(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh(Luận văn thạc sĩ) Tính từ trong mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐÀO THỊ CHÂM
TÍNH TỪ TRONG MẮT BIẾC
CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ NHUNG
THÁI NGUYÊN - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ “Tính từ trong Mắt biếc của Nguyễn Nhật
Ánh” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Các số liệu, kết quả
trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác
Tác giả luận văn
Đào Thị Châm
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên; các thầy, cô giáo đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, quan tâm, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2021
Tác giả
Đào Thị Châm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phạm vi khảo sát 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Bố cục của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Khái quát về tính từ tiếng Việt 7
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm 7
1.1.2 Vấn đề ranh giới của tính từ tiếng Việt 7
1.1.3 Phân loại tính từ 8
1.1.4 Bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng của tính từ 8
1.2 Nguyễn Nhật Ánh và tiểu thuyết Mắt biếc 20
1.2.1 Giới thiệu về Nguyễn Nhật Ánh 20
1.2.2 Giới thiệu về tiểu thuyết Mắt biếc 22
1.3 Tiểu kết chương 1 23
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TÍNH TỪ TRONG MẮT BIẾC CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH 25
2.1 Thống kê tình hình sử dụng tính từ trong Mắt biếc 25
2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của định tố tính từ trong Mắt biếc 26
2.2.1 Khái quát về bình diện ngữ nghĩa của định tố tính từ trong Mắt biếc 26
2.2.2 Định tố tính từ có chức năng hạn định (định tố tính từ hạn định) trong Mắt biếc 27
2.2.3 Định tố tính từ có chức năng miêu tả (định tố tính từ miêu tả) trong Mắt biếc 35
Trang 62.2.4 Nhận xét về chức năng ngữ nghĩa của định tố tính từ trong Mắt biếc 40
2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của vị ngữ tính từ trong Mắt biếc 40
2.3.1 Khái quát về bình diện ngữ nghĩa của vị ngữ tính từ trong Mắt biếc 40
2.3.2 Vị ngữ tính từ biểu thị đặc điểm ở bản thân sự vật (nhóm A) 42
2.3.3 Vị ngữ tính từ biểu thị đặc điểm được xác định thông qua quan hệ hoặc tác động qua lại giữa sự vật với đối tượng khác (nhóm B) 48
2.3.4 Nhận xét về chức năng ngữ nghĩa của vị ngữ tính từ trong Mắt biếc 51
2.4 Đặc điểm ngữ nghĩa của bổ tố tính từ trong Mắt biếc 52
2.4.1 Khái quát về bình diện ngữ nghĩa của bổ tố tính từ trong Mắt biếc 52
2.4.2 Bổ tố tính từ biểu thị đặc điểm của hoạt động, trạng thái, tính chất nêu ở vị từ trung tâm (nhóm C) 54
2.4.3 Bổ tố tính từ vừa biểu thị đặc điểm của hoạt động trạng thái, tính chất vừa chỉ tính chất của chủ thể (Nhóm D) 57
2.4.4 Nhận xét về chức năng ngữ nghĩa của bổ tố tính từ trong Mắt biếc 58
2.5 Tiểu kết chương 2 59
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NGỮ DỤNG CỦA TÍNH TỪ TRONG MẮT BIẾC CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH 61
3.1 Đặc điểm ngữ dụng của định tố tính từ trong Mắt biếc 61
3.1.1 Khái quát về các chức năng ngữ dụng của định tố tính từ trong Mắt biếc 61
3.1.2 Định tố tính từ có chức năng chiếu vật (định tố tính từ chiếu vật) 62
3.1.3 Định tố tính từ có chức năng biểu đạt thông tin (định tố tính từ thông tin) 68
3.1.4 Định tố tính từ có chức năng biểu thị hàm ý (định tố tính từ hàm ý) 73
3.1.5 Định tố tính từ có chức năng trang trí (định tố tính từ trang trí) 78
3.1.6 Nhận xét về chức năng ngữ dụng của định tố tính từ trong Mắt biếc 81
3.2 Đặc điểm ngữ dụng của vị ngữ tính từ trong Mắt biếc 82
3.2.1 Khái quát về các chức năng ngữ dụng của vị ngữ tính từ trong Mắt biếc 82
3.2.2 Vị ngữ tính từ biểu đạt thông tin đánh giá (vị ngữ tính từ đánh giá) 85
3.2.3 Vị ngữ tính từ biểu đạt thông tin miêu tả (vị ngữ tính từ miêu tả) 88
3.2.4 Vị ngữ tính từ biểu đạt thông tin tình trạng (vị ngữ tính từ tình trạng) 89
3.2.5 Nhận xét về chức năng ngữ dụng của vị ngữ tính từ trong Mắt biếc 90
Trang 73.3 Đặc điểm ngữ dụng của bổ tố tính từ trong Mắt biếc 91
3.3.1 Khái quát về các chức năng ngữ dụng của bổ tố tính từ trong Mắt biếc 91
3.3.2 Bổ tố tính từ biểu thị thông tin cần yếu (bổ tố tính từ cần yếu) 92
3.3.3 Bổ tố tính từ biểu thị thông tin miêu tả (bổ tố tính từ miêu tả) 94
3.3.4 Bổ tố tính từ biểu thị hàm ý (bổ tố tính từ hàm ý) 95
3.3.5 Nhận xét về chức năng ngữ dụng của bổ tố tính từ trong Mắt biếc 96
3.5 Tiểu kết chương 3 97
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VAN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHẦN PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê tình hình sử dụng tính từ trong Mắt biếc 25
Bảng 2.2: Thống kê tình hình sử dụng các loại định tố tính từ ngữ nghĩa
từ ngữ nghĩa trong Mắt biếc 41
Bảng 2.6: Thống kê tình hình sử dụng các loại bổ tố tính từ ngữ nghĩa
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tính từ (TT) là một trong ba từ loại cơ bản của thực từ Từ loại này dùng để chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng TT có một diện hoạt động rộng đặc biệt, chúng không chỉ gọi tên đặc điểm, tính chất của thực thể mà còn gọi tên đặc điểm tính chất của hoạt động, trạng thái và của chính tính chất nữa
1.2 Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh là một trong những tên tuổi nổi bật trong nền văn học đương đại Việt Nam Ông được độc giả ưu ái gọi tên: “Người dẫn lối cho những năm tháng tuổi thơ” Có thể nói, trong số những cây bút chuyên viết cho trẻ
em và tuổi mới lớn ở Việt Nam, Nguyễn Nhật Ánh là tên tuổi nổi bật nhất Mỗi cuốn sách của ông khi ra đời đều tạo nên “cơn sốt” dư luận, trở thành hiện tượng nổi bật với mọi thế hệ độc giả Ông sáng tác đều tay và ở thời điểm nào cũng có những tác phẩm kịp thời để phục vụ nhu cầu bạn đọc Sau hơn ba mươi năm cầm bút, nhà văn
đã cho ra đời hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài, kí, tạp văn Ở mỗi thể loại, ông đều thể hiện tài năng và tâm huyết của một cây bút luôn tìm tòi đổi mới, mang một phong cách riêng vừa độc đáo vừa bình dị Sức lôi cuốn trong các sáng tác của ông thể hiện ở những phát hiện nhạy bén, tinh tế cùng với giọng văn nhẹ nhàng, gần gũi và hóm hỉnh
1.3 Trong các sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh, Mắt biếc (MB) là một trong
những tác phẩm nổi tiếng nhất nằm trong loạt truyện viết về tình yêu thanh thiếu niên Ngay khi mới ra mắt, tác phẩm đã được đông đảo khán giả đón nhận và trở thành cuốn sách bán chạy nhất của ông Không chỉ được biết đến trong nước, MB còn được nhiều độc giả nước ngoài đánh giá cao Với ngôn từ giản dị, gần gũi, giàu chất thơ,
MB đã thể hiện một câu chuyện tình buồn với tất cả sự trong sáng, đắm say và da diết của tuổi học trò Tác phẩm ghi đậm dấu ấn phong cách sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh, từ cách chọn đề tài, nội dung đến giọng điệu, ngôn ngữ Đặc biệt, khi nghiên cứu MB, chúng tôi nhận thấy ngôn ngữ trong tác phẩm mang một nét độc đáo riêng được tạo nên bởi hệ thống ngôn từ độc đáo Tác giả quan tâm nhiều tới việc miêu tả tính chất, đặc điểm của sự vật, hoạt động, trạng thái cũng như khung cảnh nghệ thuật Phương tiện để tác giả thực hiện điều đó chính là các TT Mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Nhật Ánh cùng các sáng tác của ông, song, chưa có
Trang 11công trình nào đi sâu nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của MB, có chăng chỉ là những bài viết mang tính giới thiệu, khái quát Bởi vậy, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu về
TT trong MB làm vấn đề nghiên cứu của mình
1.4 Chương trình văn học hiện đại tại nhà trường các cấp, các giáo trình/sách giáo khoa chưa hoặc không dành sự quan tâm thích đáng cho mảng sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh Vẫn còn thiếu một nền tảng lý thuyết cần thiết, một thái độ đúng mực, một sự sắp đặt nội dung khoa học dành cho những sáng tác của một tác giả có nhiều tác phẩm viết cho lứa tuổi thanh thiếu niên - lứa tuổi mà thế hệ các em học sinh, sinh viên đang từng ngày “dõi theo” và “thấy mình” trong đó Trước những yêu cầu và đòi hỏi mới trong dạy và học Ngữ văn tại nhà trường các cấp, nghiên cứu tìm hiểu về sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh, chúng tôi mong phần nào giúp các thầy cô giáo và các bạn học sinh, sinh viên trong việc giảng dạy, học tập tác phẩm của ông
Từ những lí do trên đây cùng với niềm say mê và lòng kính trọng, khâm phục
tài năng Nguyễn Nhật Ánh, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tính từ trong Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh” làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn của mình
