Đánh giá ảnh hưởng của nước thải khu công nghiệp Lưu Xá tới hàm lượng kim loại nặng trong nước và trầm tích sông Cầu Phạm Thị Nga Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn ThS ngành: K
Trang 1Đánh giá ảnh hưởng của nước thải khu công nghiệp Lưu Xá tới hàm lượng kim loại nặng trong nước và trầm tích sông Cầu
Phạm Thị Nga
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn ThS ngành: Khoa học môi trường; Mã số: 60 85 02
Người hướng dẫn: PGS.TS Lê Đức
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Trinh bày hiện trạng chất lượng nước mặt và trầm tích sông Cầu khu
vực trước và sau điểm hợp lưu suối Cam Giá, hiện trạng nước mặt phụ lưu suối Cam Giá; hiện trạng chất lượng nước thải của các nhà máy trong khu công nghiệp Thống kê các nguồn nước thải sản xuất chính, tính toán thải lượng của một số kim loại nặng (Pb, Cd, Zn) phát sinh từ quá trình sản xuất của các nhà máy; hiện trạng
xử lý và xả thải nước thải sản xuất trong khu công nghiệp ; Đánh giá diễn biến của một số kim loại nặng trong nước (Cd, Pb, Zn) và trầm tích theo thời gian, không gian và liên hệ với tình trạng sản xuất và xả thải của khu công nghiệp Đề xuất biện pháp quản lý môi trường trong hoạt động sản xuất khu công nghiệp Lưu
Xá nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm nước và trầm tích sông Cầu
Keywords: Khoa học môi trường; Ô nhiễm nước; Nước thải
Content
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, chất lượng nước tại sông Đồng Nai, sông Cầu, sông Nhuệ và sông Đáy đã bị ô nhiễm Kết quả khảo sát cho thấy, gần 70% trong số hơn một triệu m3 nước thải mỗi ngày từ các khu công nghiệp được xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận mà không qua xử lý đã gây ô nhiễm môi trường Trong khi
đó, tỷ lệ các khu công nghiệp đi vào hoạt động có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm khoảng 43% Lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy và sông Cầu (đoạn chảy qua thành phố Thái Nguyên) nhiều chỉ tiêu chất lượng không đạt giới hạn B1
Theo các báo cáo đánh giá hiện trạng môi trường từ năm 2005 đến năm 2009; báo cáo kết quả triển khai Đề án sông Cầu; báo cáo xây dựng hệ thống quan trắc của tỉnh Thái Nguyên và số liệu quan trắc hiện trạng môi trường từ năm 2005 đến năm 2010 cho thấy chất lượng nước mặt sông Cầu, đoạn chảy qua địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã có những biểu hiện ô nhiễm rõ rệt bởi các kim loại nặng do các nguồn nước thải từ khu
Trang 2công nghiệp Lưu Xá Đặc biệt, hàm lượng kim loại nặng tích luỹ trong trầm tích sau điểm tiếp nhận nước thải từ khu công nghiệp Lưu Xá cao gấp hàng trăm lần so với trầm tích trước điểm tiếp nhận nước thải
Vì vậy, Học viên chọn đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của nước thải khu công
nghiệp Lưu Xá tới hàm lượng kim loại nặng trong nước và trầm tích sông Cầu”
