1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng

24 915 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An, thành phố Hải Phòng
Tác giả Nguyễn Thị Thuận An
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hà Thành
Trường học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Chuyên ngành Địa chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 492,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An, thành phố Hải Phòng Nguyễn Thị Thuận An Trường Đại

Trang 1

Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại

dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An,

thành phố Hải Phòng Nguyễn Thị Thuận An

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn Thạc sĩ ngành: Địa chính; Mã số: 60 44 80 Người hướng dẫn: TS.Nguyễn Thị Hà Thành

Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Nghiên cứu tổng quan các chính sách, quy định pháp lý về bồi thường, hỗ

trợ,tái định cư của Nhà nước ta từ khi có Luật đất đai 2003 đến nay Thu thập tài liệu,

số liệu về công tác bồi thường, GPMB dự án xây dựng khu đô thị mới tại quận Hải

An Đánh giá, phân tích thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB, và những ảnh hưởng của nó đến người dân bị thu hồi đất Rút ra bài học kinh nghiệm, đề xuất một số giải

pháp cho công tác thu hồi đất, GPMB ở thành phố Hải Phòng hiện nay

Keywords: Thu hồi đất; Địa chính; Giải phóng mặt bằng; Khu đô thị; Hải Phòng

Content

MỞ ĐẦU

Cùng với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH), đô thị hoá (ĐTH) là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Thực tiễn cho thấy ĐTH là hệ quả trực tiếp của quá trình CNH-HĐH, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất công nghiệp, dịch vụ Trong quá trình ĐTH, tiến trình phát triển xã hội

có sự thay đổi cơ bản, đó là phát triển ĐT kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, là sự hình thành các khu đô thị khu công nghiệp (KCN) thay thế cho đất canh tác nông nghiệp Để tạo quỹ đất phục vụ quá trình đô thị hóa, việc thực hiện thu hồi đất, giải phóng mặt bằng cho xây dựng các KCN, KĐT, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia là việc làm tất yếu

Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và đã được các địa phương nỗ lực vận dụng

để giải quyết vấn đề bồi thường, tái định cư, bảo đảm việc làm, thu nhập và đời sống của người dân có đất bị thu hồi Song tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt nơi ở mới, đặc biệt đối với người nông dân bị thu

Trang 2

hồi đất đã và đang diễn ra tại nhiều địa phương Nguyên nhân này một phần do nhiều nơi thực hiện đền bù, tái định cư, đào tạo, giải quyết việc làm cho người dân có đất bị thu hồi còn chưa hợp lý dẫn đến tình trạng khiếu kiện gây mất trật tự an ninh, xã hội Bên cạnh đó, bản thân người dân bị thu hồi đất còn thụ động trông chờ vào nhà nước, chưa tích cực tự đào tạo để đáp ứng với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Không nằm ngoài những vấn đề chung đó, quận Hải An, Thành phố Hải Phòng cũng gặp những vấn đề khó khăn trong công tác giải quyết việc làm và ổn định đời sống cho người dân sau khi bị thu hồi đất Quận Hải An là một quận mới được thành lập năm 2003, trên cơ sở tách một phần địa giới hành chính của huyện Hải An cũ (nay là huyện An Dương) và phường Cát Bi của quận Ngô Quyền, gồm 8 đơn vị hành chính cấp phường; Đằng Lâm, Đằng Hải, Đông Hải 1, Đông Hải 2, Tràng Cát, Nam Hải, Thành Tô và Cát Bi

Tuy nhiên, do diện tích đất nông nghiệp thu hồi cho dự án tương đối lớn nên vấn đề giải quyết việc làm cho người dân sau khi mất đất đã và đang gây ảnh hưởng không nhỏ đối với sinh kế của người nông dân, và là một bài toán khó mà chính quyền địa phương chưa có hướng giải quyết thỏa đáng

Nhằm kịp thời có những đánh giá đúng đắn về ảnh hưởng của dự án, và đưa ra một

số giải pháp hiệu quả cho công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng đối với dự án này, tôi

đã chọn thực hiện đề tài nghiên cứu:“Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng

mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An, thành phố Hải Phòng”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Làm rõ ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng cho dự án xây dựng khu

