1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá biến đổi chất lượng môi trường trong sử dụng đất các khu đô thị và công nghiệp thành phố hải phòng

24 545 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá biến đổi chất lượng môi trường trong sử dụng đất các khu đô thị và công nghiệp thành phố Hải Phòng
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Phượng
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Ngọc Thạch
Trường học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Chuyên ngành Địa chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 424,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá biến đổi chất lượng môi trường trong sử dụng đất các khu đô thị và công nghiệp thành phố Hải Phòng Nguyễn Thị Hồng Phượng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn Thạc sĩ ngà

Trang 1

Đánh giá biến đổi chất lượng môi trường trong

sử dụng đất các khu đô thị và công nghiệp

thành phố Hải Phòng Nguyễn Thị Hồng Phượng

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn Thạc sĩ ngành: Địa chính; Mã số: 60 44 80 Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thạch

Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Thu thập số liệu, bản đồ hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng trong

2 giai đoạn 2005-2010; Thu thập số liệu về hiện trạng môi trường trong các khu đô thị, công nghiệp giai đoạn 2005- 2010 (số liệu quan trắc môi trường, tổng lượng chất thải các nguồn thải: nước thải, khí thải, chất thải rắn, một số kim loại nặng trong đất); Đánh giá biến động đất đai, môi trường bằng công nghệ GIS, Viễn thám cho giai đoạn 2005-2010: bản đồ biến động sử dụng đất (từ đất nông nghiệp chuyển sang đất đô thị, công nghiệp); bản đồ biến động sử dụng đất khu đô thị, khu công nghiệp; bản đồ chất lượng các thành phần môi trường (theo những thông số đánh giá cơ bản được lựa chọn ) tại các khu đô thị, khu công nghiệp; bản đồ tổng thể biến đổi chất lượng môi trường trong các khu đô thị, khu công nghiệp Đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng

cao hiệu quả công tác quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng;

Keywords: Địa chính; Chất lượng môi trường; Sử dụng đất; Khu đô thị; Hải Phòng;

Khu công nghiệp

Content

Tính cấp thiết của đề tài

Trong thập niên cuối của thế kỉ 20, đặc biệt là những năm đầu thế kỉ 21, Việt Nam bước vào thời kì bùng nổ về phát triển đô thị và công nghiệp Quá trình này giữ vai trò quyết định trong chiến lược công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước mà Đảng và Nhà nước đã đề

ra Việc hình thành khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) đã tạo động lực to lớn cho sự phát triển công nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Sự hình thành các KCN, CCN còn góp phần thúc đẩy sự hình thành các khu đô thị (KĐT) mới, phát triển nhiều ngành dịch vụ và công nghiệp phụ trợ; đưa Việt Nam thoát khỏi danh sách các nước nghèo trên thế giới Tuy nhiên, bên cạnh sự chuyển biến tích cực về mặt kinh tế xã hội đã phát sinh những tác động tiêu cực đến môi trường do quá trình phát triển các KCN, CCN, KĐT

Trang 2

tăng trong và ngoài các KCN, CCN Việc xử lý ô nhiễm môi trường tại các KCN, CCN, các trọng điểm gây ô nhiễm môi trường chưa triệt để đã và đang gây nên những hậu quả môi trường nghiêm trọng ở nhiều khu vực trên phạm vi cả nước Bên cạnh đó trong quá trình phát triển các KCN, CCN, đặc biệt trong các vùng kinh tế trọng điểm đang còn tồn tại nhiều vấn đề như: sử dụng đất đai chưa hiệu quả, tỷ lệ lấp đầy trong KCN, CCN chưa cao, nhiều nơi còn để đất hoang hóa, hiệu quả sử dụng đất thấp; việc bố trí về vị trí, quy mô diện tích các KCN, KĐT nhiều nơi chưa hợp lý, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội, môi trường của địa phương Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển các KCN, CCN, KĐT trong một giai đoạn ngắn vừa qua trên phạm vi cả nước đã cho thấy nhiều bất cập, trong đó các yếu tố đảm bảo cho phát triển bền vững về kinh tế, xã hội bị xem nhẹ, đặc biệt là các yếu tố về môi trường