Nhằm góp phần làm rõ tác động của các kim loại nặng từ nước thải Khu công nghiêp Lưu Xá tới chất lượng nước trầm tích sông Cầu, hỗ trợ cho công tác bảo vệ môi trường tại địa phương Mục tiêu cụ thể của đề tài là:
- Đánh giá mức độ ô nhiễm kim loại nặng và hiện trạng môi trường nước mặt, trầm tích sông Cầu trước và sau điểm tiếp nhận nước thải khu công nghiệp Lưu Xá
- Đánh giá hiện trạng xả thải của khu công nghiệp và tính toán thải lượng của một
số kim loại (Pb, Zn, Cd) từ hoạt động sản xuất của các nhà máy trong khu công nghiệp Lưu Xá
- Đánh giá mối liên hệ giữa hàm lượng kim loại trong nước và trầm tích sau điểm tiếp nhận nước thải khu công nghiệp Lưu Xá với tình hình sản xuất của khu công nghiệp trong những năm qua
- Đề xuất các biện pháp quản lý bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất Khu công nghiệp
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nguồn nước thải sản xuất từ Khu công nghiệp Lưu Xá và nước mặt suối Cam Giá trước và sau điểm tiếp nhận nước thải, nước mặt và trầm tích sông Cầu trước và sau điểm hợp lưu với suối Cam Giá
Trang 3Hình 2.2: Phạm vi khu vực nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp điều tra, thống kê, thu thập tài liệu
Chủ yếu là các tài liệu, số liệu, bản đồ, các công trình nghiên cứu có liên quan
đến khu vực nghiên cứu Tài liệu thu thập được xử lý, lập thành bảng biểu, đồ thị và
phân tích, phân loại để từ đó xác định những vấn đề cần đánh giá
Khu vực nghiên cứu
S Cam Giá
Trang 42.2.2 Phương pháp định mức sản phẩm và một số chất thải theo nguyên liệu
Phương pháp này định mức sản phẩm và một số loại chất thải phát sinh ra khi
đưa một đơn vị nguyên liệu đầu vào
2.2.3 Phương pháp tính toán thải lượng
Tính toán thải lượng các chất ô nhiễm căn cứ vào hàm lượng các chất ô nhiễm từ
số liệu phân tích và lưu lượng dòng thải
2.2.4 Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm
Gồm các hoạt động khảo sát hiện trường, lấy mẫu thực tế Qua khảo sát thực tế tại các điểm dự kiến lấy mẫu, qua các yêu cầu về chất lượng mẫu và các chỉ tiêu cần phân tích,
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiện trạng chất lượng môi trường khu vực nghiên cứu
3.1.1 Hiện trạng chất lượng nước mặt
Nước mặt khu vực nghiên cứu gồm suối Cam Giá và sông Cầu Suối Cam Giá là suối tiếp nhận toàn bộ nước thải sinh hoạt khu dân cư phường Cam Giá, nước thải sản xuất công nghiệp khu công nghiệp Lưu Xá sau đó hợp lưu với sông Cầu Kết quả quan trắc như sau:
Nước mặt suối Cam Giá có môi trường trung tính (pH dao động trong khoảng 7,1-7,2), ôxy hòa tan không lớn (dao động từ 4,0-4,2), trước điểm tiếp nhận nước thải không ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng nhưng bị ô nhiễm vi sinh, giá trị coliform vượt hơn 1 lần so với QCVN 08:2008/BTNMT cột B1 Đoạn suối Cam Giá sau khi tiếp nhận nước thải sản xuất của khu công nghiệp bị ô nhiễm cao thành phần hữu cơ, kim loại nặng và vi sinh: BOD5, COD, Cd, Pb, Phenol và Coliform đều vượt hơn 1 lần, amoni vượt hơn 2 lần so với QCVN 08:2008/BTNMT cột B1