đô thị mới tới việc làm và thu nhập của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại quận Hải An

- Đề xuất một số giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới nhằm góp phần cải thiện đời sống, việc làm cho người có đất bị thu hồi trên địa bàn nghiên cứu

1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan các chính sách, quy định pháp lý về bồi thường, hỗ trợ,tái định cư của Nhà nước ta từ khi có Luật đất đai 2003 đến nay

- Thu thập tài liệu, số liệu về công tác bồi thường, GPMB dự án xây dựng khu đô thị mới tại quận Hải An

- Đánh giá, phân tích thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB, và những ảnh hưởng của

nó đến người dân bị thu hồi đất

- Rút ra bài học kinh nghiệm, đề xuất một số giải pháp cho công tác thu hồi đất, GPMB ở thành phố Hải Phòng hiện nay

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, GPMB VÀ TÁC ĐỘNG TỚI SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG CÔNG CUỘC ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM

1.1 Vài nét về quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay

1.1.1 Định nghĩa đô thị hóa

Đô thị hóa là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Trong thời đại khoa học – công nghệ phát triển nhanh thì đô thị hóa là con đường giúp cho các nước chậm phát triển rút ngắn thời gian so với các nước đi trước

“Đô thị hóa là một quá trình diễn thế kinh tế - xã hội – văn hóa – không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó diễn ra sự phát triển các nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng không gian thành hệ thống đô thị, song song với việc tổ chức bộ máy hành chính và quân sự” Theo quan điểm trên của Đàm Trung Phường, thì quá trình ĐTH cũng bao gồm sự thay đổi toàn diện về các mặt: khoa học công nghệ, lối sống, mở rộng không gian đô thị, cơ cấu lao động…Tuy nhiên Đàm Trung Phường đã không nói rõ sự chuyển đổi ấy diễn ra theo chiều hướng như thế nào một cách cụ thể, có thể gây ra những nhầm lẫn cho người đọc

1.1.2 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến phát triển kinh tế-xã hội

Trong quá trình CNH-HĐH, tiến trình phát triển xã hội đã có sự thay đổi cơ bản, đó là: Phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, làm thay đổi căn bản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp Hiện tượng đô thị hóa được xem như là một trong những nét đặc trưng nhất của sự biến đổi xã hội trong thời đại hiện nay Cùng với quá trình đô thị hóa , CNH được xem như một khía cạnh quan trọng của sự vận động đi lên của xã hội Đô thị hóa là một quá trình lịch sử trong đó nổi lên một vấn đề kinh tế - xã hội là nâng vao vai trò của trong sự phát triển mọi mặt của xã hội Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong sự phân bố dân cư, trong kết cấu nghề nghiệp – xã hội, kết cấu dân số, trong lối sống, văn hóa

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đối với sản xuất và đời sống con người, sự phát triển nhanh chóng của các đô thị cũng là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến sự gia tăng nhu cầu khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên tự nhiên, trong đó có nguồn tài nguyên nước sạch; gia tăng mức độ ô nhiễm các chất thải công nghiệp và sinh hoạt ngày càng một lớn; sự gia tăng dòng người di dân từ nông thôn ra đô thị cũng gây nên những áp lực đáng kể về nhà

ở và vệ sinh môi trường Đặc biệt, tiến trình ĐTH được đẩy mạnh đồng nghĩa với việc này sinh mâu thuẫn gay gắt giữa vấn đề bảo vệ diện tích đất phục vụ cho công tác xây dựng đô thịvà vấn đề bảo vệ diện tích đất phục vụ sản xuất nông nghiệp Công nghiệp hóa, đô thị phát

Trang 4

triển mạnh cũng đồng nghĩa với quá trình mất đất nông nghiệp gia tăng và một bộ phận người dân bị thu hồi đất bị rơi vào tình trạng dễ bị tổn thương

1.1.3 Thực trạng quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong những năm gần đây

Quá trình đô thị hóa nông thôn ở Việt Nam trong những năm gần đây diễn ra với tốc