Phát triển bền vững trong qui hoạch sử dụng đất các KĐT, KCN đã được thực hiện thành công ở nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt ở những nước phát triển ở Châu Âu, các nước: Mỹ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Thái Lan Ở Việt Nam, phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững môi trường nói riêng mới được đặt ra trong thập kỷ vừa qua Trên thực tế việc bảo vệ môi trường thường được xây dựng lồng ghép trong qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội, qui hoạch đô thị, khu công nghiệp…Tuy nhiên đặt vấn đề qui hoạch lồng ghép đó thực sự đã đáp ứng được tính ổn định, bền vững chưa, nó có những ảnh hưởng

gì đến chất lượng môi trường hiện tại và trong tương lai còn là một vấn đề lan giải đối với các nhà quản lý, hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường tại Việt Nam nói chung và tại thành phố Hải Phòng nói riêng

Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường do quá trình phát triển các KĐT, KCN, CCN có nhiều nguyên nhân khác nhau; Tuy nhiên để đánh giá tổng quan các nguyên nhân chính làm biến đổi chất lượng môi trường trong qui hoạch sử dụng đất các KĐT, KCN từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý đất đai có ý nghĩa rất lớn trong việc quy hoạch khai thác bền vững nguồn tài nguyên, đảm bảo phát triển tiềm năng kinh

tế, điều kiện tự nhiên sẵn có ở một vùng đất trẻ ven biển như Hải Phòng

Đánh giá biến đổi chất lượng môi trường nói chung và đánh giá biến đổi chất lượng môi trường trong qui hoạch sử dụng đất các KĐT, KCN theo phương pháp truyền thống như thống kê, báo cáo đã được thực hiện; tuy nhiên kết quả đánh giá đó chưa thực sự phục vụ hữu ích cho nhu cầu quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường nhằm hướng tới phát triển bền vững cho thành phố Hải Phòng

Ngày nay khoa học công nghệ phát triển, hệ thống thông tin địa lý (GIS), phương pháp Viễn thám đã được ứng dụng nhiều trong các nghiên cứu đánh giá về đất đai, môi trường và nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác Để có những đánh giá cụ thể, khách quan, khoa học và tổng quan được các vấn đề môi trường trong quá trình phát triển các khu đô thị, công nghiệp đặt trong mối quan hệ hệ thống với qui hoạch sử dụng đất trên bản đồ ở trạng thái động là

Trang 3

thời cũng là một trong những giải pháp quan trọng trong quản lý ô nhiễm trong KCN, KĐT góp phần tích cực trong việc phòng ngừa kiểm soát ô nhiễm do các hoạt động sản xuất công nghiệp gây nên trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Xuất phát từ thực tế trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường

trong thời gian qua, em đã lựa chọn nghiên cứ đề tài “Đánh giá biến đổi chất lượng môi trường trong sử dụng đất các khu đô thị và công nghiệp thành phố Hải Phòng”

Luận văn được bố cục gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Đánh giá hiện trạng sử dụng đất, môi trường các khu đô thị, khu công

nghiệp thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005-2010

Chương 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất các khu đô thị, công

nghiệp thành phố Hải Phòng

* Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng biến đổi chất lượng môi

trường trong sử dụng đất các khu đô thị và công nghiệp tại thành phố Hải Phòng

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thu thập số liệu, bản đồ hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng trong 2 giai đoạn 2005-2010;

- Thu thập số liệu về hiện trạng môi trường trong các khu đô thị, công nghiệp giai đoạn 2005- 2010 (số liệu quan trắc môi trường, tổng lượng chất thải các nguồn thải: nước thải, khí thải, chất thải rắn, một số kim loại nặng trong đất);

- Đánh giá biến động đất đai, môi trường bằng công nghệ GIS, Viễn thám cho giai đoạn 2005-2010: bản đồ biến động sử dụng đất (từ đất nông nghiệp chuyển sang đất đô thị, công nghiệp); bản đồ biến động sử dụng đất khu đô thị, khu công nghiệp; bản đồ chất lượng các thành phần môi trường (theo những thông số đánh giá cơ bản được lựa chọn ) tại các khu

đô thị, khu công nghiệp; bản đồ tổng thể biến đổi chất lượng môi trường trong các khu đô thị, khu công nghiệp;

- Đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng;

* Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi không gian: Toàn bộ thành phố Hải Phòng (trừ 2

huyện đảo Bạch Long Vỹ và Cát Hải); Phạm vi thời gian nghiên cứu: Giai đoạn năm 2005 -

2010

* Phương pháp nghiên cứu: gồm 6 phương pháp cơ bản: Phương pháp kế thừa;

Phương pháp thống kê; Phương pháp so sánh; Phương pháp tính toán áp dụng mô hình;

Trang 4

Chương 1- TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Qui hoạch sử dụng đất khu đô thị, khu công nghiệp