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về tính từ và tính từ trong sử dụng
Trong những công trình nghiên cứu lí thuyết chung về TT, chúng tôi nhận thấy:
TT đã được các nhà ngữ pháp học nghiên cứu ở hai góc độ: nghiên cứu khái quát và
nghiên cứu chuyên sâu vào một đơn vị hay một phương diện nào đó
Những nghiên cứu khái quát về TT có thể tìm thấy trong hầu hết các giáo trình, chuyên luận về ngữ pháp nói chung và từ pháp nói riêng Chẳng hạn:
- Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại) của Đinh Văn Đức [16]
- Ngữ pháp tiếng Việt của Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung [2]
- Từ loại tiếng Việt hiện đại của Lê Biên [3]
- Ngữ pháp tiếng Việt của Diệp Quang Ban - Hoàng Dân [1]
- Giáo trình ngôn ngữ học của Nguyễn Thiện Giáp [19]
- Ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Thị Nhung [29]
Bên cạnh đó là những nghiên cứu chuyên sâu về một đơn vị hay một phương diện nào đó của TT Chẳng hạn, các công trình nghiên cứu về phương diện ngữ nghĩa, khả năng kết hợp của TT, như:
Trang 12- Hai công trình Cơ sở trái nghĩa của một số nhóm tính từ tiếng Việt [35, tr
43-47] và Tính từ tiếng Việt hiện đại từ cách tiếp cận từ vựng - ngữ nghĩa - ngữ dụng
của Chu Bích Thu [36] đã nghiên cứu khá chi tiết và đầy đủ về các nhóm tính từ trong Tiếng Việt cũng như đặc điểm chung của tính từ trên ba phương diện từ vựng, ngữ nghĩa và ngữ dụng
- Công trình Nghĩa của tính từ tiếng Việt của Hoàng Văn Hành [22, tr 15-16]
đã đi sâu vào nghiên cứu phương diện ngữ nghĩa của tính từ Tiếng Việt
Những công trình nghiên cứu về một số nhóm TT hay những vấn đề khác như
Ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của nhóm tính từ chỉ không gian (trên ngữ liệu Anh - Việt) của Nguyễn Thị Dự [12] và bài viết Phân biệt tính từ và động từ tiếng Việt của
Nguyễn Tuấn Đăng [13, tr.4-10] đã góp phần là phong phú hơn những nghiên cứu chung về tính từ tiếng Việt
Đặc biệt, công trình Định tố tính từ trong tiếng Việt của tác giả Nguyễn Thị
Nhung [28] đã nghiên cứu rất hệ thống về các bình diện cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng của TT trong cương vị định tố (thành tố phụ cho danh từ)
Các công trình trên, nhất là công trình của tác giả Nguyễn Thị Nhung tuy không liên quan trực tiếp tới đề tài luận văn, nhưng là những tri thức cơ bản và chuyên sâu giúp luận văn có được nền tảng lí luận, có định hướng để triển khai nghiên cứu đề tài Bên cạnh đó, có những công trình tìm hiểu về một nhóm TT nào đó trong sử dụng, như:
- Về tính từ chỉ màu sắc trong thơ Nguyễn Khuyến của Biện Minh Điền [14, tr
Hương [25]
Trang 13Như vậy, chưa có công trình nào đề cập tương đối toàn diện đến TT trong sử dụng, càng chưa có công trình nào tìm hiểu về TT trong MB của Nguyễn Nhật Ánh Nhưng đây chính là những tài liệu có giá trị để chúng tôi có thể tham khảo khi triển khai nghiên cứu đề tài luận văn
2.1 Những công trình nghiên cứu về Nguyễn Nhật Ánh
Các sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh dù viết cho trẻ em hay tuổi vị thành niên thì ngay từ khi mới ra đời cũng luôn tạo được dư luận và gây được sự chú ý của độc giả cũng như giới phê bình, nghiên cứu văn học Đã có nhiều bài báo, công trình nghiên cứu về các sáng tác của ông Nhìn chung, các nhà nghiên cứu nhận thấy ở nhà văn cách tiếp cận hiện thực với một cái nhìn sắc sảo, cách phản ánh hiện thực đời sống độc đáo, đặc biệt là sự thấu hiểu, đồng cảm với tâm hồn trẻ thơ Mọi cung bậc tình cảm, cảm xúc của các lứa tuổi đều được nhà văn diễn tả một cách sâu sắc và tinh tế cùng ngôn ngữ mộc mạc, tự nhiên Có thể kể đến một số công trình, bài viết đáng chú ý sau:
- Nguyễn Nhật Ánh - Hoàng tử bé trong thế giới tuổi thơ (2012) của Lê Minh
Quốc Đây là công trình nghiên cứu khá đầy đủ về Nguyễn Nhật Ánh Cuốn sách trình bày thông tin về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Nhật Ánh và nhiều bài viết dưới các góc nhìn khác nhau của đồng nghiệp, báo chí trong và ngoài nước về tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, đặc biệt là những sáng tác cho tuổi mới lớn
- Nguyễn Nhật Ánh - Hiệp sĩ của tuổi thơ (2015) của Văn Giá trích dẫn nhiều
bài viết của các tác giả Lê Huy Bắc, Lã Thị Bắc Lý… nhận xét về truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh
Các sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh cũng là đề tài của nhiều công trình nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu Những luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về phương diện nội dung và nghệ thuật trong tác
phẩm của Nguyễn Nhật Ánh rất đáng quan tâm như: Thế giới trẻ thơ qua cách nhìn của Nguyễn Nhật Ánh trong bộ chuyện Kính vạn hoa (2005) của Phạm Thị Bền, Đặc điểm truyện về loài vật của Nguyễn Nhật Ánh (2017) của Vũ Thị Hương, Đặc sắc truyện dài Nguyễn Nhật Ánh (2017) của Nguyễn Thái Sơn, Nghệ thuật tự sự trong truyện của Nguyễn Nhật Ánh (2015) của Nguyễn Thị Thương, … Ở các công trình
này, các tác giả đã phân tích, đánh giá về đề tài, hệ thống nhân vật hay cốt truyện, ngôn ngữ nghệ thuật Tuy vậy, chưa có công trình nào đánh giá cụ thể, sâu sắc về các
Trang 14từ loại (như TT, động từ, danh từ) được sử dụng trong sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh Các tác giả mới chỉ “chạm đến” vấn đề này ở mức độ khái quát chung
Nhìn chung từ những ý kiến đánh giá trên, có thể nhận thấy: Vấn đề nghiên cứu
về Nguyễn Nhật Ánh và các sáng tác của ông đã được quan tâm ở nhiều phương diện Xong chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm của một từ loại trong tiểu thuyết MB Kế thừa thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu cụ thể về việc sử dụng TT của Nguyễn Nhật Ánh
thể hiện trong tiểu thuyết MB
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ đặc điểm của TT trong tác MB của Nguyễn Nhật Ánh trên bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng và các phương tiện ngữ pháp biểu thị những giá trị ngữ nghĩa và ngữ dụng ấy; qua đó, có thêm tri thức về TT và TT trong sử dụng Đồng thời cung cấp nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu và dạy - học về ngữ pháp tiếng
Việt, về hiện tượng văn học Nguyễn Nhật Ánh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập cơ sở lí luận của đề tài
- Miêu tả, làm rõ đặc điểm về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của TT
trong MB của Nguyễn Nhật Ánh
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phạm vi khảo sát
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu TT trong MB của Nguyễn Nhật Ánh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng của TT trong
MB của Nguyễn Nhật Ánh (khi nó đảm nhiệm các chức vụ định tố, vị ngữ, bổ tố)
4.3 Phạm vi khảo sát
Trong khuôn khổ, điều kiện của một luận văn thạc sĩ, đề tài giới hạn phạm vi khảo sát là chương 1 và chương 2 của tiểu thuyết MB (bản in của Nhà xuất bản Trẻ, năm 2019), tổng số 199 trang
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tả để làm rõ đặc điểm của TT trong MB của Nguyễn Nhật Ánh
Trang 15Hai thủ pháp đầu tiên được vận dụng là thống kê, phân loại để tìm ngữ liệu và xử lí ngữ liệu cho việc xác định đặc trưng về ngữ pháp của TT trong MB Các thủ pháp tiếp theo là phân tích ngữ nghĩa, ngữ cảnh để làm rõ những đặc trưng về ngữ nghĩa, ngữ dụng của đối tượng nghiên cứu
Ngoài ra, các thủ pháp thử nghiệm như lược bỏ, đối chiếu cũng được sử dụng để hạn chế sự cảm tính, tăng hiệu quả cho các phương pháp trên
6 Đóng góp của luận văn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Đặc điểm ngữ nghĩa của tính từ trong Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh Chương 3: Đặc điểm ngữ dụng của tính từ trong Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Khái quát về tính từ tiếng Việt
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm
TT là từ loại có số lượng lớn và vị trí quan trọng trong các thực từ tiếng Việt, sau danh từ và động từ
- Về khái niệm: Có thể hiểu khái niệm TT theo nghĩa khái quát nhất như cách
hiểu trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt: “TT là từ có nghĩa khái quát về tính chất” [29,
tr.70]
- Về đặc điểm:
+ Xét về mặt ý nghĩa, TT tiếng Việt chỉ tính chất, đặc điểm, màu sắc… của sự vật hiện tượng
+ Xét về khả năng kết hợp, phần lớn TT kết hợp được về phía trước với các phó
từ chỉ mức độ như rất, cực kỳ, quá, hơi… hoặc về phía sau với các từ lắm, quá, cực kì… Bên cạnh đó, TT tiếng Việt có khả năng kết hợp với hầu hết các phó từ của động