độ khá nhanh, làm biến đổi bộ mặt kinh tế, văn hóa, xã hội trên cả nước

ĐTH ở Việt Nam phát triển từ năm 1990, lúc đó cả nước có khoảng 520 đô thị (tỷ lệ

đô thị hóa vào khoảng 17-18%); đến ngày 01/1/1999 (theo cuộc tổng điều tra dân số cả nước)

đã có 624 đô thị với số dân 17,92 triệu người, chiếm 23,5% tổng số dân Đến năm 2000 số đô thị là 649, và năm 2003 đã tăng lên 656 đô thị Kết quả tổng điều tra dân số lao động của Tổng cục thống kê ngày 01/4/2009 cho thấy, cả nước đã có trên 800 đô thị với dân số 25.374,262 người, chiếm 29,5% tổng số dân Theo dự báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam vào năm 2020 sẽ đạt khoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị khoảng trên 45 triệu dân.[2]

Hiện nay, cả nước có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 44 thành phố trực thuộc tỉnh, 45 thị xã và trên 500 thị trấn Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sử tiếp tục được mở mang, nâng cấp, còn xuất hiện ngày càng nhiều các khu đô thị mới tập trung, trong đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng tỏa rộng, tác động mạnh mẽ tới khu vực nông thôn

Chính vì thế,sự phát triển của các thành phố ở Việt Nam đang gặp khó khăn do sự quá tải

về lao động, dân cư, còn thiếu thốn về hệ thống hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ xã hội - nhà ở, điện, nước sạch, giao thông, bệnh viện và trường học chưa được xây dựng tương xứng để đáp ứng được nhu cầu của cư dân Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa nhanh đã gây ra làn sóng di chuyển vào các đô thị để tìm việc làm của số lao động nông thôn bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp, làm cho các đô thị,bản thân đã chưa đủ đáp ứng nhu cầu việc làm, cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội, lại ngày càng trở nên chật chội, đông đúc Bên cạnh đó số nông dân còn lại ở các vùng thôn quê không còn đất sản xuất, chuyển đổi nghề không được, đời sống của họ lâm vào cảnh khó khăn, thất nghiệp

1.2.Thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB ở Việt Nam

* Thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Việt Nam

- Về diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi để phát triển các khu công nghiệp, đô

thị và các công trình công cộng

Theo số liệu điều tra của BNNPTNT năm 2010 tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích đất thổ cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích

Trang 5

đất nông nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác là dưới 0,5% Những địa phương có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20.308ha), Đồng Nai (19.752ha), Bình Dương (16.627ha), Quảng Nam (11.812ha), Cà Mau (13.242ha), Hà Nội (7.776ha), Hà Tĩnh (6.391ha), Vĩnh Phúc (5.573ha).[28]

Bảng 1.2 Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở một số địa phương trên cả nước

(Tính đến tháng 6/2009)

STT Tỉnh, thành phố

Tổng diện tích đất nông nghiệp

Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi

Tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi

(Nguồn: Tổng cục quản lý đất đai, năm 2010)

Nhìn bảng số liệu trên ta thấy BắcNinh là tỉnh có tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi cao nhất, chiếm 70,11% tổng diện tích đất nông nghiệp, các tỉnh, thành như Hà Nội, Vĩnh Phúc,

Hà Nam, Hưng Yên có tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi tương đối cao, khoảng trên dưới 30%; còn ở một số tỉnh như Kiên Giang, Đồng Tháp, có tỷ lệ đất nông nghiệp thu hồi thấp, lần lượt chiếm chỉ khoảng 7,4% và 8,02% tổng diện tích đất nông nghiệp Ở nhiều nơi, mặc dù diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích tự nhiên nhưng hầu hết đất nông nghiệp bị thu hồi tập trung ở một số huyện, xã có mật độ dân số cao, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, có nhiều xã có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm 70-80% diện tích đất canh tác, có nhiều xã chiếm tới 100%, điển hình ở các huyện nằm trong khu vực Hà Nội mở rộng và các xã, huyện được quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị.[5]