Chúng ta đều hiểu rằng “đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoan đất,

vạc đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên đặc

trưng (đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ nước mặt, chế độ nước ngầm, nhiệt độ ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hóa ) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng đất vào các mục đích khác nhau Như vậy, để sử dụng đất hiệu quả thì điều đầu tiên chúng ta cần phải nghiên cứu, đánh giá đặc trưng cơ bản của đất đai từng khu vực, từng vùng, từng lãnh thổ

Qui hoạch sử dụng đất đô thị là việc bố trí, sắp xếp đất đai đô thị, là hệ thống các biện pháp kinh tế kĩ thuật; là các phương án khai thác sử dụng triệt để nguồn tài nguyên đất đai đô thị nhằm thoả mãn những nhu cầu mới của con người, xã hội phục vụ tốt nhất cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước

1.2 Các vấn đề môi trường trong quá trình phát triển KĐT, KCN

1.2.1 Môi trường và phát triển bền vững

Cách đây 40 (năm 1972) tại Stốckhôm, Thụy Điển, Liên hợp quốc đã tổ chức Hội nghị quốc tế về môi trường và con người Tại hội nghị này những người đứng đầu thế giới đã nhất trí rằng “việc bảo vệ và cải thiện môi trường con người cho các thế hệ ngày nay và mai sau là mục tiêu cấp bách của nhân loại” Hội nghị này đã đánh dấu sự ra đời của nhận thức về môi trường và phát triển Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển họp vào tháng 6/1992 tại Rio De Janeiro đã thành lập Ủy ban phát triển bền vững Thành quả lớn nhất của Hội nghị này là Chương trình nghị sự 21 - Một kế hoạch hành động chi tiết cho phát triển bền vững toàn cầu của thế kỷ 21 và đánh dấu sự cam kết toàn cầu vì sự phát triển bền vững

Đã có nhiều quốc gia trên thế giới xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 của quốc gia mình Mặc dù cách tiếp cận của mỗi quốc gia khác nhau, nhưng tất cả các chương trình đều dựa trên điều kiện thực tế của mỗi nước và đề xuất các vấn đề ưu tiên nhằm đảm bảo phát triển bền vững kinh tế, xã hội và môi trường

Hiện nay, việc sử dụng các thành phần môi trường phục vụ phát triển kinh tế là chưa hợp lý, còn lãng phí, không thân thiện môi trường và thiếu quan tâm đến tính bền vững Nguyên nhân chính là do chưa quan tâm đúng mức đến công tác quy hoạch, kế hoạch phân bổ hợp lý tài nguyên thiên nhiên cho phát triển kinh tế ngay từ những giai đoạn đầu ra quyết định phát triển Về nguyên tắc thì quy hoạch cần phải làm trước và các hành động phát triển diễn ra

Trang 5

thiểu được những tác động tiêu cực đến môi trường Một nguyên nhân khác làm cho phát triển không bền vững là trong quá trình phát triển thiếu sự giám sát hợp lý để có đủ thông tin phản hồi cần thiết phục vụ việc điều chỉnh và nâng cao hiệu quả hoạt động

Cùng với những hậu quả về môi trường phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, những tác động của biến đổi khí hậu với các thiên tai đã làm cho môi trường hành tinh chúng ta nói chung và của Việt Nam nói riêng ngày càng xấu đi cả ở quy mô và mức độ nguy hiểm Vì vậy đòi hỏi phải có những chính sách mới gắn kết chặt chẽ giữa nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường hướng tới phát triển bền vững

1.2.2 Các vấn đề môi trường trong qui hoạch sử dụng đất khu đô thị, khu công nghiệp

Quy hoạch khu đô thị cạnh khu công nghiệp, hay quy hoạch khu công nghiệp vào đầu hướng gió chính của khu đô thị, vào đầu nguồn các con sông là nguyên nhân tất yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường là điều không tránh khỏi Có những bản quy hoạch thuê nước ngoài làm, qua hội thảo cho có lệ, rồi xếp ngăn tủ; hoặc có triển khai cũng méo mó…Quy hoạch khu công nghiệp một cách ồ ạt như hiện nay mà không quy hoạch nhà ở cho công nhân, bệnh xá, trường học, nhà giữ trẻ cho con em họ; chính vì vậy, mà một hệ lụy tất yếu xảy ra là: cạnh khu công nghiệp, các loại hình nhà trọ nhếch nhác, lộn xộn đang đà phát triển, lấn át “bộ mặt văn minh đô thị”, làm nảy sinh “môi trường tệ nạn xã hội”