từ Đặc điểm này khẳng định khả năng làm thành tố chính của TT trong đoản ngữ + Xét về vai trò ngữ pháp: TT có thể đảm nhiệm mọi chức vụ ngữ pháp trong câu, trong đó, chức vụ ngữ pháp chính của TT là chức vụ làm thành tố phụ trong đoản ngữ nói chung, làm định tố nói riêng
1.1.2 Vấn đề ranh giới của tính từ tiếng Việt
Khi tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu về TT trong tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy vấn đề ranh giới của từ loại này trong hệ thống từ loại tiếng Việt được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra nhận định tương đối thống nhất Cụ thể như sau:
- TT gần với động từ về khả năng kết hợp và vai trò ngữ pháp trong câu:
+ Về khả năng kết hợp: kết hợp với nhóm từ chỉ thời thể, nhưng trong khi động
từ rất ít khi kết hợp được với nhóm các phó từ chỉ mức độ (rất, cực kỳ, quá, hơi…) thì
nhóm phó từ này lại trở thành thành tố chuyên kết hợp một cách phổ biến với TT
Tuy nhiên, TT hạn chế kết hợp với nhóm phó từ chỉ mệnh lệnh (hãy, đừng, chớ)
+ Về vai trò ngữ pháp, cả động từ và TT đều đảm nhiệm chức vụ vị ngữ Tuy
nhiên, theo tác giả Nguyễn Thị Nhung trong cuốn Định tố tính từ trong tiếng Việt:
Trang 17“nhiều công trình Việt ngữ và giáo trình đều thừa nhận vị ngữ là chức vụ ngữ pháp chủ yếu của động từ thì lại không ai khẳng định điều đó ở TT, chức vụ ngữ pháp chính của TT, như chúng tôi đã khẳng định, là chức vụ định tố” [28, tr.30] Chúng tôi
đồng ý với nhận định trên của tác giả khi xét về vai trò ngữ pháp của TT
- Dựa vào cấu tạo, TT chia thành 3 loại:
+ Từ đơn: là TT được cấu tạo từ một hình vị Ví dụ: to, lớn, đen, trắng …
+ Từ ghép: là TT được cấu tạo từ hai hình vị trở lên Ví dụ: tuyệt vời, sáng tỏ,
vô liêm sỉ…
+ Từ láy: là TT được cấu tạo từ hai hình vị trở lên ghép với nhau theo phương
thức láy Những TT này phần lớn là những từ tượng thanh, tượng hình Ví dụ: lung linh, xanh xanh, xa xa…
1.1.4 Bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng của tính từ
1.1.4.1 Bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng của tính từ trong chức vụ định tố
Theo tác giả Nguyễn Thị Nhung, trong danh ngữ, khi ở chức vụ định tố, TT có thể biểu thị các chức năng khác nhau ở bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng
a Bình diện ngữ nghĩa
Tìm hiểu bình diện ngữ nghĩa của TT là ta xét chức năng của TT trong hoạt động hành chức ở danh ngữ, coi danh ngữ như một đơn vị ngôn ngữ được trừu tượng hoá khỏi ngữ cảnh, tức chưa đặt TT trong giao tiếp hay trong quan hệ với ngữ cảnh và mục đích giao tiếp
Trên bình diện ngữ nghĩa, định tố tính từ (ĐTTT) tiếng Việt có hai chức năng: chức năng hạn định và chức năng miêu tả
Trang 18a 1 Định tố tính từ có chức năng hạn định (định tố tính từ hạn định)
* Khái niệm định tố tính từ hạn định
ĐTTT hạn định (ĐTTTHĐ) là loại ĐTTT biểu thị những đặc điểm có tác dụng làm phong phú thêm nội hàm và hạn chế ngoại diên của khái niệm nêu ở danh từ trung tâm (DTTrT) [28, tr.85]
Ví dụ, các ĐTTT trong câu sau:
(1) Nó mặc mỗi một chiếc quần cộc
(2) Đó là một thứ thịt hảo hạng
Nhờ có cộc, hảo hạng mà sự vật nêu ở quần, thứ thịt có thêm thuộc tính và số đối tượng có các thuộc tính ấy giảm đi Chẳng hạn, quần cộc chỉ khái niệm có ngoại
diên là những chiếc quần ông ngắn
ĐTTTHĐ là loại ĐTTT có thể trả lời các câu hỏi: “(Loại/ thứ/ hạng)/ -/nào?”,
“-/(thuộc loại/hạng)/ nào?” và “- /nào?”
Theo khảo sát của Nguyễn Thị Nhung, có 2852 ĐTTTHĐ trên 3000 ĐTTT, chiếm 95,1% Điều này cho thấy, chức năng hạn định là chức năng quan trọng của
+ ĐTTTHĐ không kết hợp với danh từ biểu thị sự vật có tính xác định
+ Nghĩa của ĐTTTHĐ phải có tác dụng thu hẹp ngoại diên của khái niệm nêu ở DTTrT nên có những đặc thù sau: Đặc điểm mà ĐTTTHĐ biểu thị phải là đặc điểm tồn tại trong thế đối lập với đặc điểm của loại hoặc cá thể sự vật khác cùng chủng loại đối tượng mà DTTrT phản ánh ĐTTTHĐ không có những nghĩa “phi hạn định” như nghĩa biểu thị đặc điểm về lượng, nghĩa biểu thị đặc điểm mà mọi loại, mọi cá thể trong chủng loại sự vật nêu ở DTTrT đều có
* Các nhóm định tố tính từ hạn định phân theo đặc điểm của phương tiện hạn định
- ĐTTTHĐ theo đặc điểm ở bản thân sự vật
Trang 19ĐTTTHĐ theo đặc điểm ở bản thân sự vật gồm các tiểu nhóm sau:
1- ĐTTTHĐ theo đặc điểm phương diện chiều kích: cau lùn; tấm vải mỏng;… 2- ĐTTTHĐ theo đặc điểm ở phương diện tính chất vật lý: nhựa cứng; nhựa dẻo; vật nặng; hàng (gọn) nhẹ;…
3- ĐTTTHĐ theo đặc điểm ở phương diện phẩm chất, tính cách: những người đứng đắn; đứa độc miệng; mấy kẻ nhát gan; người thông minh;…
4- ĐTTTHĐ theo đặc điểm của sự vật ở phương diện tuổi tác, thể chất: người già; đồng nghiệp trẻ; người yếu; người khoẻ;…
5- ĐTTTHĐ theo đặc điểm của sự vật ở phương diện giá trị chung (trên cơ sở
so sánh với yêu cầu, quyền lợi, … của con người về một mặt nào đó): hàng tốt… 6- ĐTTTHĐ theo đặc điểm ở phương diện tầm vóc, mức độ: việc lớn; cán bộ cỡ; những công trình vĩ đại; những cuộc xô xát xoàng; …
7- ĐTTTHĐ theo đặc điểm ở phương diện hoạt động chức năng, đặc điểm đời
sống, sự tồn tại của sự vật: diễn viên chuyên nghiệp; người may mắn; …
8- ĐTTTHĐ theo đặc điểm ở phương diện giới tính: học sinh nữ; gà trống;… 9- ĐTTTHĐ theo đặc điểm ở phương diện số lượng: con độc; con đàn; dân tộc ít người; vốn từ ngữ phong phú;…
10- ĐTTTHĐ theo đặc điểm ở phương diện trạng thái (trạng thái thiên nhiên,
trạng thái sinh lý): thôn xóm bình yên; con phố ồn ào; quả chín;…
(Lưu ý, người khoẻ ở hai nhóm trên có nghĩa khác nhau Ở nhóm 4, người khoẻ
là người có sức trên mức bình thường Ở nhóm 10, người khoẻ là người có cơ thể ở
trạng thái không ốm đau, bệnh tật.)
- ĐTTTHĐ theo đặc điểm được xác định qua quan hệ hoặc tác động qua lại giữa
sự vật với đối tượng khác
+ ĐTTTHĐ theo đặc điểm được xác định qua quan hệ giữa sự vật với đối tượng khác Nhóm này gồm:
1- ĐTTTHĐ theo đặc điểm được xác định qua quan hệ sở hữu, sở thuộc: người
giàu, kẻ khó; gỗ tư; xe công cộng;…
2- ĐTTTHĐ theo đặc điểm xác định qua quan hệ hôn phối: gà tơ; trai tân;… 3- ĐTTTHĐ theo đặc điểm xác định qua quan hệ nguồn gốc: dứa dại; hàng quốc doanh; nhân tố chủ quan; vệ tinh nhân tạo;…
Trang 204- ĐTTTHĐ theo đặc điểm được xác định qua quan hệ thân sơ: chỗ quen biết; người thân; người yêu; chuyện lạ; con đường quen thuộc;…
5- ĐTTTHĐ theo đặc điểm được xác định qua quan hệ so sánh hơn/ kém (so
sánh cùng loại): cổng chính; cổng phụ; những con số chủ yếu;…
6- ĐTTTHĐ theo đặc điểm được xác định qua quan hệ thứ bậc: anh trưởng; anh thứ; vợ cả; vợ thứ;…
7- ĐTTTHĐ theo đặc điểm được xác định qua quan hệ thứ tự: tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ quốc ngữ; kì thi cuối cùng;…
8- ĐTTTHĐ theo đặc điểm được xác định qua quan hệ giá trị: hàng đắt; đồ rẻ tiền; cái quần bò đắt tiền; tài sản vô giá; …
9- ĐTTTHĐ theo được xác định qua quan hệ với đặc điểm thời gian, không
gian mà sự vật xuất hiện, tồn tại: nhà cổ; bạn cũ; rừng thứ sinh; …
10- ĐTTTHĐ theo đặc điểm được xác định qua qua quan hệ tổng thể/ bộ phận:
màu tím; vị ngọt; vùng gần; thời xưa; số đông; lời lẽ ba hoa;…
+ ĐTTTHĐ theo đặc điểm được xác định qua tác động giữa sự vật đó với đối tượng khác Nhóm này gồm:
1- ĐTTTHĐ theo đặc điểm được xác định qua kết quả của tác động từ sự vật tới cảm giác, tình cảm, nhận thức, thể chất, sức khỏe, lợi ích, vẻ đẹp, … của đối tượng
khác: áo ấm; tin vui; đứa con cưng; những đồng chí thân yêu; dòng sông thiêng; đá quý; toán khó; sâu bọ vô hại; Sunsilk đen óng ả;…
2- ĐTTTHĐ theo đặc điểm được xác định qua tính chất của tác động từ đối
tượng khác tới sự vật: công cụ chuyên dùng; lốp xơ cua; tin mật; việc gấp;…
a 2 Định tố tính từ có chức năng miêu tả (định tố tính từ miêu tả)
* Khái niệm và cách nhận diện định tố tính từ miêu tả
“ĐTTT miêu tả (ĐTTTMT) là loại ĐTTT biểu thị những đặc điểm không có tác dụng thu hẹp ngoại diên của khái niệm nêu ở DTTrT” [28, tr.106]
Có thể nhận diện ĐTTTMT trong danh ngữ nhờ các căn cứ cơ bản sau:
- Nhờ sự qui định của DTTrT và các định tố khác trước ĐTTT:
- DTTrT là DT riêng chỉ cá thể sự vật: Ví dụ: núi Ba Thê vòi vọi xanh lam trong
câu dưới đây:
Trang 21(3) Bên kia là dãy núi Ba Thê vòi vọi xanh lam
- DTTrT là từ chỉ sự vật duy nhất trong vũ trụ và thế giới loài người (dùng theo
nghĩa đen) như: mặt trăng, trái đất, chủ nghĩa tự nhiên… Ví dụ: (nhìn) trời cao và xanh; mặt trăng vành vạnh tươi vàng; biển cả mênh mông
Các ĐTTT chỉ đặc điểm về lượng, ĐTTT biểu thị đặc điểm chung của chủng
loại/ tiểu chủng loại sự vật được nêu ở DTTrT thuộc loại định tố này Chẳng hạn quá nhiều, ít trong:
(4) Nó làm quá nhiều việc
(5) Tôi có ít quà cho cháu
ĐTTTMT là loại ĐTTT có thể trả lời các câu hỏi: “- / thế nào?”, “-/ như thế nào?”, “Bao nhiêu/ -?” và “(Chủng loại/ loại)/- / thế nào?”