Trang 6

Trước tình hình đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng báo động, vào năm 2009, Bộ NNPTNT đã “mạnh tay” đề nghị đưa ra một dự thảo nghị định về quản lý đất lúa nước và phát triển lúa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Theo đó, điều khoản về quy định đền bù trồng đất lúa với mục đích phi nông nghiệp nêu rõ: Đối với vùng đất trồng lúa thích hợp, có

hạ tầng thuận lợi, tiền bồi thường khi thu hồi phải cao gấp đôi giá đất thổ cư ở cùng thời điểm Còn ở vùng đất trồng lúa hạ tầng kém thì tiền thu hồi đất phải cao gấp 3-4 lần giá đền bù của đất nông nghiệp khác Đặc biệt, nhà đầu tư khi thu hồi đất lúa phải bồi thường toàn bộ số tiền đầu tư hạ tầng trên đất đó như các công trình về thủy lợi, điện lưới…

* Thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở thành phố Hải Phòng

Từ năm 2003 đến nay, toàn thành phố đã kiểm kê, lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho 625 dự án với tổng diện tích 4.675 ha; tổng số hộ 64.037 hộ, số nhân khẩu 253.012 nhân khẩu, tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 3.738 tỷ đồng, trong đó hỗ trợ ổn định cuộc sống và chuyển nghề lao động trị giá hàng trăm tỷ đồng

Bộ mặt đô thị có nhiều thay đổi, cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội được quan tâm đầu tư theo hướng đạt tiêu chuẩn đô thị loại I Bước đầu, việc phát triển đã tạo việc làm hàng năm cho trên 4 vạn lao động Tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố giảm còn 6,12%.[34]

Nhìn chung công tác bồi thường,GPMB của thành phố Hải Phòng trong thời gian qua

đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất cho các dự án đầu tư, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần tăng trưởng nền kinh tế - xã hội của thành phố; tạo ra một diện mạo mới cho quá trình đô thị hóa của thành phố với việc phát triển số lượng quận nội thành lên 08 quận, đặc biệt tạo ra một số khu đô thị mới có cảnh quan đẹp như Khu đô thị Ngã 5 – Sân bay Cát Bi và tương lai gần là Khu đô thị Olympia và một số khu đô thị khác

Phần lớn số dự án khi thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ đều phát sinh đơn thư kiến nghị, khiếu kiện ở mức độ khác nhau về chính sách bồi thường, hỗ trợ do vậy cơ quan nhà nước phải mất rất nhiều thời gian và công sức giải quyết Một số phương án cán bộ làm thiếu trách nhiệm phải bổ sung nhiều lần, việc giải quyết khiếu nại chưa thấu tình đạt lý, không kịp thời, còn có tư tưởng đùn đẩy nên kéo dài không dứt điểm của tổ chức làm công tác bồi thường,GPMB và của chính quyền địa phương làm tăng thêm nghi ngờ, bức xúc cho người bị thu hồi đất có khiếu nại Mặt khác, việc thiếu hiểu biết về chính sách pháp luật của một số hộ dân, do bị lôi kéo, kích động của đối tượng xấu là nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện đông người

1.3 Vấn đề sinh kế và những tác động của việc thu hồi đất tới sinh kế của người dân

Trang 7

1.3.1 Khái niệm về sinh kế

Sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai hay phương kế kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó

Khái niệm về sinh kế có thể miêu tả như là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người có thể kết hợp được với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu và ước nguyện

Để nghiên cứu những vấn đề phát triển cộng đồng và sinh kế nông thôn, hiện nay người ta sử dụng khái niệm Sinh kế và Khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ Hợp tác

phát triển Quốc tế Anh (DIFD): “Sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng còn gọi là

kế sinh nhai hay phương cách kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó Khái niệm về sinh kế có thể miêu tả như là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người có thể kết hợp được với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu và ước nguyện (tham vọng) của họ” [2]

Xuất phát từ những khái niệm trên ta có thể thấy sinh kế là dùng để chỉ kế sinh nhai hay phương cách kiếm sống của một hộ dân hay một cộng đồng, mà ở đây đối tượng sẽ là cộng đồng nông dân bị thu hồi đất do phát triển công nghiệp và đô thị ở các vùng nông thôn