Nguyên nhân chủ yếu, trước hết, đó là thiếu sự hợp tác giữa các quy hoạch ngành liên quan khác Chính vì vậy mà xưa nay người ta vẫn phải “xem đất” mỗi khi xây dựng nhà cửa, xây dựng đô thị cũng phải chọn đất: “nhất cận thủy, nhì cận sơn”, xem thế đất, cảnh quan… Nhiều nhà cao tầng bị sụp, bị lún, nghiêng là hậu quả của xem thường khảo sát địa chất, địa tầng, đất đai khi quy hoạch Vùng trũng ngập sâu sẽ ngập sâu hơn khi khí hậu thay đổi, nước biển dâng nhưng lại quy hoạch phát triển đô thị, khu công nghiệp thì thật là điều khó hiểu…

Việc qui hoạch sử dụng đất phải phù hợp với chức năng môi trường của từng vùng, tránh tình trạng vượt quá sức chịu tải ô nhiễm môi trường; khai thác sử dụng tài nguyên đất không vượt quá khả năng đáp ứng của nguồn tài nguyên thiên nhiên là điều quan trọng Cần xem xét lợi ích về kinh tế- xã hội - môi trường trước khi chuyển đổi qui hoạch sử dụng đất Đồng thời, phải dành quỹ đất xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường, bảo tồn

đa dạng sinh học và ứng phó, thích nghi với thiên tai và biến đổi khí hậu

Khu công nghiệp là nơi tập trung các cơ sở sản xuất công nghiệp với nhiều loại hình khác nhau, dù các cơ sở này có công nghệ hiện đại đến mấy cũng đều tác động đến môi trường ở những khía cạnh và mức độ khác nhau (ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, không khí, khói, bụi, tiếng ồn, giao thông, ô nhiễm nhiệt độ, độ ẩm ) làm cho các khu vực xung quanh

bị ảnh hưởng Các nguồn thải công nghiệp gây ô nhiễm môi trường lớn nhất là: nước thải, khí

Trang 6

1.3 Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS), Viễn thám trong đánh giá biến động sử dụng đất đai, môi trường

1.3.1 Một số khái niệm

1.3.2 Phương pháp đánh giá biến động đất đai, môi trường bằng GIS

Đánh giá biến động bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS) hoặc công nghệ Viễn thám có

sự khác biệt cơ bản so với phương pháp thống kê truyền thống GIS có tọa độ không gian, gắn với vị trí của từng đối tượng trên bề mặt trái đất Hơn nữa, bằng chức năng phân tích và xử lý không gian, GIS cho phép phát hiện, xác định mọi loại hình biến động một cách chính xác về

cả chất lượng và số lượng, theo cả không gian của thế giới thực Sản phẩm của GIS trong nghiên cứu biến động bao gồm cả đồ thị, các thông số và đặc biệt là các bản đồ có tọa độ địa

lý thực Nghĩa là GIS có khả năng theo dõi sự biến động theo thời gian thực và không gian thực, điều mà phân tích thống kê không đáp ứng được

1.3.3 Các đề tài, công trình đã nghiên cứu sử dụng GIS để đánh giá biến động đất đai, môi trường trong nước và tại Hải Phòng

Chương 2- ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT

CÁC KHU ĐÔ THỊ, KHU CÔNG NGHIỆP

2.2.4 Bão và các hiện tượng thời tiết đặc biệt

2.3 Đánh giá thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên thành phố Hải Phòng

2.3.1 Thuận lợi

2.3.2 Khó khăn

Trang 7

2.4 Công tác điều tra lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất của thành phố Hải Phòng thời kỳ 2000-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1445/QĐ-TTg ngày 09/11/2001 Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) của thành phố Hải Phòng được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 36/2006/NQ-CP ngày 28/12/2006

Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện: Đã phê duyệt quy hoạch chi tiết và công bố công khai các quận: Hồng Bàng, Lê Chân, Kiến An, Hải An và Đồ Sơn Đến tháng 6/2006 Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của các huyện: Vĩnh Bảo, An Lão, Thuỷ Nguyên, Kiến Thụy và Tiên Lãng

Quy hoạch sử dụng đất cấp xã: Đã có 46 trong số 219 xã, phường, thị trấn đã được lập quy hoạch sử dụng đất năm 2010

Trên cơ sở quy hoạch đất được duyệt Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm giai đoạn 2001- 2005, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất 2006 -

2010 và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 833/QĐ-TTg ngày 23/9/2002 Hàng năm Ủy ban nhân dân thành phố giao cho Sở Tài nguyên & Môi trường xây dựng kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn toàn thành phố làm cơ sở cho việc giao đất, cho thuê đất đối với các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố

2.5 Hiện trạng sử dụng đất và định hướng phát triển các KĐT, KCN

2.5.1 Hiện trạng sử dụng đất và định hướng phát triển các khu đô thị

2.5.1.1 Hiện trạng sử dụng đất các khu đô thị

Thành phố Hải Phòng là đô thị loại I, có 7 quận là: Ngô Quyền, Hồng Bàng, Lê Chân, Hải An, Dương Kinh, Đồ Sơn, Kiến An và 8 huyện ngoại thành là: Kiến Thụy, An Dương, Thủy Nguyên, An Lão, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Cát Hải và huyện đảo Bạch Long Vỹ; Theo số liệu thống kê năm 2010, toàn thành phố có 33.958,31ha đất đô thị, chiếm 22,29% diện tích tự nhiên, phân bố ở 7 quận và 11 thị trấn của các huyện gồm thị trấn: Minh Đức, Núi Đèo, An Dương, An Lão, Trường Sơn, Núi Đối, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Cát Hải, Cát Bà, Bạch Long Vĩ

2.5.1.2 Định hướng phát triển các khu đô thị

Theo Quyết định số 1448/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải Phòng đến năm 2025 và tầm nhìn đến 2050: dân số toàn thành phố khoảng 2.400.000 người; Trong đó đô thị trung tâm là 2.100.000 người và dân số các đô thị vệ tinh là 300.000 người

Trang 8

Quy mô đất xây dựng đô thị đến năm 2015 khoảng: 23.000-24.000 ha, với chỉ tiêu là 145m2/người; Quy mô đất xây dựng đô thị đến năm 2025 khoảng: 47.500 - 48.900ha, với chỉ tiêu là 160m2/người tại đô thị trung tâm; Trong đó đất dân dụng sẽ đạt 17.100ha, với chỉ tiêu

2.5.2.2 Định hướng phát triển các khu công nghiệp

Theo Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt qui hoạch phát triển các khu công nghiệp Việt Nam đến 2015 và định hướng đến năm

2020, trong đó thành phố Hải Phòng có 04 KCN với tổng diện tích là 430ha, đồng thời mở rộng 02 KCN đã có với diện tích là 400ha Ngày 01/02/2008, Thủ tướng Chính phủ đã có điều chỉnh, bổ sung 16 KCN thành phố Hải Phòng trong qui hoạch các KCN Việt Nam đến 2015

và định hướng đến 2020 (công văn số 180/TTg-CN); Ngày 27/7/2011 tại công văn số

1255/TTg-KTN của Thủ tưởng Chính phủ đã đồng ý bổ sụng KCN Cầu Cựu trong danh sách

các KCN trong qui hoạch các KCN Việt Nam (tổng số có 17 KCC được ưu tiên thành lập mới

đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, với tổng diện tích gần 10.000ha)

Chương 3- ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ MÔI TRƯỜNG CÁC KHU ĐÔ THỊ, KHU CÔNG NGHIỆP

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2005-2010

3.1 Biến động sử dụng đất thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005-2010

3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng năm 2005

Theo kết quả tổng kiểm kê quỹ đất tính tới 01/01/2005, tổng diện tích tự nhiên thành

phố Hải Phòng là 152.189 ha, trong đó, thành phố mới sử dụng 79,55% diện tích đất đai, diện

tích đất chưa sử dụng chủ yếu là: đất đồi núi 907,8 ha; đất mặt nước 1078,44ha, đất ven sông 9.916 ha, đất chuyên dùng về dân cư, thuỷ lợi, giao thông, khai thác nguyên liệu chiếm khoảng 14%

3.1.2 Hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng năm 2010

Theo kết quả thống kê đất đai đến ngày 31/12/2010, thành phố Hải Phòng có diện tích

tự nhiên là 152.337,95 ha

3.1.3 Phân tích, đánh giá biến động các loại đất thời kỳ 2005 - 2010

Trang 9

Năm 2000 tổng diện tích tự nhiên của thành phố là 151.077,56 ha, năm 2010 sau khi kiểm kê đất đai, diện tích tự nhiên của thành phố tăng thêm 1.260,39 ha so với năm 2000, nguyên nhân tăng chủ yếu do phù sa bồi đắp, còn lại một phần do đo đạc lại bản đồ địa chính tại 67 xã, thị trấn và đo vẽ bản đồ địa chính đất lâm nghiệp ở huyện Cát Hải