Như vậy, chất lượng nước mặt suối Cam Giá sau khi tiếp nhận nước thải sản xuất của khu công nghiệp Lưu Xá giảm đi đáng kể so với đoạn trước, nước bị ô nhiễm hợp chất hữu cơ, dinh dưỡng và kim loại nặng (cụ thể là kim loại Pb, Cd) Đây là các thành phần có hàm lượng rất cao trong nước thải sản xuất của khu công nghiệp Chất lượng nước suối khu vực này không đảm bảo sử dụng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi
Trang 5Sông Cầu: Theo kết quả phân tích, nước mặt sông Cầu trước điểm hợp lưu của
suối Cam Giá không bị ô nhiễm, nước có môi trường trung tính, ôxy hòa tan lớn, các chỉ tiêu phân tích đều đạt QCVN 08:2008/BTNMT cột B1, chất lượng nước khu vực đảm bảo sử dụng cho mục đích tưới tiêu thuỷ lợi Ở đoạn sau điểm hợp lưu của suối Cam Giá, hầu hết các thông số môi trường trong nước sông Cầu đều tăng lên nhưng chỉ có Pb
là vượt tiêu chuẩn cho phép hơn 1 lần Chất lượng nước khu vực sau hợp lưu suối này cũng không đảm bảo sử dụng mục đích tưới tiêu thủy lợi
Tổng hợp kết quả phân tích theo mùa cho thấy, hầu hết các hợp chất hữu cơ, dinh dưỡng tăng lên vào mùa khô nhưng một số kim loại nặng lại tăng nhẹ vào mùa mưa Mặt khác, hầu hết các thông số ô nhiễm có xu hướng giảm nhẹ theo thời gian, nước mặt suối Cam Giá trước điểm tiếp nhận nước thải còn tương đối tốt, đảm bảo sử dụng mục đích tưới tiêu thủy lợi, nhưng sau điểm tiếp nhận nước thải đến trước khi hợp lưu với sông Cầu nước đã bị ô nhiễm nặng, các thông số về hữu cơ, dinh dưỡng và kim loại nặng như Pb, Cd và Zn đều vượt tiêu chuẩn cho phép Các chất ô nhiễm này cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng nước sông Cầu đoạn sau khi hợp lưu suối Cam Giá Các kết quả phân tích thu được cho thấy, nước mặt sông Cầu trước khi hợp lưu suối này vẫn còn khá tốt, đảm bảo sử dụng mục đích tưới tiêu thủy lợi Nhưng sau điểm hợp lưu, chất lượng nước giảm xuống, các thông số đều tăng lên trong đó Pb vượt tiêu chuẩn cho phép hơn 1 lần làm cho nước sông Cầu đoạn này không đảm bảo sử dụng mục đích tưới tiêu thủy lợi
3.1.2 Hiện trạng chất lượng nước thải trong khu công nghiệp Lưu Xá
Nhà máy Cốc Hóa: Nước thải nhà máy cốc hóa phát sinh từ quá trình dập cốc và làm mát thiết bị, nước thải chứa thành phần chủ yếu là hợp chất hữu cơ, amoni, phenol, tổng dầu mỡ, xianua Tuy nhiên, nước thải sau khi qua hệ thống xử lý chỉ còn có amoni
và phenol vượt tiêu chuẩn xả thải theo QCVN 40:2011/BTNMT cột B hơn 1 lần Các kim loại nặng như Pb, Zn và Cd và các thông số khác ở mức thấp hơn giới hạn phát hiện của phương pháp
Nhà máy luyện gang: Nước thải nhà máy Luyện gang phát sinh từ quá trình dập bụi lò cao và làm mát xỉ Nước thải từ quá trình làm mát xỉ sau khi qua xử lý chất lượng tương đối tốt, hầu hết các thông số đều đạt tiêu chuẩn cho phép Nước thải từ quá trình làm mát xỉ ô nhiễm rất cao chất rắn lơ lửng, kim loại nặng và xianua, loại nước này được được xử lý nhưng không hiệu quả, được đưa tuần hoàn trở lại sản xuất Tuy nhiên,