Một kế sinh nhai được gọi là bền vững khi con người với khả năng của mình có thể đối phó, phục hồi lại được sinh kế của mình sau các áp lực và những tổn thương (từ các cú sốc, từ các khuynh hướng và từ thay đổi của kỳ vụ) và đồng thời có thể duy trì hoặc thậm chí nâng cao khả năng nguồn lực con người và thiên nhiên

1.3.2 Các nguồn lực để đảm bảo sinh kế

DFID cũng đưa ra một khung lý thuyết sinh kế bền vững trong đó chỉ ra rằng con người muốn đảm bảo sinh kế cho mình thì phải dựa vào 5 loại hình tài sản vốn sau:

-Vốn con người (Human capital)

-Vốn tài chính (financial capital)

- Vốn vật chất (physical capital)

- Vốn xã hội (social capital)

-Vốn tự nhiên (natural capital)

Sinh kế muốn bền vững thì sẽ phải đảm bảo 5 nguồn lực được cụ thể hóa như sau:

1.3.3 Thực trạng sinh kế của người nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam

Nông dân nước ta chiếm 69,5% tổng dân số cả nước Lao động nông nghiệp chiếm 55,7% tổng lao động xã hội và đóng góp tới gần 21% GDP của cả nước Chính vì thế, người nông dân có vị trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế đất nước và sinh kế nông thôn, là bộ

Trang 8

phận chính cấu thành của nền kinh tế cả nước Nếu vấn đề sinh kế nông thôn không tốt thì đời sống một bộ phận lớn dân cư trong xã hội (chủ yếu là người nông dân) sẽ không được đảm bảo, tức là khả năng sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội sẽ bị hạn chế Thế nhưng, dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở nước ta trong những năm gần đây, sinh kế của một bộ phận nông dân đang gặp rất nhiều khó khăn và thiếu bền vững

Điều đáng lo là chỉ có khoảng trên 27% lao động bị thu hồi đất đã tốt nghiệp phổ thông, 14% được đào tạo nghề ngắn hạn Đặc biệt, số lượng lao động quá tuổi tuyển dụng (trên 35 tuổi) chiếm rất đông và hầu như ít có hy vọng tìm được việc làm tốt trong ngành công nghiệp – dịch vụ

Người nông dân có duy nhất đất nông nghiệp là công cụ sản xuất, khi bị thu hồi đất rồi thì người ta không còn công cụ sản xuất nữa Chính vì vậy mà nhu cầu chuyển đổi việc làm là rất cần thiết Những người đang trong độ tuổi lao động phải đi tìm lấy một nghề để học và đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp Người nông dân phải tự vay kinh phí từ các chương trình và tự học nghề sau đó họ tự tạo việc làm Các huyện ngoại thành, các ngành nghề chưa phát triển lắm, phần lớn là thuần nông cho nên có sự chênh lệch về trình độ đào tạo, giáo dục phổ thông so với người dân trong nội thành Ngoài ra, các cơ sở dạy nghề tại khu vực nông thôn còn ít [28]

Chương 2 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ

DỰÁN XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ MỚI QUẬN HẢI AN 2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội quận Hải An

Quận Hải An được thành lập theo Nghị định số 106/NĐ-CP ngày 20/12/2002 của Chính Phủ trên cơ sở sát nhập 05 xã của huyện An Hải và 01 phường của quận Ngô Quyền (đến nay tách ra làm 08 đơn vị hành chính cấp phường: Đằng Lâm, Đằng Hải, Tràng Cát, Nam Hải, Cát Bi, Thành Tô, Đông Hải 1 và Đông Hải 2) Vì vậy kinh tế xã hội, cơ sở vật chất của quận mang dáng dấp của một huyện nhiều hơn là của quận nội thành Tổng diện tích đất

tự nhiên của quận Hải An là 10.484,29ha, với tổng số dân là 104.070 người Quận Hải An nằm ở phía Đông Nam thành phố Hải Phòng

Với vị trí như vậy, quận Hải An có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, phát triển các

đô thị mới hiện đại, đồng bộ, tiếp nhận trực tiếp tiến bộ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và thông tin, góp phần xây dựng một thành phố cảng hiện đại

