiệp, tuy nhiên hiện nay đang có dấu hiệu ô nhiễm
- Nguồn nước ngầm: Theo tài liệu thuyết minh địa chất thủy văn của PTS Ngô Ngọc Cát (chủ biên- trưởng phòng nghiên cứu nước dưới đất thuộc Trung tâm địa lý Tài nguyên) thì quận Hà Đông nằm trong khu vực đồng bằng nên nhìn chung nước ngầm dồi dào và ở nông, có thể khai thác phục vụ trong sản xuất và sinh hoạt với trữ lượng khá
2.1.5 Tài nguyên đất
Điều kiện thổ nhưỡng đất đai của quận Hà Đông chủ yếu là đất thịt nhẹ và đất bãi dọc theo sông Đáy
Nằm trong vùng đồng bằng của thành phố Hà Nội, quận Hà Đông có các loại đất chính như sau:
- Đất phù sa được bồi (Pb)
Đất phù sa được bồi (Pb) diện tích là 261 ha chiếm khoảng 10,03% tổng diện tích đất tự nhiên, phân bố các vùng ngoài đê của sông Đáy, tập trung chủ yếu tại các xã Biên Giang và Đồng Mai
Đất phù sa không được bồi (P): diện tích là 1049 ha chiếm 37,4% diện tích đất nông nghiệp (tính theo năm 2007) phân bố rộng khắp theo các dải đê chính của sông Nhuệ và sông Đáy tập trung chủ yếu ở các xã Dương Nội, Đồng Mai và phân bố rải rác tại các phường Phúc La, Vạn Phúc, Văn Mỗ và các xã Kiến Hưng, Yên Nghĩa, Phú Lãm
Trang 7- Đất phù sa gley (Pg):
Đất phù sa gley (Pg) diện tích chiếm 1472 ha chiếm 52,5% diện tích đất nông nghiệp của quận (tính theo năm 2007), phân bố ở vùng có địa hình thấp ngập nước trong thời gian dài, mực nước ngầm nông Đất phù sa glây tập trung chủ yếu tại 3 xã Phú Lương, Yên Nghĩa, Kiến Hưng và một phần phân bố tại các xã Dương Nội, Phú Lãm, các các phường Hà Cầu, Vạn Phúc
2.2 Đặc điểm Kinh tế - Xã hội
2.2.1 Tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của quận Hà Đông những năm qua thể hiện quá trình đô thị hóa cao GDP bình quân thu nhập đầu người giai đoạn 2005-2011 tăng trưởng đều Trước khi sát nhập với thành phố Hà Nội, GDP bình quân trên đầu người của thành phố Hà Đông cũ khoảng 1.450-1.670 USD/người (năm 2006-2007), theo ước tính sau khi sát nhập, GDP bình quân đầu người của quận Hà Đông tăng lên khoảng 500USD/người
2.2.2 Dân cư và lao động
Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính theo nghị định số 23/2008/NĐ-CP, Hà Đông có 4.791,40 ha diện tích tự nhiên và dân số trung bình là 221300 người Mật độ dân số trung bình trên toàn quận là 3617,7 người/km2 ; khu vực trung tâm quận lên tới 9700 người/km2
Lao động và việc làm:
Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Hà Tây cũ và phòng thống kê thành phố Hà Nội, dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 68,5% tổng dân số của quận, tức khoảng
136100 người (năm 2011).Lao động trong khu vực nông nghiệp chiếm 2,5% (năm 2011) Trình độ lao động: Số lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề chỉ chiếm khoảng 28,5% lực lượng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế
2.2.3 Cơ sở hạ tầng
Hà Đông là đầu mối của nhiều tuyến đường giao thông quan trọng, Hà Đông có vị trí chiến lược cả về chính trị, kinh tế và quân sự Cơ sở hạ tầng như giao thông thuận tiện, hệ thống thủy lợi đáp ứng đủ nguồn tiêu úng cho nông nghiệp Giáo dục đào tạo và năng lượng của quận Hà Đông nhìn chung khá phát triển, các khu nông thôn thuộc quận trước đây cũng đang tường bước đô thị hóa một cách nhanh chóng
2.2.4 Hiện trạng môi trường quận Hà Đông
Hiện nay hiện trạng môi trường nước tại quận Hà Đông là đáng quan tâm nhất, do quá trình đô thị hóa, và sự phát triển của các làng nghề khiến môi trường nước tại các lưu vực sông đặc biệt là sông Nhuệ- Đáy đang bị ô nhiễm
2.2.5 Đường lối chính sách và cơ chế
Đảng ủy, UBND quận Hà Đông đã có những chính sách ưu đãi phát triển nông nghiệp như tăng cường năng lực, giải thiểu thủ tục hành chính rườm rà, định hướng phát triển rau sạch tại Yên Nghĩa
2.2.6 Nguồn vốn
Nguồn vốn đầu tư vào nông nghiệp là rất thấp so với nguồn vốn đầu tư vào công nghiệp
2.2.7 Thị trường tiêu thụ