Theo thống kê của Nguyễn Thị Nhung, ĐTTTMT chiếm tỷ lệ 4,9% ĐTTT
* Đặc điểm của định tố tính từ miêu tả
- ĐTTTMT có thể đứng liền sau DTTrT
- Rất hiếm DN có nhiều ĐTTTMT
- ĐTTTMT có khả năng kết hợp với các DT chỉ sự vật có tính xác định như các
DT riêng, DT chỉ sự vật có tính duy nhất
- Về ngữ nghĩa: Những đặc điểm được lựa chọn để biểu thị bằng ĐTTTMT
không phải là đặc điểm có tác dụng hạn định, nó không được đặt trong thế đối lập với đặc điểm của sự vật/ loại sự vật khác cùng chủng loại mà DTTrT biểu thị
- ĐTTTMT có thể biểu thị đặc điểm về lượng và đặc điểm có ở mọi loại, mọi cá thể sự vật trong chủng loại/loại sự vật nêu ở DTTrT (và ĐT khác trước ĐTTT)
* Các nhóm định tố tính từ miêu tả phân theo đặc điểm của phương tiện miêu tả
- ĐTTTMT theo đặc điểm ở bản thân sự vật, gồm các tiểu nhóm:
1- ĐTTTMT theo đặc điểm ở phương diện chiều kích: trời cao; đất dầy; biển cả mênh mông; con ong bé (cũng như) con voi to;…
Trang 222- ĐTTTMT theo đặc điểm ở phương diện tính chất vật lý: tiếng mõ trầm; tiếng chuông thanh; một dòng suối lạnh ngắt; con thỏ nhanh nhẹn; trời xanh; …
3- ĐTTTMT theo đặc điểm ở phương diện phẩm chất, tính cách, năng lực: miền
Bắc anh hùng; thầy đồ nho nhã; con hổ hung dữ;…
4- ĐTTTMT theo đặc điểm ở phương diện thể chất: em Nhà Trò yếu ớt; ông anh Hai ốm yếu;…
5- ĐTTTMT theo đặc điểm ở phương diện giá trị chung (trên cơ sở so sánh với
yêu cầu, quyền lợi… của con người ở một mặt nào đó): tiếng bom rơi phi nghĩa; thói trên dưới hủ lậu;…
6- ĐTTTMT theo đặc điểm ở phương diện tầm vóc, mức độ: cách mạng tháng
Tám vĩ đại; các Kim Tự Tháp hùng vĩ; đất trời khoáng đạt;…
7- ĐTTTMT theo đặc điểm ở phương diện số lượng: (Nó làm) quá nhiều việc; đông đảo bạn đọc; bạn bè và công chúng rộng rãi; chút đỉnh quà;…
- ĐTTTMT theo đặc điểm được xác định qua tác động giữa sự vật với đối tượng khác
Đó là các ĐTTTMT theo đặc điểm được xác định qua kết quả của tác động từ
sự vật tới cảm giác, tình cảm… của đối tượng khác như ĐTTT trong: chiếc chăn bông ấm áp; gối êm đệm ấm; quê mẹ thân thương; mùi thơm hấp dẫn;…
b Bình diện ngữ dụng
Xét bình diện ngữ dụng của TT trong các đơn vị giao tiếp, trong việc thực hiện nhiệm vụ giao tiếp chính là việc đặt TT trong quan hệ với câu, ngôn bản, thông qua một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể Khác với bình diện ngữ nghĩa, bình diện ngữ dụng quy định chức năng của TT mang tính chất lâm thời, được hiện thực hoá trong trường hợp
sử dụng cụ thể
Đặt TT trong hoạt động hành chức, xét những chức năng giao tiếp mà TT có thể đảm nhiệm trong ngữ cảnh cụ thể, TT có thể được sử dụng để chiếu vật, biểu đạt thông tin, biểu thị hàm ý và trang trí
b 1 Định tố tính từ có chức năng chiếu vật (định tố tính từ chiếu vật)
ĐTTT chiếu vật là “loại ĐTTT thực hiện hoặc góp phần thực hiện hành vi chiếu vật trong một ngữ cảnh cụ thể” [28, tr.122]
Trong phát ngôn, ĐTTT chiếu vật là thành phần không thể lược bỏ Người nói dựa vào hiểu biết của mình về sự vật trong quan hệ với ngữ cảnh và hiểu biết về
Trang 23người nghe mà xác định việc đưa yếu tố chiếu vật (trong đó có ĐTTT chiếu vật) vào phát ngôn Nếu thiếu ĐTTT chiếu vật, chắc chắn thông tin từ phát ngôn sẽ trở nên không rõ ràng Do vậy, ngoài chức năng chính là chiếu vật, ĐTTT chiếu vật còn chứa thông tin cần thiết về sự vật Ví dụ: nếu trong bối cảnh trên bàn có hai cái hộp, người nói muốn đề nghị lấy giúp mình cái hộp to hơn:
(6) Hãy lấy giúp tôi cái hộp to ở trên bàn
Trong câu trên, to là ĐTTT chiếu vật Nếu thiếu đi ĐTTT to, người nghe sẽ
không xác định được chiếc hộp cần phải lấy Họ có thể hỏi lại: “Lấy cái hộp nào?” Theo thống kê trong cuốn Định tố tính từ trong tiếng Việt, trong số 3000 ngữ
liệu thì số danh ngữ có ĐTTT chiếu vật là 1993, chiếm tỉ lệ 66,4%
b 2 Định tố tính từ có chức năng thông tin (định tố tính từ thông tin)
“ĐTTT thông tin là loại ĐTTT được sử dụng để thực hiện hành vi thông báo”
[28, tr.140]
Trong một danh ngữ, ĐTTT thông tin giúp người nghe (đọc) có thêm một số hiểu biết liên quan đến sự vật được biểu thị bằng DTTrT Những ĐTTT thông tin không được người nói (viết) sử dụng vào mục đích chiếu vật Ví dụ trong câu sau:
(7) Tôi đau buồn vì phải dời xa ngôi làng Đo Đo yêu dấu của mình
Người nói sử dụng ĐTTT yêu dấu không phải để chiếu vật đối tượng được nói
tới ở DTTrT (bởi danh từ riêng Đo Đo đã làm nhiệm vụ đó), mục đích sử dụng của
người nói ở đây là muốn gửi gắm vào câu nói thông tin về tình cảm yêu quý của mình đối với làng Đo Đo
Ngoài ra, ĐTTT có thể vừa có chức năng chiếu vật vừa có chức năng biểu đạt thông tin Ví dụ trong câu nói:
(8) Bà tôi thường nằm trên cái sập gỗ lim đen bóng (tr.6)
ĐTTT đen bóng không chỉ để chiếu vật mà còn có chức năng biểu đạt thông tin
đặc điểm của đối tượng được chiếu vật
Theo thống kê trong cuốn Định tố tính từ trong tiếng Việt, ĐTTT thông tin, chiếm tỉ lệ 63,6%, trong số ngữ liệu được khảo sát
Trang 24Các ĐTTT hàm ý không có chức năng chiếu vật hay biểu đạt thông tin, nếu đặt trong văn cảnh hoặc bối cảnh nhất định, chúng nhằm biểu đạt một thông tin ngầm hay một ý đồ giao tiếp nào đó của người nói (viết) mà không bộc lộ trực tiếp trên câu chữ Người nghe (đọc) chỉ nắm được chúng sau một quá trình suy ý dựa vào ý nghĩa của ĐTTT, mối quan hệ giữa ĐTTT đó với bối cảnh ngoài ngôn ngữ hay văn cảnh Ví dụ:
(9) Bạn Hoa xinh đẹp cũng tới tận đây cơ à?