3.2 Biến động sử dụng đất các KĐT, KCN Tp Hải Phòng giai đoạn 2005 - 2010

3.2.2 Biến động sử dụng đất các khu đô thị

Diện tích đất ở đô thị tăng lên tương đối nhiều, đến năm 2010 diện tích đất ở đô thị của thành phố là 4.087,15 ha; tăng 332,96 ha so với năm 2005 và tăng 1.328,24 ha so với năm

2000 Diện tích đất ở tại đô thị tăng lên được chuyển từ các loại đất cụ thể sau: đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp, đất quốc phòng, đất an ninh, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất có mục đích công cộng, đất tôn giáo tín ngưỡng, đất bằng chưa sử dụng

và đất đồi núi chưa sử dụng

3.2.3 Biến động sử dụng đất các khu công nghiệp

Hiện trạng sử dụng đất các khu công nghiệp thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005-

2010 đã có sự biến động; Tổng diện tích các khu công nghiệp, cụm công nghiệp theo qui hoạch năm 2005 là: 5.605ha, năm 2010 là: 23.400 ha; Dự báo đến 2020 là 23.907 ha Như vậy biến động sử dụng đất đô thị, khu công nghiệp năm 2010 so với 2005 là 17.795 ha tăng 76%

3.3 Đánh giá biến động chất lượng môi trường trong sử dụng đất các khu đô thị, công nghiệp thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005-2010

3.3.1 Đánh giá chung: Quá trình phát triển đô thị trong thời gian qua cũng đang bộc

lộ những hạn chế và bất cập:

 Tốc độ phát triển hệ thống hạ tầng giao thông đô thị chậm hơn rất nhiều so với tốc độ

đô thị hoá Diện tích đất giao thông đô thị không đủ, mạng lưới đường giao thông phân bố không đồng đều, không bảo đảm chất lượng; chỉ tiêu về hạ tầng giao thông cũng rất thấp, chỉ đáp ứng được khoảng 35-40% so với nhu cầu cần thiết trong khi phương tiện giao thông của người dân tăng rất nhanh

 Hệ thống cấp nước, thoát nước đều là hệ thống chắp vá giữa khu đô thị cũ và khu đô thị mới, giữa lạc hậu và hiện đại, chất lượng nước cấp chưa đảm bảo tiêu chuẩn nước sạch, tỷ

lệ người dân đô thị được sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn trong khoảng 80%-90% tuỳ theo từng khu vực Khu đô thị chưa có hệ thống thoát nước thải và nước mưa riêng 100% nước thải đô thị chỉ xử lý sơ bộ rồi đổ thải thẳng vào sông, hồ, gây ô nhiễm môi trường nước mặt, môi trường đất và ảnh hưởng đến điều kiện sống của người dân đô thị Hải Phòng có đặc điểm

là địa hình thấp, hệ thống thoát nước đô thị được xây dựng từ rất lâu đời, tuy đã được cải tạo,

Trang 10

nâng cấp nhưng khi mưa xuống, gặp triều cường vẫn xảy ra tình trạng úng ngập thường xuyên, nhất là những đường phố thuộc khu đô thị cũ như Minh Khai, Cầu Đất, Mê Linh

 Dân nghèo đô thị thiếu nhà ở dù với chất lượng nhà ở rất thấp; khoảng cách chênh lệch mức sống giữa đô thị và nông thôn ngày càng lớn…

 Tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích, không có quy hoạch hoặc không theo

kế hoạch, sử dụng đất phân tán, manh mún còn phổ biến là thực tế rất khó có thể đạt được hiệu quả cao trong việc khai thác tiềm năng đất đai

3.3.2 Mô hình hóa hiện trạng môi trường các khu đô thị, công nghiệp thành phố Hải Phòng và đánh giá

Trên kết quả số liệu quan trắc môi trường và phân tích diễn biến môi trường từ quá trình phát triển các khu đô thị, khu công nghiệp thành phố Hải Phòng ảnh hưởng môi trường không khí, nguồn nước mặt, nguồn nước ngầm, môi trường đất thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005-2010 Bằng phương pháp nội suy GIS ta có bản đồ hàm lượng các chất gây ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất tại khu đô thị, công nghiệp thành phố Hải Phòng

3.3.2.1 Chất lượng môi trường không khí

Từ kết quả quan trắc chất lượng không khí Hải Phòng giai đoạn 2006-2010 (lấy 04 thông số đánh giá cơ bản là Bụi TSP, CO, NO2, và SO2 ,) và kết quả trên bản đồ cho thấy kết quả đánh giá và thể hiện trên bản đồ là chính xác Tại thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên chính là điểm nóng về ô nhiễm không khí Tại đây tập trung 02 Nhà máy Xi măng Chinfon và nhà máy Xi măng Hải Phòng, Nhà máy đất đèn và Hóa chất Tràng Kênh, Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng Khói, bụi và hàm lượng các chất gây ô nhiễm môi trường không khí từ các nhà máy này thải ra với lượng lớn Ngoài ra tại các điểm tại khu đô thị, công nghiệp thuộc địa bàn quận Hải An, huyện An Dương và khu vực tập trung các nhà máy thép tại CCN Quán Toan

cũng là các điểm báo động về chất lượng ô nhiễm môi trường không khí

3.3.2.2 Chất lượng môi trường nước mặt (đánh giá chung cho cả chất lượng nước

hồ, sông tại Hải Phòng

a Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước mặt

* Nước thải sinh hoạt

Nước thải sinh hoạt là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nước thành phố Hải Phòng Nước thải sinh hoạt có tải lượng hữu cơ cao, làm cho môi trường nước sông, hồ trên địa bàn thành phố bị ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng Nguyên nhân do cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị không phát triển tương xứng, hầu hết nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý được thải thẳng xuống các mương, hồ, sông trên địa bàn thành phố, làm gia tăng ô nhiễm môi

Trang 11

* Nước thải công nghiệp

Ngoài nước thải sinh hoạt, các dòng sông trên địa bàn thành phố Hải Phòng còn phải tải thêm nguồn nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp Hầu hết nước thải của các nhà máy đều không qua xử lý, mà xả thẳng ra mương, hồ, cống thoát nước khu trung tâm thành phố dẫn đến trên nhiều đoạn sông, hồ, mương thoát nước thường có màu đen đặc, thậm chí có cả chất thải rắn, dầu mỡ, bốc mùi hôi thối

b Diễn biến chất lượng nước các hồ ở đô thị Hải Phòng

Kết quả quan trắc từ năm 2006 đến 2010 cho thấy, hàm lượng BOD5 đo đạc tại các hồ

là từ 3,9-104,7mg/l cao hơn chuẩn 2-7 lần so với QCVN 08:2008 (B1) Trong đợt quan tắc mùa khô, hàm lượng BOD5 cao nhất tại hồ Tiên Nga năm 2007 vượt 171,6 mg/l, tức tăng gấp

45 lần so với TCCP Còn trong đợt quan trắc mùa mưa, lượng BOD5 tại hồ Dư Hàng là cao nhất, trong đó năm 2007 đạt 138 mg/l, gấp 9,2 lần so với TCCP Hàm lượng COD đo đạc tại các hồ vượt từ 4-12 lần tiêu chuẩn hàm lượng amoniac (NH3) trong các hồ vượt QCVN từ 1-

15 lần, cao nhất là tại hồ Dư Hàng Thống kê theo 2 đợt quan trắc cũng cho thấy, lượng COD trong các tháng mùa khô (tháng 3) thấp hơn trong các tháng mùa mưa (tháng 9)

c Diễn biến chất lượng nước các con sông ở thành phố Hải Phòng

Thành phố Hải Phòng hiện chưa có hệ thống thoát nước thải đô thị, nước mưa và nước thải công nghiệp riêng Trên thực tế, không ít các cơ sở sản xuất trên địa bàn các quận/huyện tại Hải Phòng có sông chảy qua luôn xả thải trực tiếp ra sông, gây ô nhiễm nguồn nước đặc biệt nguồn nước ngọt cung cấp cho thành phố như Sông Giá, Sông Rế, Sông Đa Độ Dưới đây là kết quả quan trắc các thông số đặc trưng tại các nhánh sông chính: Cấm, Lạch Tray, Bạch Đằng, Giá, Rế và Đa Độ trong giai đoạn 2006 - 2010

3.3.2.3 Chất lượng môi trường nước ngầm

Nước ngầm ở Hải Phòng có trữ lượng không lớn, với các tầng chứa nước: Tầng chứa nước lỗ hổng trong cát pha, cát lẫn ít sạn sỏi; Tầng chứa nước lỗ hổng trong cát hạt mịn; Tầng chứa nước lỗ hổng trong cát, cuội, sỏi lẫn dăm sạn; Tầng chứa nước khe nứt cuội sạn kết, cát bột kết; Tầng chứa nước khe nứt trong đá vôi với trữ lượng tiềm năng toàn vùng nghiên cứu

là 334.043m3/ngày Tuy nhiên, nguồn nước phân bố không đều, tập trung chủ yếu tại khu vực: Cát Bà, Thủy Nguyên, Kiến An, Kiến Thụy, Đồ Sơn, Tiên Lãng và Vĩnh Bảo

a Các nguồn gây ô nhiễm nước ngầm: Ô nhiễm nước ngầm có ảnh hưởng rất lớn

đến chất lượng môi trường sống của con người Các tác nhân gây ô nhiễm và suy thoái nước

ngầm bao gồm: Nhiễm mặn, nhiễm hữu cơ, nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật:

b Diễn biến ô nhiễm môi trường nước ngầm

Trang 12

Nguồn nước ngầm tại khu vực Hải Phòng có dấu hiệu ô nhiễm Asen, theo kết quả phân tích của Cục quản lý Tài nguyên nước, trong tổng số 5,096 mẫu nước ngầm phân tích Asen trên toàn thành phố Hải Phòng có mẫu nước tại xã Mỹ Đồng (huyện Thủy Nguyên )

bị ô nhiễm nhẹ bởi Asen, có 4,984 mẫu nước dưới 0,01mg/l, 111 mẫu từ 0,01 - dưới 0,025mg/l

Từ các số liệu về quan trắc chất lượng môi trường nước tại 6 con sông chính ở Hải Phòng (sông Lạch Tray, Cấm, Bạch Đằng, sông Giá, Rế, Đá Độ) trong 2 đợt quan trắc: mùa khô (tháng 12) và mùa mưa (tháng 8); Kết quả quan trắc tại các hồ điều hòa trong khu vực nội thành (hồ Sen, Tam Bạc, Tiên Nga, Dư Hàng ) so sánh với các thông số về môi trường: COD, BOD, TSS, dầu mỡ, NH3-N, độ dẫn, độ đục

Hàm lượng COD trên các sông tại Hải Phòng đều đạt mức cho phép của QCVN 08:2008 (B1); duy chỉ tại sông Bạch Đằng vượt TCCP vào năm 2007 Nước sông Bạch Đằng khu vực nội thành có nguy cơ ô nhiễm chất lượng nước với hệ số tai biến 0,84 (9/20 thông số

bị ô nhiễm) Nước các sông khu vực biên giới giáp ranh với các tỉnh của Hải Phòng có biểu hiện ô nhiễm bởi các chất hữu cơ, nitrrit, amoni, dầu mỡ, chì Giá trị DO cũng đạt tiêu chuẩn tại hầu hết các sông

Phần lớn các chỉ tiêu trong nước sông Cấm, sông Lạch Tray đều nằm dưới giới hạn cho phép đối với nguồn nước mặt sử dụng cho mục đích B1 theo QCVN 28:2008 Nước các sông có độ đục, hàm lượng chất rắn lơ lửng TSS, độ mặn tập trung ở các khu vực gần biển Tại tất cả các dòng sông độ mặm và độ dẫn đều có xu hướng giảm dần từ cửa sông đến thượng lưu sông Độ mặm và độ dẫn biến động mạnh ở vùng cửa sông, nhưng tương đối ổn định ở giữa và thượng lưu sông; Độ đục tại đa số các con sông trên địa bàn Hải Phòng có xu hướng tăng dần từ cửa sông đến thượng lưu Những khu vực này thường chịu chịu ảnh hưởng

một phần của thuỷ triều nên thường xuyên bị nhiễm mặn khi triều lên (tại khu vực KCN Đình

Vũ, quận Hải An; KCN Đồ Sơn, quận Dương Kinh)

Tại sông Bạch Đằng đang có dấu hiệu ô nhiễm dinh dưỡng, một số thông số không đạt QCVN 08:2008 (B1) như: nồng độ NH4+

dao động từ 0,17- 0.85 mg/l, trung bình 0,57 mg/l, vượt 1,1 lần QCVN; NO2 dao động từ 0,01- 0,1 mg/l, trung bình 0,05 mg/l, vượt 1,2 lần QCVN; nồng độ NO3-N, NH3-N cũng thể hiện rất rõ trên Hình 3.12, 3.13

Cũng trên sông Bạch Đằng, sông Lạch Tray, sông Cấm các thông số đều thấp hơn QCVN 08:2008 (B1) đối với nguồn nước mặt sử dụng cho mục đích tưới tiêu thuỷ lợi hoặc các mục đích khác Tuy nhiên, vẫn có một vài thông số vượt quá quy chuẩn cho phép như Pb,

độ pH cũng trong tình trạng ô nhiễm

Kết quả phân tích chất lượng nước tại 3 sông Rế, Giá và Đa Độ tại 3 điểm khác nhau phân bố đều từ thượng lưu sông xuống tới vùng gần cửa sông, qua bản đồ cho thấy tại các khu

Ngày đăng: 10/02/2014, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w