Thị trường tiêu thụ có tiềm năng lớn: Thị trường tiêu thụ tại thành phố Hà Nội nói chung, và thị trường tiêu thụ tại quận Hà Đông mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu thụ nông sản
2.3 Đánh giá tổng quát những lợi thể và hạn chế của quận Hà Đông
2.3.1 Lợi thế:
- Có vị trí địa lý là khu vực ngoại ô của thành phố Hà Nội, giao thông phát triển nên có điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và giao lưu kinh tế, thị trường tiêu thụ nông sản lớn
- Đất đai màu mỡ, lượng nước dồi dào cộng với hệ thống thủy lợi kiên cố tạo tiền đề
Trang 8cho phát triển nông nghiệp thuận lợi
- Điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển các cây lúa nước, các loại rau quả nhiệt đới và cây ôn đới như su hào, bắp cải, các loại rau thơm,…, một số cây hoa, cây cảnh, đặc biệt là cây đào (được trồng thích ứng tại phường Dương Nội)
- Tài nguyên sinh vật dồi dào, trong đó các giống cây trồng phong phú, đặc biệt là các loại rau ngắn ngày, cây hoa, cây cảnh thích hợp cho phát triển nông nghiệp
- Dân cư xuất phát điểm là người nông dân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp cao, tập quán sản xuất nông nghiệp lâu đời, lại có khả năng nắm bắt kinh tế thị trường tốt giúp cho quận Hà Đông dễ dàng phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa chất lượng cao
- Vốn đầu tư vào lĩnh vực phát triển nông nghiệp khá lớn, bao gồm cả vốn ngân sách nhà nước cho việc xây dựng, cải tạo, kiên cố hóa hệ thống thủy lợi và đầu tư phát triển các vùng chuyên canh tại quận Hà Đông
-Quận Hà Đông có tiềm năng văn hóa phong phú, nhiều di tích lịch sử văn hóa và cảnh quan đẹp là tiềm năng lớn để phát triển du lịch văn hóa, lễ hội, du lịch sinh thái, du lịch thắng cảnh, du lịch làng nghề… Đặc biệt là có truyền thống nông nghiệp lâu đời, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp Quận Hà Đông cần phát huy thế mạnh này, kết hợp với lợi thế về du lịch để tiến tới phát triển quận Hà Đông thành một đô thị xanh, là một điểm đến thu hút khách du lịch vì thể hiện là một đô thị đang phát triển công nghiệp mạnh mẽ nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của nền nông nghiệp lâu đời ở Việt Nam
-Quận Hà Đông có lực lượng người trong độ tuổi lao động cao (chiếm khoảng 68,5% tổng dân số quận ~ 136100 người – năm 2011, có đội ngũ cán bộ khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp có trình độ chuyên môn khá cao, đa số người lao động đã tiếp cận với nền sản xuất hàng hóa Trình độ dân trí khá, một bộ phận dân cư có trình độ sản xuất hàng hóa năng động với cơ chế thị trường là một lợi thế lớn giúp quận Hà Đông phát triển mặt hàng nông sản cạnh tranh được với thị trường trong nước cũng như quốc tế
- Có điều kiện tiếp cận với những tiến bộ khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt
là gần các trung tâm nghiên cứu, các nhà khoa học đầu ngành trong lĩnh vực nông nghiệp của
cả nước (ví dụ như trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam…)
2.3.2 Hạn chế và thách thức
-Nền kinh tế phát triển chưa toàn diện, điểm xuất phát nền kinh tế thấp, kết quả chưa tương xứng với lợi thế so sánh của quận; cơ cấu kinh tế còn có bộ phận dịch chuyển chậm Một
số hoạt động thuộc lĩnh vực phát triển nông nghiệp còn hạn chế (ví dụ như các công tác tuyên truyền, phổ biến tiến bộ khoa học chưa được phổ biến rộng rãi và thường xuyên cho nông dân)
- Tỷ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp hiện nay rất thấp
-Công nghệ sản xuất nông nghiệp chưa cao, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới thiết bị hiện đại vào sản xuất còn ít, chưa hình thành được nền kinh tế mũi nhọn, sản phẩm chiếm ưu thế tiêu thụ trên thị trường trong nước và xuất khẩu chưa nhiều
-Có nhiều ngành nghề truyền thống nổi tiếng…cùng với các hệ thống khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đặc biệt là các làng nghề được phát triển dẫn đến vấn đề ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là quá trình sản xuất nông sản sạch