Đặt vào văn cảnh, người nói không thích nhân vật tên Hoa (được nhắc đến trong
câu) nên nói theo ý mỉa mai ĐTTT xinh đẹp mặc dù có chứa thông tin nhưng mục
đích của người nói chủ yếu nhằm tỏ thái độ mỉa mai Còn trong:
(10) Tôi sợ phải ngồi vào cái chỗ kinh hoàng kia (tr.29)
Kinh hoàng là ĐTTT hàm ý giải thích cho nỗi sợ của nhân vật tôi
Theo thống kê trong cuốn Định tố tính từ trong tiếng Việt, có 121 ĐTTT hàm ý, chiếm tỉ lệ 4,0%, trong số 3000 ngữ liệu được khảo sát
b 4. Định tố tính từ có chức năng trang trí (định tố tính từ trang trí)
ĐTTT trang trí là “loại ĐTTT được sử dụng để “làm đẹp” thêm cho câu văn, câu thơ và định hướng tình thái cho người đọc” [28, tr.177]
Những ĐTTT trang trí không có chức năng chiếu vật, biểu thị thông tin, hàm ý
mà chỉ có tác dụng tạo nhạc điệu hoặc hình tượng nghệ thuật trong thơ văn Ví dụ:
Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh
(Trần Đăng Khoa)
ĐTTT xanh ở hai câu thơ trên không dùng để chiếu vật hay biểu đạt thông tin,
cách sử dụng cũng không có gì đặc biệt để biểu thị hàm ý Mục đích của việc sử dụng
từ xanh ở đây là góp phần miêu tả một bức tranh thiên nhiên với màu sắc tươi tắn Ngoài ra, từ xanh còn được sử dụng để tạo nhịp thơ trong câu thơ lục bát Ta gọi đó
là ĐTTT trang trí Nếu ta có thể thay thế hoặc bỏ ĐTTT xanh thì ý nghĩa cơ bản của
câu không thay đổi, câu vẫn được chấp nhận Tuy nhiên, câu thơ sẽ mất đi tính nhịp
điệu, vẻ đẹp ban đầu như ĐTTT xanh đem lại
Theo thống kê trong cuốn Định tố tính từ trong tiếng Việt, ĐTTT trang trí chiếm
2,5 % ĐTTT được khảo sát
Trang 251.1.4.2 Bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng của tính từ trong chức vụ vị ngữ
Trên cơ sở các chức năng của TT trong chức vụ định tố, ở công trình này quan niệm về chức năng của TT trong chức vụ vị ngữ (VNTT) như sau:
a Bình diện ngữ nghĩa
Theo chúng tôi, ở bình diện này TT không có chức năng hạn định, mà chỉ có chức năng gần với chức năng miêu tả Đó là chức năng biểu thị các đặc trưng của đối tượng được nói tới ở chủ ngữ do TT biểu thị Cụ thể như sau:
a 1 Vị ngữ tính từ miêu tả theo đặc điểm ở bản thân sự vật
Nhóm VNTT này biểu thị nhiều đặc điểm khác nhau có ở bản thân sự vật:
Chiều kích (Tấm vải này mỏng lắm); tính chất vật lí (Gió lạnh lắm); phẩm chất, tính cách (Cô ấy thông minh lắm); tuổi tác, thể chất (Mẹ tôi già rồi); giá trị chung (so với yêu cầu quyền lợi của con người) (Hàng này tốt đấy; Thầy ấy giỏi lắm.); tầm vóc, mức độ (Công trình thật vĩ đại); số lượng (Bọn họ rất đông đảo); đặc điểm đời sống,
sự tồn tại (Một đôi mắt lấp ló ngoài khe cửa); trạng thái của thiên nhiên và trạng thái sinh lý (Thôn xóm thật bình yên); tình trạng (Thằng Ngọc nom thật tội nghiệp)
a 2 Vị ngữ tính từ miêu tả theo đặc trưng được xác định thông qua quan hệ hoặc tác động qua lại giữa sự vật với đối tượng khác
- Đặc trưng được xác định thông qua quan hệ qua lại giữa sự vật với đối tượng
khác: sở hữu (Ông ấy giàu lắm.); đặc điểm thời gian, không gian, mà sự vật xuất hiện tồn tại (Ngôi nhà ấy cổ lắm); so sánh hơn kém (Nhân vật này rất quan trọng)
- Đặc trưng được xác định thông qua tác động qua lại giữa sự vật với đối tượng
khác: Tác động tới cảm giác (Cái áo này ấm lắm.); tình cảm (Thông tin ấy thật vui.); nhận thức (Bài toán này khó quá.); thể chất, sức khỏe (Cú đánh đó rất đau; Rượu này
bổ lắm.); lợi ích, cuộc sống (Loài sâu bọ này vô hại; Đối thủ đó rất nguy hiểm.); tính chất của tác động từ đối tượng tới sự vật (Việc này rất gấp); của sự vật
b Bình diện ngữ dụng
Trong giao tiếp cụ thể, VNTT không được dùng với các chức năng chiếu vật, trang trí, biểu thị hàm ý mà chỉ dùng với chức năng biểu đạt thông tin Những thông tin được biểu đạt lại có nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là đều hiển ngôn Theo chúng tôi, các câu có VNTT thường là câu thực hiện hành vi mượn lời, chủ yếu dùng trong lập luận Cụ thể như sau:
Trang 26b 1 Vị ngữ tính từ biểu đạt thông tin đánh giá
Các VNTT này được người viết, người nói dùng để biểu thị suy nghĩ, thái độ của mình, nhằm gây cho người đọc, người nghe một tác động nào đó Chẳng hạn,
biểu thị suy nghĩ trong: Điều đó thật may mắn đối với tôi (tr.6), hay biểu thị thái độ không hài lòng trong Cháu hư lắm! (tr 39) VNTT có thể dùng để trấn an người nghe như: Lá này hay lắm! (Ngạn ngồi yên một lát, mũi Ngạn hết chảy máu liền) (tr.62)
Các đánh giá này thường có vai trò của kết luận trong lập luận, được minh họa sáng tỏ bằng những chi tiết ở các vế, các câu trước, sau Chẳng hạn trong: Còn thằng
Ngọc thì nom thật tội nghiệp, (đầu nó mỗi lúc một chúi xuống như muốn chui tọt luôn vào gầm bàn) (tr.28) thì vế sau là sự minh họa cho tính chất nom thật tội nghiệp mà người ta cảm nhận được Còn trong: Người nó đẫm nước và loáng ánh trăng, nom huyền hoặc và xa lạ (tr.38) thì nom huyền hoặc và xa lạ là đánh gíá trên
cơ sở miêu tả phía trước: Người nó đẫm nước và loáng ánh trăng
b 2 Vị ngữ tính từ biểu đạt thông tin miêu tả
Các VNTT này thường được người viết, người nói dùng để giúp người đọc hình dung được cụ thể về đối tượng được nó tới ở chủ ngữ Bên cạnh đó, nó thường có vai
trò của các luận cứ trong một lập luận Chẳng hạn trong: (Thầy Cải), người cao to, mắt chột, tóc rễ tre, khác xa hình ảnh trang nghiêm và đạo mạo của thầy Phu (tr.44) thì VNTT cao to, chột, rễ tre đều là cơ sở cho các kết luận: khác xa hình ảnh trang
nghiêm và đạo mạo của thầy Phu
b 3 Vị ngữ tính từ biểu đạt thông tin tình trạng
Nhóm này được người viết, người nói dùng để báo cho người đọc, người nghe biết tình trạng của một đối tượng nào đó Nó giống VNTT miêu tả ở chỗ cũng thường
được dùng để làm luận cứ cho một lập luận Ví dụ trong: Thầy giáo rất nghiêm khắc,
ưa phạt học trò nên học trò rất sợ thầy, 2 VNTT: nghiêm khắc, ưa phạt học trò là cơ
sở cho vế thứ hai của câu là: nên học trò rất sợ thầy
Cũng có khi nó là sự liệt kê để cụ thể hóa cho ý khái quát nêu ở đại từ phía
trước: Số tôi thế, yếu đuối và dễ mềm lòng, (tr31) Ở câu này, VNTT yếu đuối, dễ mềm lòng là sự cụ thể hóa cho thế
1.1.4.3 Bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng của tính từ trong chức vụ bổ tố
Chưa có công trình nào đưa ra tri thức lí luận về chức năng ngữ nghĩa, ngữ dụng của TT ở chức vụ bổ tố (chữ vụ làm thành tố phụ cho động từ, TT) Trên cơ sở các
Trang 27chức năng của TT trong chức vụ định tố, ở công trình này, chúng tôi mạnh dạn đưa ra quan niệm về chức năng của TT trong chức vụ bổ ngữ (BTTT) như sau:
a Bình diện ngữ nghĩa
Ở bình diện này, TT có thể có chức năng hạn định và chức năng miêu tả
a 1 Bổ tố tính từ có chức năng hạn định (bố tổ tính từ hạn định)
Đây là nhóm BTTT có thể làm phong phú nội hàm, hạn chế ngoại diên của khái
niệm được biểu đạt bằng động từ, tính từ trung tâm Chẳng hạn trong: Tôi tỏ vẻ thờ ơ (tr.51); Tôi trở nên can đảm (tr.93); Có lúc nó tỏ ra cực kì bướng bỉnh (tr.31)… thì
các TT trên đều góp phần làm phong phú nội hàm, hạn chế ngoại diên của khái niệm nêu bằng động từ, tính từ trung tâm, khiến khái niệm trở nên cụ thể Đây thường là trường hợp mà từ trung tâm là các từ mờ nghĩa (thuộc tiểu loại động từ không độc lập, tính từ quan hệ, )
a 2 Bổ tố tính từ có chức năng miêu tả (bổ tố tính từ miêu tả)
Đây là nhóm những BTTT biểu thị đặc điểm không có chức năng thu hẹp ngoại diên của khái niệm nêu ở động từ, TT trung tâm Có thể phân chức năng ngữ nghĩa miêu tả của BTTT thành hai nhóm là:
- Nhóm chỉ biểu thị đặc điểm của hoạt động trạng thái, tính chất được biểu thị bằng từ trung tâm: Đây là nhóm mà BTTT cần phải đi liền với động từ, TT thành tố chính Nếu mất thành tố chính, nó sẽ lâm thời trở thành động từ (thay thế cho cả động
ngữ), hay thay đổi ý nghĩa hoặc trở thành vô nghĩa trong câu Ví dụ, chỉ trong giãy
đành đạch; thủ thỉ kể chuyện, thì đành đạch, thủ thỉ mới có ý nghĩa tính chất Nếu
mất giãy và kể chuyện, trong các tổ hợp như: Nó đành đạch; Cô ấy thủ thỉ, thì đành đạch, thủ thỉ không còn có ý nghĩa tính chất mà đã lâm thời mang ý nghĩa hành động