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đô thị hóa giai đoạn 2005-2010

- Lao động: Tính đến năm 2010 quận Hải An có 70.037 người trong độ tuổi lao

độngchiếm 82,39% dân số của quận So với năm 2005,số người trong độ tuổi lao động của

Trang 9

quận tăng 8.758 người tương đương với 18,91% Trong đó 4.572 lao động không có việc làm chiếm 6,53%, lao động có khả năng tham gia các hoạt động kinh tế là 64.108 lao động

Sở dĩ có sự chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành một cách mạnh mẽ như vậy là do trong những năm gần đây quá trình thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế xã hội của quận Hải

An diễn ra một cách mạnh mẽ Trong vòng 5 năm từ 2005-2010 đã có 538,15ha đất nông nghiệp bị chuyển mục đích sử dụng sang các loại đất khác.Một bộ phận lao động trong ngành nông lâm, thủy sản đã không còn đất để canh tác nên phải chuyển đổi sang ngành nghề khác Bên cạnh đó quá trình

đô thị hóa nhanh nên hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của quận ngày càng hoàn thiện, nhiều công trình trọng điểm của thành phố được triển khai như đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, khu đô thị Ngã

5 sân bay Cát Bi, khu công nghiệp Tràng Cát, Khu Kinh tế Đình Vũ – Cát Hải là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước và quốc tế đầu tư sản xuất Điều này tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho lao động của quận

2.1.2.2.Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của quận

Kể từ khi thành lập quận đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tăng khá

nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp và xây dựng

Bảng 2.2 Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế quận Hải An

qua các năm 2005, 2008, 2010

GDP (tỷ đồng)

(Nguồn số liệu: Phòng Thống kê quận Hải An, năm 2010)

Có thể nói, quận Hải An có cơ cấu kinh tế gần tương tự như đặc trưng của một quận nội thành: công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ, với tỷ trọng ngành nông nghiệp và dịch vụ gần tương đương nhau Tuy nhiên trên thực tế,tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng chưa thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng, ngành dịch vụ vẫn còn nhỏ lẻ, mang tính nội vùng;

Những lợi thế về du lịch, về nông nghiệp sinh thái, về thủy sản có nhiều nhưng chưa được khai thác

2.1.2.3.Quá trình phát triển sản xuất từng ngành kinh tế tại quận Hải An

Trang 10

Ngành nông nghiệp, thủy sản của quận năm 2005 giá trị sản xuất là 160,71 tỷ đồng Trong đó trồng trọt là 64,3 tỷ đồng, chăn nuôi là 40,11 tỷ đồng, thủy sản là 56,3 tỷ đồng Năm

2010 giá trị sản xuất 248,23 tỷ đồng trong đó trồng trọt là 86,7 tỷ đồng, thủy sản là 125,2 tỷ đồng, chăn nuôi 36,33 tỷ đồng

2.1.2.4 Thực trạng cơ sở hạ tầng đô thị

Nhìn chung mạng lưới giao thông trên địa bàn quận có chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàn hóa của nhân dân Tuy nhiên cũng có nhiều đoạn đường nền đường còn chật hẹp, không có vỉa hè hoặc vỉa hè quá hẹp, có rất nhiều ngõ, ngách quá chật chội, ảnh hưởng khá nhiều đến việc đi lại của người dân

Hệ thống thủy lợi quận Hải An có nhiệm vụ chủ yếu là tưới tiêu, thau chua rửa mặn, cải tạo đất phục vụ nông nghiệp, phòng chống lụt ven sông, ven biển và cung cấp một phần nước ngọt cho công nghiệp, sinh hoạt Toàn quận có 10 tuyến kênh mương với tổng chiều dài gần 400km cùng với trạm bơm và 60 cống đập thủy lợi Tuy nhiên, hiện nay, các công trình

thủy lợi đều đã xuống cấp

Hệ thống thông tin liên lạc: quận có 1 tổng đài phát thanh với trang thiết bị hiện đại,

có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu cập nhật thông tin văn hóa xã hội của người dân Bên cạnh