-Tỷ lệ đô thị hóa đang từng bước phát triển, mật độ dân số khu vực, nội thị cao, nhưng
hệ thống kết cấu hạ tầng vẫn còn nhiều hạn chế Diện tích đất nông nghiệp đang dần bị chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang nhà ở ngày một tăng, trong khi nhu cầu cung cấp nông sản, đặc biệt là nông sản sạch của dân cư quận Hà Đông cũng như dân cư nội thị thành phố
Hà Nội lại chưa được đáp ứng đầy đủ Trong khi đó nguồn cung cấp nông sản tại các huyện khác thuộc thành phố Hà Nội, hoặc các tỉnh lân cận chưa đáp ứng được nhu cầu về số lượng cũng như chất lượng nông sản
Trang 9-Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới mở ra những thuận lợi mới để quận Hà Đông cũng như thành phố Hà Nội phát triển nhưng đồng thời cũng tạo sức ép cạnh tranh quyết liệt Nhiều doanh nghiệp, cũng như các hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chưa chủ động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sức cạnh tranh nhiều sản phẩm chưa cao
-Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội gây áp lực đối với sử dụng đất đai:
-Thực trạng cơ sở hạ tầng của thành phố còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ, chất lượng chưa cao, đặc biệt hệ thống giao thông, cấp thoát nước cho sản xuất và sinh hoạt cùng các công trình phúc lợi xã hội (y tế, giáo dục, thể dục thể thao, năng lượng…) Nhu cầu đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn của thành phố sẽ tiếp tục được gia tăng trong những năm tới Đây cũng là áp lực lớn trong việc giành quỹ đất để mở rộng, nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới các tuyến đường cũng như các công trình công cộng trên địa bàn Dự kiến quỹ đất này cũng không nhỏ
-Diện tích đất nông nghiệp của thành phố ngày càng giảm do phát triển các khu công nghiệp, đô thị hóa, giao thông…gây nên áp lực lớn trong việc sử dụng quỹ đất để sản xuất nông nghiệp, đòi hỏi phải bố trí đất nông nghiệp phù hợp và thuận tiện trong việc chuyển đổi
cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, khai thác được hết những lợi thế của quận, bố trí xây dựng những vùng sản xuất hàng hóa tập trung Tiến tới một nền nông nghiệp sạch, sản xuất hàng hóa, đáp ứng được tiêu chí: Cho dù diện tích đất sử dụng trong sản xuất nông nghiệp nhỏ, nhưng sản lượng và giá trị kinh tế cao, đáp ứng được nhu cầu sử dụng nông sản sạch của thành phố Hà Nội
Chương 3: Phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển nông nghiệp trên quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững và định hướng phát triển nông nghiệp bền vững tại quận
Hà Đông
3.1 Biến động quy mô đất nông nghiệp
Từ năm 2005 đến 2012 diện tích đất nông nghiệp tiếp tục giảm và thay đổi về cơ cấu sử dụng: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm đều qua các năm: năm 2005 có 2727,78ha chiếm 56,44% tổng diện tích đất của toàn quận Tới năm 2012 diện tích đất nông nghiệp còn 1249,33ha (chiếm 25,85%)
Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp:
Đất trồng lúa nước giảm khá nhiều qua các năm: Năm 2005 có 2077,58ha chiếm 76,16% thì tới năm 2012 chỉ còn 756,30ha chiếm 60,53% đất nông nghiệp Diện tích cây trồng lâu năm cũng giảm hơn một nửa từ 221,23ha năm 2005 xuống còn 105,25ha vào năm
2012
Việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp từ chủ yếu là đất trồng lúa nước và cây lâu năm sang chủ yếu là đất trồng rau màu và chăn nuôi gia súc gia cầm là một hướng chuyển dịch tích cực
3.2 Cơ cấu và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực: Tỷ trọng chăn nuôi tăng; tỷ trọng ngành trồng trọt giảm dần nhưng về giá trị tuyệt đối của ngành trồng trọt vẫn tiếp tục tăng Dịch vụ Nông nghiệp cũng ngày càng phát triển mạnh Lĩnh vực thủy sản của Hà Đông chiếm tỷ trọng nhỏ và biến động không nhiều qua các năm
3.3 Các vùng sản xuất chuyên canh hóa của quận
Các vùng chuyên sản xuất RAT của quận: phường Yên Nghĩa; phường Đồng Mai
Ở phía Tây Bắc tỉnh có phường Dương Nội mô hình sản xuất chuyên môn hóa điển