Còn nếu bỏ khóc bà trong Tôi khóc bà đến sưng cả mắt (tr.79) thì ý nghĩa của câu bị
thay đổi, bởi sưng đã trở thành vị ngữ, mang thông tin chính, chứ không phải khóc
vớí mức độ của nó Còn kể trong Có bao nhiêu chuyện bà đã kể sạch sành sanh
(tr.8) thì câu trở nên vô nghĩa Nhóm này gồm những ý nghĩa như:
+ Trạng thái tâm lý, thái độ đi kèm hoạt động (dịu dàng trấn an, thản nhiên đáp) + Đặc điểm về vị trí (nằm khuất sau lưng bà)
+ Đặc điểm về thời gian, tốc độ (lững thững bỏ đi, giãy đành đạch…)
Trang 28+ Đặc điểm về cách thức, cường độ (thủ thỉ kể chuyện; nói lí nhí; hí hoáy viết; nhét dấm dúi; đánh nhau dữ dội; Để thấy lòng buồn hiu hắt )
+ Số lượng, khối lượng (đã kể sạch sành sanh)
+ Chất lượng của hoạt động, trạng thái: Tôi lơ đãng nghe bà
+ Kết quả của hoạt động (tạo ra với đối tượng bị tác động): kỳ cọ thật sạch chỗ ngồi nó gây ra tai hoạ (tr.29); Tôi khóc bà đến sưng cả mắt (tr.79); …
- Nhóm vừa biểu thị đặc điểm của hoạt động trạng thái, tính chất được biểu thị bằng từ trung tâm vừa biểu thị tính chất của chủ thể của hoạt động trạng thái, tính chất: Đây là nhóm mà TT bổ tố không cần phải đi liền với động từ, TT thành tố chính thì mới thể hiện được ý nghĩa tính chất Nếu mất thành tố chính, nó bị thay đổi về chức vụ, nhưng nó không thay đổi về từ loại, không khiến câu thay đổi về ý nghĩa hay
trở thành vô nghĩa Ví dụ, nếu bỏ bay, xổ, mọc trong các tổ hợp cát bay mù trời, tóc
xổ rối tung; rau dền mọc um tùm) thì các tổ hợp mới: cát mù trời, tóc rối tung; mọc
um tùm hầu như không thay đổi về ý nghĩa so với khi chưa bỏ động từ
b Bình diện ngữ dụng
b 1 Bổ tố tính từ biểu thị thông tin cần yếu (bổ tố tính từ cần yếu):
Những BTTT cần yếu là những BTTT biểu thị thông tin quan trọng không thể
thiếu trong động ngữ, tính ngữ Đó là những thông tin về hành động hoặc thông tin về
thái độ, sự đánh giá của người nói đối với hành động Ví dụ trong câu: Tôi cố tỏ ra
dịu dàng với nó (tr 201) thì BTTT dịu dàng biểu thị thông tin về thái độ người nói,
giúp người đọc hiểu được suy nghĩ của Ngạn trong ngữ cảnh câu chuyện Trong câu
văn trên, động từ chính (tỏ ra) bắt buộc phải có bổ tố đi kèm thì câu mới trọn vẹn ý
nghĩa Nếu bỏ BTTT câu sẽ trở nên không trọn vẹn nghĩa: Tôi cố tỏ ra với nó (-)
b 2 Bổ tố tính từ biểu thị thông tin miêu tả (bổ tố tính từ miêu tả):
Những BTTT thuộc nhóm này biểu thị thông tin trực tiếp về hành động hoặc
thông tin về thái độ, sự đánh giá của người nói đối với hành động Ví dụ: Tôi vội vàng chạy qua nhà bà tôi (tr.6); Bà tôi thản nhiên đáp và tiếp tục nhai trầu (tr.7); Các lớp học đóng cửa im ỉm (tr.114); …
Vội vàng, thản nhiên, im ỉm là những BTTT biểu thị mức độ, cách thức, vị trí,
thời gian, cường độ, của hoạt động biểu thị ở động từ trung tâm
Trang 29tác giả sử dụng BTTT nhẹ nhõm với chức năng biểu thị hàm ý như sau: Tôi chỉ cảm thấy nhẹ nhõm khi nghe tiếng bước chân ba tôi xa dần
Tiếng bước chân xa dần là dấu hiệu ba cậu bé đã đi xa, nguy cơ cậu bị ba đánh
đã giảm đi Vậy BTTT xa dần ở đây là TT có giá trị biểu thị hàm ý giải thích
1.2 Nguyễn Nhật Ánh và tiểu thuyết Mắt biếc
1.2.1 Giới thiệu về Nguyễn Nhật Ánh
Nguyễn Nhật Ánh là nhà văn nổi tiếng trong nền văn học đương đại Việt Nam Tên tuổi của ông gắn liền với các tác phẩm viết cho trẻ em và tuổi thanh thiếu niên - đối tượng mà ông dành nhiều tâm huyết trong đời cầm bút của mình
Ông sinh ngày 7 tháng 5 năm 1955 tại vùng đất Quảng Nam “địa linh nhân kiệt” Xuất hiện trên văn đàn từ những năm 70 của thế kỷ XX với tư cách là một nhà văn của thiếu nhi, ông được coi là một trong những nhà văn thành công nhất viết cho đối tượng trẻ em, thanh thiếu niên với hơn 100 tác phẩm thuộc các thể loại khác nhau Năm 1973, ông học khoa Văn trường Sư phạm tại Sài Gòn Sau khi tốt nghiệp, ông tình nguyện tham gia thanh niên xung phong rồi về làm Chủ nhiệm Câu lạc bộ thiếu nhi quận 6 từ 1982-1984 Sau đó, nhà văn về công tác tại Trường Phổ thông Cơ
sở Bình Tây (nay thuộc quận 6, thành phố Hồ Chí Minh) từ 1984 đến năm 1986 rồi
về làm Báo Sài Gòn Giải Phóng cho đến lúc về hưu
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh bắt đầu từ năm 13 tuổi với bài thơ
đăng báo Năm 1984, ông có tác phẩm in thành sách đầu tiên mang tên Thành phố tháng Tư (in chung với Lê Thị Kim) Cùng năm đó, ông cho ra đời tập truyện dài Trước vòng chung kết, đánh dấu sự nghiệp văn chương vẻ vang của mình sau này
Vào những năm 80 của thế kỉ XX, khi nền văn học nước nhà bước sang thời kì đổi mới, văn học từ cảm hứng sử thi dần chuyển sang cảm hứng thế sự - đời tư Văn
Trang 30học viết cho thiếu nhi cũng đòi hỏi nhiều thay đổi cả về đề tài và phong cách sáng tác Giống như nhiều nhà văn viết cho thiếu nhi, Nguyễn Nhật Ánh đứng trước nhiều khó khăn trong đổi mới văn học Thêm nữa, cuộc sống hiện đại đầy biến động, trẻ em được tiếp xúc nhiều với công nghệ hiện đại nên dễ bị lôi kéo vào những con đường khác ngoài văn học Nếu không đủ sức thu hút, hấp dẫn thì các tác phẩm dễ rơi vào quên lãng Trước thách thức ấy, Nguyễn Nhật Ánh đã vượt qua những khó khăn, thách thức đó để tìm ra lối viết cho riêng mình
Hơn 30 năm cầm bút, Nguyễn Nhật Ánh đã khẳng định được tên tuổi của mình
trong lòng độc giả với các tác phẩm lôi cuốn như: Kính vạn hoa, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Mắt biếc, Hạ đỏ, Cô gái đến từ hôm qua… Với giọng văn dịu dàng, ấm
áp, dễ đi vào lòng người (nhất là giới trẻ), truyện của ông liên tục được tái bản và
chưa bao giờ giảm sức hút Tài năng của ông được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng
có giá trị Năm 1990, truyện dài Chú bé rắc rối được Trung ương Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh trao giải thưởng Văn học Trẻ hạng A Năm 1995, ông được bầu chọn là nhà văn được yêu thích nhất trong 20 năm (1975 - 1995) qua cuộc trưng cầu ý kiến bạn đọc về các gương mặt trẻ tiêu biểu trên mọi lĩnh vực của Thành Đoàn
Thành phố Hồ Chí Minh và báo Tuổi trẻ, là một trong 20 nhà văn trẻ tiêu biểu trong
20 năm (1975 - 1995) do Hội nhà Văn Thành phố Hồ Chí Minh bình chọn Năm
1998, ông được Nhà xuất bản Kim Đồng trao giải cho nhà văn có sách bán chạy nhất
Năm 2003, bộ truyện nhiều tập Kính vạn hoa được Trung ương Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh trao huy chương Vì thế hệ trẻ và được Hội nhà văn Việt Nam trao tặng thưởng Năm 2008, ông cho ra đời tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, được báo Người lao động bình chọn là tác phẩm hay nhất năm 2008
Nhắc đến Nguyễn Nhật Ánh là ta nhớ ngay đến một nhà văn có phong cách sáng tác vừa gần gũi, giản dị vừa độc đáo, tinh tế Các sáng tác của ông hướng đến những câu chuyện bình dị, đời thường trong cuộc sống nhưng bao giờ cũng chạm đến rung động sâu xa trong lòng người Học sư phạm, từng có thời gian dạy học nên ông luôn đề cao tính giáo dục trong các tác phẩm văn chương của mình Lối viết truyện đơn giản, không khoa trương, tô vẽ của tác giả tạo nên những trang văn trong trẻo, gợi sự êm đềm, tĩnh tại, sự thư thái nhẹ nhàng giữa dòng đời nhiều bộn bề, ồn ào của
Trang 31lối sống hiện đại Giọng văn nhẹ nhàng, ẩn chứa những triết lý sâu sắc mang đến những trang văn như những “trang thơ”, mỗi câu, mỗi chữ đều thấm đẫm chất thơ dịu
ngọt Với nhà văn: “văn xuôi là sự nối dài của thi ca”
Đặc biệt, phong cách sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Nhật Ánh rất tự nhiên, thường sử dụng nhiều khẩu ngữ, ngôn ngữ đời thường cùng với lớp từ địa phương, động từ, TT giàu sắc thái biểu cảm Tất cả tạo nên một phong cách độc đáo, hấp dẫn riêng có của Nguyễn Nhật Ánh
Có thể thấy, Nguyễn Nhật Ánh là một dẫn cứ về tinh thần lao động sáng tạo, về công phu rèn luyện tay nghề để trở thành một nhà văn chuyên nghiệp Cùng với các nhà văn cùng thời như Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Ngọc Tư,… Nguyễn Nhật Ánh đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của văn học thiếu nhi và tuổi mới lớn, khẳng định được vị trí của mình trong văn xuôi đương đại Việt Nam