đó, tại các phường đều có đài phát thanh thì hệ thống bưu điện của quận cũng rất phát triển góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội Quận có một trung tâm bưu điện và 100% phường có điểm bưu điện văn hóa Mạng lưới điện thoại, internet đến nay đã phủ kín toàn quận

2.2 Tình hình sử dụng và biến động đất đai của quận Hải An giai đoạn 2005-2010

Trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010 cơ cấu diện tích đất nông nghiệp giảm từ 38,07% xuống còn 32% Trong khi đó, diện tích đất ở đô thị tăng từ 6,6% lên 6,97%, đất chuyên dùng tăng mạnh từ 17,18% lên 32,85%, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp cũng tăng mạnh từ 5,13% lên 18,86%, đất có mục đích công cộng tăng từ 6,23% lên 7,86% Tổng diện tíchđất tự nhiên của quận giảmđi là do năm 2009 điều chỉnhđịa giới hành chính giữa quận Hải An và quận Ngô Quyền, Phầnđất giáp danh 0.04ha đất giữa phườngĐông Hải

1 quận Hải An đãđược bàn giao sang cho phườngĐông Khê quận Ngô Quyềnđể thuận tiện cho việc quản lý và sử dụng

Nguyên nhân biến động chính đối với việc sử dụng đất của quận Hải An là do chuyển đổi mục đích sử dụng đất dành cho việc phát triển kinh tế xây dựng công nghiệp và dịch vụ

về cơ bản đảm bảo phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt.Tình hình sử dụng đất nông nghiệp đã có nhiều chuyển biến Một lượng lớn đất nông nghiệp chuyển sang mục đích đất chuyên dùng và đất ở Cơ cấu kinh tế nông

Trang 11

nghiệp có bước chuyển dịch đáng kể giữa các ngành trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, trong đó nuôi trồng thủy sản được chuyển đổi mạnh nhất Việc chuyển dịch vùng trũng sang nuôi trồng thủy sản và phát triển kinh tế được quan tâm chỉ đạo đạt hiệu quả kinh tế cao và tạo việc làm cho người lao động Bên cạnh đó, mặt hạn chế là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng chưa mạnh, diện tích các loại cây công nghiệp hàng năm, diện tích trồng hoa (làng hoa Đằng Hải) chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của quận.Ngoài ra việc chuyển đối mục đích sử dụng đất nông nghiệp một cách ồ ạt cũng có nhiều tác động chưa tốt tới đời sống của người nông dân nơi đây Đối với một quận mới thành lập như quận Hải An có một bộ phận lớn người dân sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp Khi đất nông nghiệp bị mất đi thì vấn đề tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động nông nghiệp cũng là một bài toán khó đối với cơ quan chính quyền nơi đây

Từ năm 2003 đến nay có 145 dự án phục vụ quá trình đô thị hóa được triển khai trên địa bàn quận Hải An trong đó một số dự án thu hồi với diện tích lớn như: dự án xây khu trung tâm hành chính quận Hải An năm 2005 với diện tích 4,1ha, dự xây dựng khu tái định cư Đằng Lâm năm 2007 diện tích 3,7ha, dự án xây dựng trung tâm thương mại Phương Mai diện tích 1,1 ha, dự án xây dựng trụ sở chi nhánh công ty cấp nước năm 2010 diện tích 3000m2…Riêng đối với dự án xây dựng khu đô thị mới tại quận Hải An được triển khai năm

2008 với diện tích thu hồi là 43.489m2 Dự án thu hồi 3.361m2

đất nông nghiệp tại phường Đằng Hải

Đất ở được quản lý chặt chẽ và hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu đất ở so với sự gia tăng dân số của quận song việc thực hiện quy hoạch đất ở vẫn còn lộn xộn, việc tự ý chuyển đổi sang các loại đất khác vẫn còn diễn ra

2.2.3.2 Công tác bồi thường, GPMB quận Hải An năm 2011

- Những kết quả đạt được

Hiện nay, quận đã giải quyết xong những vướng mắc tồn tại kéo dài như một số dự án

Hồ điều hòa Cát Bi, đường liên quận Hải An, bệnh viện đa khoa quận Hải An, giao đất cho công ty cổ phần cơ khí Việt Long, Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới, khu Tái định cư phường Đằng Lâm…

- Những vấn đề tồn tại vướng mắc

Trong quá trình thực hiện công tác bồi thường năm 2010 Ủy ban nhân dân quận, Hội đồng bồi thường, giải phóng mặt bằng quận và Ủy ban nhân dân các phường nơi có đất thu hồi đã có nhiều cố gắng, tập trung nhiều thời gian để giải quyết và đạt được nhiều kết quả nhất định nhưng vẫn còn những tồn tại vướng mắc Tiến độ thực hiện còn chậm chư đáp ứng

Trang 12

được yêu cầu đề ra Nhiều dự án kéo dài thời gian thực hiện làm ảnh hưởng đến các nhà đầu

tư và hiệu quả đầu tư và chỉnh trang đô thị như các khu đô thị mới Ngã 5 sân bay Cát Bi, dự

án xây dưng tuyến đường Lạch Tray Hồ Đông, dự án trường cấp 3 Hải An, dự án xây dựng khu Trung cư tại phường Thành Tô…Hầu hết các dự án lớn nhỏ đều gặp khó khăn trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng

2.3 Khái quát về dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An

Dự án xây dựng Khu đô thị mới tại quận Hải An do Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng

và Phát triển nhà làm chủ đầu tư là một dự án quan trọng của thành phố Hải Phòng năm 2008,

là một trong những dự án trọng điểm nhằm phát triển cơ sở hạ tầng đô thị của quận Hải An Đây là một trong những dự án trọng điểm phát triển cơ sở hạ tầng của quận Hải An Khu đô thị mới bao gồm các khu đất xây dựng nhà biệt thự kiểu dáng hiện đại cùng với 4 toà nhà cao tầng để phục vụ cho nhu cầu về nhà ở cho người dân có thu nhập thấp, hệ thống giao thông tĩnh là các bãi đỗ xe được bố trí trên diện tích mương An Kim Hải nằm trong dự án sau khi đã được xây dựng cống hộp kiên cố đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường trong khu đô thị Như vậy, sau khi dự án được thực hiện và hoàn thành các hạng mục sẽ tạo ra quỹ nhà ở để phục vụ công tác an sinh xã hội cho những hộ gia đình có thu nhập thấp và tạo ra một khu đô thị hoàn chỉnh, đồng bộ với kiểu dáng hiện đại và khép kín với đầy đủ các dịch vụ công cộng Việc thực hiện dự án sẽ là một trong những điểm nhấn về cảnh quan đô thị hiện đại trên địa bàn quận Hải An

XUẤT GIẢI PHÁP 3.1.Thực trạng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, số tiền bồi thường và hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất

Ngày đăng: 10/02/2014, 15:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở một số địa phương trên cả nước - Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Bảng 1.2. Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở một số địa phương trên cả nước (Trang 5)
Bảng 2.2. Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế quận Hải An - Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Bảng 2.2. Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế quận Hải An (Trang 9)
Hình 3.2.Biểu đồ thể hiện bình quân số tiền bồi thường, hỗ trợ cho mỗi hộ dân theo các - Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Hình 3.2. Biểu đồ thể hiện bình quân số tiền bồi thường, hỗ trợ cho mỗi hộ dân theo các (Trang 13)
Bảng 3.1.Số hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp - Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Bảng 3.1. Số hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp (Trang 13)
Hình 3.4. Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động phân theo trình độ văn hóa - Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Hình 3.4. Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động phân theo trình độ văn hóa (Trang 14)
Bảng 3.3.  Mức tiền bồi thường đất của các hộ dân - Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Bảng 3.3. Mức tiền bồi thường đất của các hộ dân (Trang 14)
Hình 3.5. Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động theo việc làm của các hộ dân trước và sau khi - Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Hình 3.5. Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động theo việc làm của các hộ dân trước và sau khi (Trang 16)
Bảng 3.9. Phương thức sử dụng tiền bồi thường các hộ dân sau khi bị thu hồi đất - Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an, thành phố hải phòng
Bảng 3.9. Phương thức sử dụng tiền bồi thường các hộ dân sau khi bị thu hồi đất (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w