Trang 10hình là: HTX Ỷ La chuyên sản xuất RAT và các loại hoa Về chăn nuôi được tập trung phát triển thành vùng chuyên nuôi bò, lợn thịt, và gia cầm ở phía tây bắc thuộc phường Dương Nội và phía Đông Nam thuộc phường Phú Lương, Văn Khê
3.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp
3.5 Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp hiện tại quận Hà Đông
Thực trạng phát triển nông nghiệp của quận Hà Đông bước đầu đã phát triển theo hướng tích cực, bền vững song vẫn còn một số hạn chế như:
+ Quy hoạch quỹ đất chưa thực sự hiệu quả do việc dồn điển đổi thửa chưa đạt được kết quả cao Việc quỹ đất nông nghiệp ngày càng giảm để nhường chỗ cho đất phi nông nghiệp của quá trình đô thị hóa thì vấn đề cấp thiết cần giải quyết chính là quy hoạch quỹ đất nông nghiệp thế nào để đạt có thể hình thành các vùng chuyên môn hóa cao, tập trung, đạt hiểu quả rõ rệt về kinh tế, xã hội cũng như môi trường
+ Chăn nuôi vẫn còn phân tán trong khu dân cư nhất là chăn nuôi bò đã làm hạn chế khả năng mở rộng quy mô sản xuất, môi trường bị ô nhiễm
3.6 Định hướng, giải pháp cho phát triển nông nghiệp bền vững tại quận Hà Đông: 3.6.1 Định hướng quy mô và diện tích đất
+ Huy động và sử dụng có hiệu quả đất đai
Trên cơ sở đánh giá đất đai làm cơ sở cho việc bố trí quy hoạch sử dụng đất, sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả quỹ đất nông nghiệp Kết hợp chặt chẽ giữa khai thác với bảo vệ, bồi dưỡng và cải tạo ruộng đất Đẩy mạnh công tác dồn điền đổi thửa để hình thành các vùng chuyên canh lớn Tăng cường công tác quản lý nhà nước về ruộng đất Hướng tới phát triển quận Hà Đông trở thành một đô thị xanh với một số định hướng:
- Giảm diện tích đất nông nghiệp để cung cấp đất cho phát triển đô thị, tuy nhiên vẫn phải giữ được tỷ lệ đất nông nghiệp đủ lớn để sản xuất các sản phẩm thiết yếu, chất lượng cao Đất nông nghiệp hiện nay chiếm khoảng 25,8%, định hướng sẽ giảm xuống chỉ còn khoảng 15% diện tích toàn quận Đây là một tỷ lệ phù hợp cho sự phát triển nông nghiệp quận Hà Đông, đồng thời cũng góp phần tham gia vào đảm bảo diện tích cây xanh cho đô thị với tỷ lệ diện tích cây xanh trên người đạt khoảng 12-15m2/người
- Tăng diện tích cây trồng với các giống cây hiệu quả như rau, hoa đồng thời giảm diện tích chăn nuôi gây ô nhiễm
- Kết hợp sử dụng đất nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp với các ngành nghề khác để đạt được sự đa dạng sử dụng đất, hiệu quả kinh tế cao như phát triển du lịch sinh thái
+ Chính sách đất nông nghiệp
Đẩy nhanh tiến độ cấp quyền sử dụng đất nông nghiệp đến từng hộ nông dân theo chủ trương của Nhà nước Xác định mức độ hạn điền đối với đất nông nghiệp đặc biệt là các hộ phát triển trang trại Thực hiện rà soát lại diện tích đất lâm nghiệp để quản lý tốt hơn Ưu tiên và khuyến khích các nông hộ mở trang trại nông lâm nghiệp, thông qua các chính sách cấp, cho thuê đất sử dụng lâu dài
3.6.2 Định hướng cơ cấu nông nghiệp bền vững
- Chuyển dịch cơ cấu SXNN theo hướng:
+ Ngành chăn nuôi tiếp tục phát triển theo hướng thâm canh Trong đó ổn định và nâng cao chất lượng đàn bò; tăng số lượng và chất lượng đàn lợnhướng nạc, phát triển chăn nuôi gia cầm một cách an toàn trên cơ sở kiểm soát được dịch cúm gia cầm Phát triển sản xuất giống vật nuôi chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển chăn nuôi trong và ngoài quận Đến 2010 giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt126,5 tỉ đồng, chiếm khoảng 47,5% và năm 2020 đạt giá trị sản xuất 135,0 tỉ đồng, chiếm khoảng 38% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp thuỷ sản Tập trung thực hiện tốt kế hoạch đưa chăn nuôi ra xa khu vực dân cư cùng các giải pháp phòng chống dịch bệnh, bảo vệ môi trường… Về tiêu thụ, kiên quyết không kinh doanh giết mổ ở các khu đô thị, thị trấn và khu dân cư
+ Trồng trọt của Hà Đông vẫn phải phấn đấu để ổn định tỉ trọng Tăng diện tích RAT,