1.2.2 Giới thiệu về tiểu thuyết Mắt biếc
Tiểu thuyết MB được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của Nguyễn Nhật Ánh viết về đề tài tình yêu của lứa tuổi thanh thiếu niên Ngay từ khi mới ra đời, cuốn tiểu thuyết đã hấp dẫn, lôi cuốn bạn đọc nhiều thế hệ và được giới thiệu, xuất bản ở nhiều quốc gia trên thế giới
MB là câu chuyện lãng mạn về tuổi mới lớn - lứa tuổi đầy hồn nhiên, mơ mộng nhưng cũng đủ lớn để trải nghiệm và thấu hiểu dần những ngọt bùi đắng cay của tình yêu đầu đời
Tác phẩm kể về Ngạn - một cậu bé sinh ra và lớn lên ở ngôi làng Đo Đo thuộc vùng quê Quảng Nam Tuổi thơ của cậu gắn liền với cô bạn có đôi “mắt biếc” tuyệt đẹp tên là Hà Lan Ngạn và Hà Lan đã có với nhau những kỉ niệm đẹp suốt những năm tháng đi học cùng nhau Ngạn dần có tình cảm với Hà Lan, nhưng cô lại chỉ coi cậu là bạn tri kỉ
Khi cả hai cùng lên thành phố học, cuộc sống mới, môi trường mới dẫn đến những đổi thay trong cuộc đời họ Trong khi Ngạn vẫn luôn dành tình cảm cho Hà Lan, thì Hà Lan đã thay đổi Cô tỏ ra thích nghi và say mê với cuộc sống ở thành thị, quen biết và yêu Dũng - một thanh niên nhà giàu ăn chơi, sành điệu Rồi Hà Lan mang thai với Dũng, nhưng bị hắn ruồng bỏ Sau khi sinh, cô gửi con về cho bà ngoại
Trang 32chăm sóc và tiếp tục cuộc sống ở thành phố Còn Ngạn, dù tình cảm dành cho Hà Lan không được đáp lại nhưng anh vẫn dốc hết tình thương của mình để chăm sóc cho Trà
Long - con gái Hà Lan Trà Long có đôi mắt biếc giống như mẹ của mình Nhưng
không giống với mẹ, Trà Long có tâm hồn luôn hướng về quê hương, luôn dành cho làng Đo Đo - nơi cô khôn lớn một sự gắn bó và tình yêu sâu đậm Cô yêu quê hương của mình, yêu những thứ giản dị ở quê nhà, giống như Ngạn Hai tâm hồn đồng cảm gặp nhau, dành tình cảm cho nhau nhưng đến cuối cùng, tình cảm ấy vẫn không thể đơm trái ngọt Ngạn với những nỗi đau, dằn vặt trong lòng đã chọn cách ra đi Có lẽ, anh hiểu được rằng: Trà Long chỉ là cái bóng của Hà Lan Anh không thể tiếp tục với Trà Long được nữa, anh quyết định giữ mãi hình ảnh “mắt biếc” đẹp nhất trong trái tim mình
MB là câu chuyện tình yêu đầy lãng mạn để lại nhiều nuối tiếc trong lòng độc giả Tác phẩm là một bài ca về mối tình đầu, là một tình yêu đơn phương đầy hi sinh, không vụ lợi, toan tính
MB cũng là câu chuyện về tình yêu quê hương, đất nước và con người Tình cảm gắn bó, yêu thương của Ngạn, của Trà Long dành cho ngôi làng Đo Đo là tình yêu quê hương, nguồn cội thiết tha, sâu nặng Ngạn đắm đuối, say mê và yêu mến hình ảnh Hà Lan của ngày xưa bởi cô chính là hiện thân giản dị và hồn nhiên của làng quê Đó là thứ tình yêu chân thành, mộc mạc như chính cảnh vật, con người ở quê hương anh
1.3 Tiểu kết chương 1
Ở chương 1, chúng tôi tìm hiểu những vấn đề cơ sở lí luận và thực tiễn về TT tiếng Việt Luận văn đã làm rõ những vấn đề khái quát về TT như khái niệm, đặc điểm, vấn đề ranh giới của TT và phân loại TT tiếng Việt Luận văn đặc biệt đi sâu vào tìm hiểu những cơ sở lí luận chung về ba chức năng cơ bản của tính từ tiếng Việt,
đó là chức năng làm định tố (ĐTTT), chức năng làm vị ngữ (VNTT) và chức năng làm bổ tố (BTTT) Đồng thời, luận văn làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm và sự phân loại TT ở mỗi chức năng ấy trên hai bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng Những nghiên cứu bước đầu về TT trên hai bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng sẽ là cơ sở kiến thức nền tảng hữu ích cho nghiên cứu, tìm hiểu các chương sau của luận văn
Trang 33Bên cạnh đó, luận văn có những giới thiệu và đánh giá chung về nhà văn Nguyễn Nhật Ánh cùng cuốn tiểu thuyết MB của ông Qua việc tìm hiểu về tiểu sử và
sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh, có thể khẳng định vị trí quan trọng của nhà văn trong nền văn học Việt Nam đương đại, đặc biệt là trong bộ phận văn học dành
cho thanh thiếu niên
Đây là những cơ sở lí luận thực tiễn cho việc triển khai nghiên cứu chương 2, 3 của luận văn
Trang 34Chương 2
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TÍNH TỪ TRONG MẮT BIẾC
CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH
2.1 Thống kê tình hình sử dụng tính từ trong Mắt biếc
Nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa của TT trong MB, chúng tôi nhận thấy TT được Nguyễn Nhật Ánh sử dụng vào cả ba vai trò cơ bản: định tố, vị ngữ và bổ tố Khảo sát trong 199 trang truyện MB, số lượng TT được sử dụng ở mỗi vai trò cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Thống kê tình hình sử dụng tính từ trong Mắt biếc
Bảng thống kê cho thấy:
- Trong 199 trang truyện MB, Nguyễn Nhật Ánh đã sử dụng 746 TT với 938 lượt Như vậy, trung bình mỗi trang truyện có khoảng 5 lượt sử dụng TT
- Tác giả sử dụng TT nhiều nhất trong vai trò định tố Tác phẩm có 323 ĐTTT với 448 lượt sử dụng Như vậy, ĐTTT chiếm tỉ lệ vượt trội cả về số lượng và số lượt
sử dụng so với VNTT và BTTT ĐTTT có số lượng đã lớn, số lượt sử dụng lại có tỉ lệ cao hơn cả số lượng
- Có 235 BTTT với 262 lượt sử dụng, tỉ lệ về số lượng TT được sử dụng làm bổ
tố là 31,5%, số lần sử dụng là 27,9% Như vậy, tỉ lệ BTTT nói chung trong tác phẩm
đã ít, lượt sử dụng lại thấp hơn cả tỉ lệ về số lượng
- VNTT được sử dụng ít nhất, chỉ có 188, với 228 lượt Tỉ lệ số lượng VNTT là 25,2%, gần tương đương với tỉ lệ số lượt sử dụng là 24,3%
Có thể lí giải cho sự chênh lệch về tổng số TT và số lượt sử dụng của TT ở ba vai trò định tố, bổ tố và vị ngữ như sau:
- ĐTTT được sử dụng nhiều nhất cả về số lượng và số lượt một phần vì định tố
là chức vụ ngữ pháp chính của TT Trong tiếng Việt (cũng giống như nhiều ngôn ngữ
Trang 35trên thế giới), ĐTTT trở nên không thể thiếu hoặc khó có thể thiếu được, bởi sự thiếu vắng ấy ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc, ý nghĩa và giá trị thẩm mĩ của câu MB là một tác phẩm văn học đạt nhiều thành công về mặt ngôn ngữ, việc sử dụng đa dạng ĐTTT có thể giúp biểu thị sự vật, sự việc cụ thể, sinh động Đồng thời, việc sử dụng nhiều ĐTTT trong diễn đạt giúp Nguyễn Nhật Ánh tạo được những nét riêng trong câu văn, trong cách dùng từ ngữ, tạo nên cách biểu đạt như một thông tin đi kèm, có phần kín đáo, tế nhị Một số TT được tác giả sử dụng kèm với danh từ thể hiện sự quan sát tinh tế, vốn từ phong phú, mới lạ, độc đáo
- Tỷ lệ lượt sử dụng trung bình của mỗi ĐTTT cũng cao nhất (448/323 = 1,4 lần), trong khi tỉ lệ đó ở BTTT là 0,9 lần (235/259), ở VNTT là 1,2 lần (228/188)
Có thể thấy, ở ba vai trò ngữ pháp khác nhau, TT đều góp phần thể hiện những đặc điểm riêng trong việc sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Nhật Ánh Để lí giải được sâu sắc hơn những kết quả thống kê trên, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm sử dụng TT trong MB ở phương diện ngữ nghĩa
2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của định tố tính từ trong Mắt biếc
2.2.1 Khái quát về bình diện ngữ nghĩa của định tố tính từ trong Mắt biếc
Trong vai trò là định tố, TT chiếm số lượng lớn và nó thể hiện những đặc trưng tiêu biểu về ngữ nghĩa của ngôn ngữ tác phẩm
Trong MB, Nguyễn Nhật Ánh sử dụng cả hai chức năng hạn định và miêu tả của
ĐTTT Theo thống kê, trong 199 trang viết của chương 1 và 2 tiểu thuyết MB, nhà văn đã sử dụng tổng số 323 ĐTTT với 448 lượt, cụ thể như sau:
Bảng 2.2: Thống kê tình hình sử dụng các loại định tố tính từ ngữ nghĩa trong
Từ thống kê trên, ta thấy:
- Trong MB, ĐTTT được sử dụng chủ yếu ở chức năng hạn định Đây cũng là
chức năng cơ bản, chiếm ưu thế trong ĐTTT tiếng Việt nói chung Trong tổng số 323
Trang 36TT, có 280 ĐTTTHĐ chiếm 86,7%, trong khi đó ở ĐTTTMT con số này ít hơn nhiểu, chỉ có 43 ĐTTT, chiếm 13,3% Như vậy, số lượng ĐTTTMT chỉ bằng 1/6 số lượng ĐTTTHĐ
- Tỷ lệ lượt sử dụng trung bình của mỗi ĐTTTHĐ cũng cao hơn ĐTTMT 1,4 lần Trong khi lượt sử dụng trung bình của mỗi ĐTTTMT xấp xỉ 1,0 lần