do hệ thống xử lý không đảm bảo, bùn thải (chất thải nguy hại) để rơi vãi và theo dòng nước mưa chảy tràn và hòa vào nước thải làm mát xỉ rồi thải ra ngoài môi trường Kết
Trang 6quả phân tích cho thấy, hàm lượng Cd, Pb đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ hơn 1 lần đến hơn 2 lần Đây là nguồn chính gây ô nhiễm kim loại nặng cho suối Cam Giá và Sông Cầu
Nước thải nhà máy luyện thép Lưu Xá: Nước thải nhà máy luyện thép Lưu Xá chủ yếu phát sinh từ quá trình làm mát thiết bị nên bản chất nước thải chỉ ô nhiễm nhiệt Tuy nhiên, do công nghệ sản xuất quá cũ, hệ thống xử lý khí bụi không hiệu quả đã phát tán bụi lò rơi vãi (đây là nguồn chứa cao hàm lượng các kim loại nặng) và theo dòng nước mưa chảy tràn vào cùng hệ thống xả thải, làm cho hàm lượng các kim loại nặng trong nước thải tăng lên nhưng không vượt tiêu chuẩn cho phép Nước thải của nhà máy Luyện thép Lưu Xá không bị ô nhiễm theo QCVN 40:2011/BTNMT mức B
Nước thải nhà máy cán thép Lưu Xá và cán thép Thái Nguyên chứa cao hàm lượng dầu mỡ, chất rắn lơ lửng Tuy nhiên, nước thải sau khi qua xử lý đạt tiêu chuẩn xả thải theo QCVN 40:2008/BTNMT cột B
Nước thải công ty CP vật liệu chịu lửa phát sinh từ quá trình dập bụi, nước thải chỉ chưa tổng chất rắn (chủ yếu bùn sét), loại nước thải sau khi qua hệ thống xử lý và đạt tiêu chuẩn xả thải
Nước thải của công ty CP hợp kim sắt gang thép cũng phát sinh chủ yếu từ quá trình làm mát thiết bị, nước thải không bị ô nhiễm nhưng cũng chứa kim loại nặng
Nước thải của công ty CP cơ khí gang thép phát sinh từ quá trình làm mát, nước thải không bị ô nhiễm nhưng cũng chứa kim loại nặng Từ năm 2011, đơn vị này tuần hoàn 100% nước thải trở lại sản xuất, không thải nước thải ra ngoài môi trường
Như vậy, dựa theo kết quả phân tích nước thải của các đơn vị trong khu công nghiệp Lưu Xá, chúng tôi sẽ quan tâm đánh giá diễn biến hàm lượng kim loại nặng Pb,
Cd và Zn trong nước thải và tính toán thải lượng ô nhiễm của ba kim loại này đối với các đơn vị xả nước thải ra ngoài môi trường, có chứa các kim loại nặng này trong nước thải Đó là nước thải của các nhà máy: Nhà máy luyện Gang, nhà máy luyện thép lưu Xá
và Công ty CP hợp kim sắt gang thép Thái Nguyên
a/ Nhà máy luyện gang
Kết quả phân tích cho thấy, hàm lượng kim loại nặng Pb, Cd và Zn trong nước thải dập bụi chưa qua xử lý rất cao Pb lên tới 39,908mg/l và vượt tiêu chuẩn 79,8 lần,
Zn lên tới 102,73mg/l vượt 34,2 lần và Cd lên tới 0,239mg/l và vượt 2,4 lần QCVN 40:2011/BTNMT cột B Tuy nhiên, sau khi qua hệ thống lắng lọc, hàm lượng các kim
Trang 7loại này đã giảm đi rất nhiều nhưng vẫn không đạt tiêu chuẩn xả thải Loại nước thải này được nhà máy tuần hoàn trở lại sản xuất 100% từ năm 2010
Nguồn nước thải thứ hai là nước thải làm mát xỉ, loại nước này đặc thù ô nhiễm không cao so với nước thải dập bụi lò cao, nước thải vẫn chứa các kim loại như Pb, Zn
và Cd nhưng ở mức ở mức dưới tiêu chuẩn
Kết quả phân tích cho thấy, các chất ô nhiễm trong nước thải giảm đáng kể từ năm 2010, nước thải năm 2012 đã đạt tiêu chuẩn cho phép Kết quả cũng cho thấy, mùa mưa, hàm lượng các kim loại này trong nước thải tăng lên Điều này là do khu vực chứa bùn thải (chất thải nguy hại) từ hệ thống xử lý nước thải dập bụi lò cao (khoảng 13 tấn/ngày) không được thu gom triệt để, rơi vãi ra nền nhiều và theo dòng nước mưa chảy tràn vào hệ thống nước thải chung của công ty
b/ Nhà máy luyện thép Lưu Xá
Nước thải của nhà máy luyện thép Lưu Xá phát sinh chủ yếu từ hệ thống làm mát thiết bị, tuy nhiên nước thải vẫn chứa hàm lượng các kim loại nặng Pb, Cd và Zn nhưng không cao Hàm lượng các kim loại này trong nước thải cũng giảm dần theo thời gian Nhà máy luyện thép Lưu Xá có công nghệ sản xuất lâu đời nên phát sinh nhiều bụi, mặc
dù hệ thống lọc bụi đã được lắp đặt nhưng không tránh khỏi bụi rơi vãi, bụi thải của nhà máy chứa nhiều thành phần nguy hại vượt ngưỡng của quy chuẩn chất thải nguy hại Do nguyên liệu vào bao gồm cả phế liệu lẫn nhiều tạp chất Khi thu gom không triệt để, lượng bụi rơi vãi theo nước mưa chảy tràn và kéo theo nhiều kim loại nặng vào hệ thống nước thải chung của nhà máy Kết quả quan trắc cũng cho thấy, hàm lượng các chất ô nhiễm tăng lên vào mùa mưa và giảm nhẹ vào mùa khô
c/ Công ty CP hợp kim sắt gang thép Thái Nguyên
Tương tự nhà máy luyện thép Lưu Xá, nước thải công ty CP hợp kim sắt gang thép phát sinh chủ yếu từ quá trình làm mát thiết bị, đặc thù ô nhiễm của loại nước thải này là nhiệt độ, tuy nhiên, nước thải vẫn chứa hàm lượng các kim loại Cd, Pb và Zn nhưng ở mức thấp hơn tiêu chuẩn Nguyên nhân do công nghệ sản xuất của công ty quá
cũ và xuống cấp, hệ thống thu gom không triệt để, lượng bụi phát sinh lắng đọng trên bề mặt khuôn viên, trên thiết bị và kéo theo vào dòng nước mưa chảy tràn, sau đó theo hệ thống thu gom vào nước thải sản xuất và thải ra môi trường
3.1.3 Trầm tích sông Cầu
Trang 8Hiện tại, Việt Nam chưa có tiêu chuẩn để đánh giá mức độ ô nhiễm trầm tích Vì vậy, trong đề tài này học viên tham khảo tiêu chuẩn hiện hành của Canada về chất lượng trầm tích (Canadian Environmental Quality Guidelines, 2002) để đánh giá chất lượng
trầm tích sông Cầu khu vực chảy qua khu công nghiệp Lưu Xá
Theo số liệu tổng hợp từ báo cáo kết quả quan trắc môi trường toàn tỉnh các năm của Sở Tài nguyên và Môi trường cho thấy, đoạn sông Cầu ở khu vực Cầu Gia Bảy bị ô nhiễm Pb theo PELe (mức có dấu hiệu ảnh hưởng) và vượt mức này hơn 1 lần, đến đoạn sau hợp lưu suối Cam Giá hàm lượng các kim loại này đã tăng lên hàng chục lần so với khu vực ở Cầu Gia Bảy Hàm lượng Cd vượt tiêu chuẩn khoảng 6 lần, Pb vượt khoảng
16 lần, Zn vượt hơn 20 lần tiêu chuẩn Tuy nhiên, đến đoạn Cầu Mây-Phú Bình các kim loại nặng này giảm đi rất nhiều so với hai đoạn trước, các thông số điều thấp hơn mức PELe Như vậy, có thể đánh giá trầm tích đoạn sau hợp lưu với suối Cam Giá bị ô nhiễm cao hàm lượng kim loại nặng như Pb, Cd và Zn
Kết quả phân tích mẫu trâm tích trên suối Cam Giá và sông Cầu được học viên lấy ngày 20/3/2012 tại vị trí suối Cam Giá trước khi hợplưu sông Cầu 100m và sông Cầu sau hợp lưu 300m cho thấy, hàm lượng các kim loại này rất cao và cũng vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần Như vậy, hàm lượng các kim loại này trong trầm tích ở suối Cam Giá cao hơn nhiều lần so với trầm tích sông Cầu
Đánh giá theo thời gian và theo mùa cho thấy, hàm lượng các kim loại nặng này khu vực sau hợp lưu suối Cam Giá giảm đi rất nhiều theo thời gian, bắt đầu từ năm
2011 Điều này cho thấy hàm lượng các kim loại này trong trầm tích và trong nước sông Cầu có xu hướng tăng giảm tương tự với xu hướng tăng giảm của chất lượng nước thải sản xuất trong khu công nghiệp
3 2 Ƣớc tính thải lƣợng ô nhiễm kim loại
3.2.1 Nhà máy luyện gang
Đối với nhà máy luyện Gang, chất thải phát sinh chính ở Lò Cao, các loại chất thải chính chứa kim loại Pb, Cd và Zn là bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải, xỉ thải, nước thải sản xuất phát sinh từ quá trình rửa lọc bụi và nước thải làm mát xỉ Ước tính thải lượng như sau:
Tổng hải lượng = thải lượng từ bùn thải+thải lượng từ xỉ thải+thải lượng từ nước thải dập bụi+thải lượng từ nước thải làm mát xỉ Trong đó:
Thải lượng thành phần=Hàm lượng (Cd, Pb, Zn) x lượng phát thải của loại chất thải
Trang 9Do hàm lượng các kim loại này trong bùn thải, xỉ thải, nước thải cũng thay đổi nhiều, chúng tôi lấy giá trị trung bình của các đợt quan trắc của đơn vị theo các năm
Kết quả tính toán cho ta số liệu: Mỗi năm tổng phát thải của nhà máy luyện gang là: 140,52 tấn Pb, 183,45 tấn Zn và 8,06 tấn Cd Trong đó, phát thải trực tiếp ra suối Cam Giá là toàn bộ nước thải làm mát xỉ và nước thải dập bụi với thải lượng kim loại là: 28,42 tấn Pb, 10,02 tấn Zn và 0,96 tấn Cd
Với tình trạng xả thải như vậy, nhà máy bị ghi tên trong danh sách các đơn vị gây
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ Tuy nhiên, nhà máy đã khắc phục tối đa phát thải ra ngoài môi trường, toàn
bộ xỉ thải (không chứa nhiều kim loại nặng) được xử dụng cho phụ gia sản xuất xi măng, bùn thải (chất thải nguy hại) được tận thu bán cho công ty TNHH MTV kim loại màu để phối trộn với nguyên liệu tuyển lại lượng Zn trong bùn thải Nước thải dập bụi
đã được tuần hoàn trở lại sản xuất từ năm 2010
Như vậy lượng phát thải từ năm 2009 trở về trước, mỗi năm nhà máy luyện gang
xả ra môi trường với lượng kim loại là 10,026 tấn Pb, 42,15 tấn Zn và 0,962 tấn Cd
Từ năm 2010 trở lại đây, lượng phát thải kim loại ra môi trường mỗi năm chỉ còn là: 0,84 tấn Pb, 3,55 tấn Zn và 0,19 tấn Cd (bảng 3.21)
3.2.2 Nhà máy luyện thép Lưu Xá
Nhà máy luyện thép do sử dụng nguyên liệu bao gồm gang và cả thép phế liệu, vì vậy, hàm lượng kim loại nặng trong bụi thải rất lớn, theo kết quả phân tích thì bụi thải thuộc loại chất thải nguy hại (kim loại vượt ngưỡng nguy hại) Ước tính thải lượng như sau:
Hiện tại, nhà máy Luyện thép Lưu Xá đã thu gom và xử lý các loại chất thải, trong đó có bụi thải là chất thải nguy hại được thu gom sau đó bán cho Công ty TNHH MTV kim loại màu Thái Nguyên làm nguyên liệu sản xuất Như vậy, nhà máy Luyện thép Lưu Xá chỉ xả nước thải ra môi trường Thải lượng các kim loại Pb, Cd và Zn sẽ được tính toán dựa trên hàm lượng trung bình của các thông số này nhân với lưu lượng thải Ta có kết quả như sau: 0,018 tấn Cd, 0,067 tấn Pb và 0,47 tấn Zn
3.2.3 Công ty CP hợp kim sắt gang thép Thái Nguyên
Tương tự nhà máy luyện thép Lưu Xá, công ty CP hợp kim sắt gang thép chỉ thải nước thải sản xuất ra môi trường, toàn bộ các chất thải khác đều được thu gom và xử lý theo quy định Thải lượng của công ty được tính toán dựa trên hàm lượng các kim loại
có trong nước thải nhân với lưu lượng thải Ta có thải lượng phát thải như sau: 0,083 tấn Cd, 0,198 tấn Pb và 0,536 tấn Zn
Trang 103.2.4 Thải lượng ô nhiễm kim loại thải ra suối Cam Giá
Từ năm 2009 trở về trước, toàn bộ nước thải sản xuất của nhà máy luyện gang đều xả ra ngoài môi trường, khi đó thải lượng kim loại của toàn bộ nước thải khu công nghiệp Lưu Xá là: 1,06 tấn Cd, 10,29 tấn Pb và 43,16 tấn Zn
Sau khi Nhà máy luyện gang tuần hoàn lại phần nước thải dập bụi từ năm 2010, thải lượng của khu vực lưu Xá chỉ còn là: 0,29 tấn Cd, 1,1 tấn Pb và 4,56 tấn Zn Lượng này giảm nhiều so với trước đây, nhưng với đặc tính tích lũy của kim loại thì nguy cơ ô nhiễm môi trường là rất lớn
3.3 Diễn biến chất lượng nước suối Cam Giá
Căn cứ trên thải lượng các kim loại này và lưu lượng tại suối Cam Giá, chúng ta
có thể đánh giá được diễn biến hàm lượng một số kim loại trong nước suối Cam Giá Với lưu lượng của suối Cam Giá là 0,9m3/s, hàm lượng ô nhiễm của các kim loại này tương ứng như sau:
Khi nước thải từ hệ thống dập bụi lò cao xả thải ra ngoài môi trường (mặc dù đã qua xử lý) sẽ gây ô nhiễm suối Cam Giá Cụ thể với hàm lượng Pb vượt tiêu chuẩn 7 lần, Cd vượt tiêu chuẩn 3,7 lần và Zn vượt hơn 1 lần Tuy nhiên, nếu không xả nguồn nước thải sản xuất này ra môi trường bằng cách nhà máy tuần hoàn trở lại sản xuất thì hàm lượng các kim loại này sẽ giảm xuống và đạt tiêu chuẩn cho phép Điều này phù hợp với diễn biến ô nhiễm các kim loại trên suối Cam Giá và sông Cầu từ năm 2009 đến nay như đã trình bày ở trên
Như vậy, các đơn vị chính gây ô nhiễm kim loại trên suối Cam Giá sông Cầu bao gồm nhà máy luyện thép Lưu Xá, Công ty CP hợp kim sắt gang thép Thái Nguyên và nhà máy Luyện Gang Trong đó, nhà máy luyện gang là đơn có phát sinh nước thải có chứa hàm lượng kim loại rất cao so với các đơn vị khác
3.4 Đề suất các giải pháp bảo vệ môi trường
Khu công Lưu Xá chủ yếu là các đơn vị sản xuất gang thép và các đơn vị sản xuất phục vụ ngành luyện kim Để hạn chế các tác động xấu do hoạt động của Khu Công nghiệp Lưu Xá chúng tôi đề nghị sử dụng một số giải pháp bao gồm:
+ Các giải pháp về quản lý + Các giải pháp về kỹ thuật
3.4.1 Các giải pháp quản lý