Kết quả khảo sát trên cơ bản thống nhất với các tài liệu nghiên cứu về ĐTTT trước đó Điều này khẳng định chức năng hạn định là chức năng chính của ĐTTT Nguyễn Nhật Ánh chủ yếu sử dụng ĐTTT để thu hẹp ngoại diên của sự vật, sự việc được nói tới trong câu văn, đồng thời dùng để miêu tả đặc điểm của các sự vật ấy một cách không trực tiếp Rất ít khi ĐTTT dùng để miêu tả đơn thuần, bởi chức năng miêu tả của TT được Nguyễn Nhật Ánh sử dụng nhiều ở vai trò vị ngữ và bổ tố
2.2.2 Định tố tính từ có chức năng hạn định (định tố tính từ hạn định) trong Mắt biếc
Khảo sát trên cho thấy, số lượng và số lượt sử dụng của ĐTTT ở chức năng hạn định đều cao hơn hẳn ĐTTT ở chức năng miêu tả Do được biểu đạt bằng thành tố phụ về mặt ngữ pháp mà các thông tin miêu tả bằng ĐTTT nhìn chung được coi là có tính chất thứ yếu, không chính danh, ví dụ:
(1) Tôi lại đi tụt đằng sau nó suốt một chặng đường dài (tr.136)
Trong danh ngữ một chặng đường dài, ĐTTT dài chỉ có giá trị bổ sung thông
tin cho DTTrT chặng đường giúp người đọc xác định được sự vật nêu ở DTTrT, đồng
thời biết về đặc điểm của sự vật ấy một cách không trực tiếp Vì vậy, việc lược bỏ ĐTTT có thể ảnh hưởng rõ rệt hoặc ít ảnh hưởng đến tính hoàn chỉnh về ngữ pháp, trọn vẹn về ngữ nghĩa của câu tùy từng trường hợp sử dụng
Trong đại đa số trường hợp, các ĐTTTHĐ nếu bị bỏ đi sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến tính hoàn chỉnh của câu Trước hết, nó sẽ khiến sự vật nói đến trong câu không đảm bảo tính xác định, tức chưa trọn vẹn về ngữ nghĩa Trong ví dụ (1) hay trường hợp sau đây, ĐTTT không thể bị lược bỏ do chức năng hạn định của nó ở trong câu:
(2) Hà Lan tảng lờ không nhắc gì chuyện cũ (tr.29)
Nếu câu bỏ đi ĐTTT cũ thì ta sẽ không xác định được chuyện mà nhân vật nhắc
đến ở đây là gì? Chuyện cũ hay mới hay cụ thể câu chuyện nào? Câu văn sẽ trở nên thiếu thông tin xác định
Theo khảo sát của chúng tôi, xét đặc điểm phương tiện hạn định thì ĐTTT trong
MB gồm nhiều tiểu loại khác nhau, cụ thể như sau:
Trang 37Hà Lan là một cô bé dễ thương và đặc
biệt duyên dáng (tr.30)
(4,0%)
Cây bàng già không còn cao ghê gớm
như tôi hằng tưởng (tr.138)
(2,5%)
Tôi nghĩ cô là người duy nhất mà tôi có
thể tâm sự (tr.119)
6 Trạng thái thiên nhiên,
trạng thái sinh lí, tâm lí
93 (23,2%)
Tôi vừa xoa cặp mông bỏng rát vừa cảm
thấy mình là đứa trẻ bất hạnh nhất trên
đời (tr.13)
(5,5%)
Đống cát đó là sân chơi lý tưởng của
bốn cô cháu tôi (tr.9)
1 Quan hệ với thời gian,
không gian vật xuất hiện,
tồn tại
27 (6,7%)
Tối, ba tôi dò lại và dạy thêm chữ mới
Vâng, từ giã lớp vỡ lòng thơ ấu đầy
những kỷ niệm đắng cay và ngọt ngào
(tr.44); Và ngày ., hai đứa tôi lập tức
chạy vù về nhà, ., thỉnh thoảng té
những cú đau điếng (tr.48)
3 Quan hệ thân sơ 7 (1,8%) Sáng ra tôi chợt nhìn thấy ở cô bạn nhỏ
Trang 386 (1,5%) Bà sẽ khổ tâm vì trót đi dạo trong một
buổi tối quan trọng như vậy (tr.14)
5 Quan hệ giá trị 1 (0,2%) .những vết bầm đáng giá, luôn hoài
vọng bàn tay chăm sóc năm nào (tr.74)
để hạn định sự vật ấy, đồng thời gián tiếp miêu tả chúng Trong đó:
+ Tiểu nhóm 1 (ĐTTTHĐ biểu thị đặc điểm ở phương diện chiều kích) gồm các
TT: dài, ngang, cao, sâu, xa cách, mênh mông dùng để hạn định khoảng thời gian hoặc kích thước của sự vật Chẳng hạn, ĐTTT dài trong ví dụ (1) hay ĐTTT xa cách
trong câu văn sau:
(11) Những ngày xa cách, lòng tôi trầm lại (tr.209)
Chúng được dùng để thu hẹp ngoại diên của chặng đường, ngày, phân biệt chúng với các chặng đường, ngày khác, đồng thời cũng có tác dụng miêu tả
Các ĐTTT thênh thang, cao vút lại giúp tái hiện phong cảnh thành phố xa hoa,
Trang 39Tiểu nhóm ĐTTT này được tác giả sử dụng với tần suất khá cao (74 lượt, chiếm 18,4%) giúp thể hiện những đặc điểm có tác dụng làm phong phú thêm nội hàm của các sự vật, sự việc về phương diện tính chất vật lý Trong số đó, các TT chỉ màu sắc được sử dụng nhiều nhất với 9 TT Các TT này được Nguyễn Nhật Ánh sử dụng giúp cho sự diễn đạt trở nên chân thực, giàu sức tạo hình Có thể thấy rõ điều đó qua những câu văn sau:
(7) Tôi vẫn không thể nào quên hình ảnh thơ mộng của những tà áo trắng lững
lờ trôi ra khỏi cổng trường (tr.131)
(8) Tìm Hà Lan giữa một biển áo trắng mênh mông chẳng khác nào tìm một hạt
cát giữa đại dương (tr.133)
Ở các câu văn trên, nhà văn sử dụng ĐTTT trắng không chỉ để hạn định màu
sắc của những tà áo dài Việc nhấn mạnh vào màu trắng giúp người đọc cảm nhận sâu sắc chất lãng mạn, thơ mộng, nhẹ nhàng vốn rất đặc trưng trong ngôn ngữ văn chương Nguyễn Nhật Ánh
ĐTTT đỏ được sử dụng 2 lần để cụ thể hình ảnh con đường đất quen thuộc: (9) Giếng làng nằm trên con đường đất đỏ (tr.36)
(10) Con đường đất đỏ chạy ngang cuối chợ (tr.76)
Nghiên cứu đặc điểm sử dụng ĐTTTHĐ thuộc tiểu nhóm 2, ta thấy được tài năng quan sát, cảm nhận cảnh sắc thiên nhiên tinh tế và độc đáo của Nguyễn Nhật Ánh
+ Tiểu nhóm 3 (ĐTTTHĐ chỉ phẩm chất, tính cách, năng lực):
Chiếm số lượt sử dụng nhiều thứ hai chính là các ĐTTTHĐ tiểu nhóm 3 bởi tính cụ thể, sinh động, biểu cảm mà những ĐTTT này đem đến cho sự diễn đạt Đồng thời, ĐTTTHĐ vừa có tác dụng hạn chế ngoại diên đối tượng vừa miêu tả đối tượng
sẽ giúp cung cấp thêm thông tin về sự vật, sự việc được nói tới trong tác phầm đầy
đủ, cụ thể hơn Như trong đoạn văn nói về nhân vật Hà Lan:
(5) Hà Lan là một cô bé dễ thương và đặc biệt duyên dáng… Tôi luôn luôn tò
mò và thích thú quan sát tác những động tác “dễ ghét” của nó Hà Lan thường đưa tay vén tóc một cách đặc biệt […] Dù vậy, Hà Lan không phải là cô bé hoàn toàn dịu dàng (tr.30-31)
Các ĐTTTHĐ như: dễ thương, duyên dáng, dịu dàng, dễ ghét… giúp cho sự
diễn đạt thêm cụ thể, mang tính phân loại cao giúp người đọc hình dung được những
Trang 40nét tính cách của nhân vật Hà Lan Chính những TT ấy, thậm chí có những cặp TT
mang nghĩa gần đối lập nhau (dễ thương - dễ ghét) khiến hình ảnh nhân vật Hà Lan
hiện lên sinh động, chân thực hơn với những vẻ đáng yêu riêng có Đặc biệt, khi
Ngạn so sánh Hà Lan với chị Quyên thì những ĐTTTHĐ gan góc, rắn rỏi giúp người
đọc phân biệt rõ những nét tính cách trái ngược của hai cô bé:
(6) Chị Quyên là đứa con gan góc của làng tôi… Chị luôn luôn là chị, tôi luôn luôn
là em Với những nắm đấm rắn rỏi của chị, điều đó khó thay đổi được (tr.54-55)
+ Tiểu nhóm 4 (ĐTTTHĐ chỉ tuổi tác, thể chất):
Những ĐTTTHĐ thuộc tiểu nhóm 4 được dùng để nói về ngôi làng Đo Đo Tác
giả sử dụng TT già bổ sung cho hình ảnh cây bàng được nhắc đến trong tác phẩm: (17) Ban ngày chợ vắng ngắt, chỉ còn trơ lại cây bàng già giữa chợ và những
căn lều trống trải (tr.13)
(18) Cây bàng già không còn cao ghê gớm như tôi hằng tưởng (tr.138)
ĐTTTHĐ già giữ vai trò hạn chế ngoại diên, xác định đối tượng được nói đến một cách rõ ràng Nếu không sử dụng ĐTTT già kết hợp với danh từ cây bàng, người
đọc sẽ khó mà xác định được liệu cây bàng ấy có phải là cây bàng đã được nhắc đến
trước đó hay không ĐTTT già còn mang ý nghĩa miêu tả về đặc điểm của cây bàng
+ Tiểu nhóm 5 (ĐTTTHĐ chỉ số lượng):
Chỉ có 4 ĐTTTHĐ thuộc tiểu nhóm này, đó là các TT: đầy, cạn, thiếu vắng, duy nhất Những ĐTTTHĐ chỉ số ít có trong:
(20) Những ngày thiếu vắng Hà Lan là những ngày buồn tẻ (tr.118)
(21) Tôi nghĩ cô là người duy nhất mà tôi có thể tâm sự (tr.119)
Hai trường hợp sử dụng trên đều góp phần nhấn mạnh sự cô đơn, trống vắng của Ngạn trong mối tình đơn phương dành cho cô bạn Hà Lan
+ ĐTTTHĐ thuộc tiểu nhóm 6 (ĐTTT chỉ đặc điểm ở phương diện trạng thái thiên nhiên, trạng thái sinh lí, tâm lí) được sử dụng nhiều nhất, với 93 lượt (23,2%) Với một tác phẩm có nội dung thể hiện một câu chuyện tình buồn nhưng trong sáng như MB cần sử dụng nhiều TT làm định tố để làm rõ vẻ đẹp của thiên nhiên và đời sống tình cảm, tâm tư của con người Những câu văn miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên làng quê thanh bình xuất hiện nhiều trong tác phẩm, như: