Nghiên cứu các hoạt động của dự án; hiện trạng hệ sinh thái thái khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh tại khu vực dự án; các ảnh hưởng có thể gây ra bởi các hoạt động của dự án đến thái
Trang 1Đánh giá ảnh hưởng của dự án đầu tư nâng cấp Quốc lộ 4, đoạn nối Hà Giang - Lào Cai” tới hệ sinh thái khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh
và đề xuất các giải pháp giảm thiểu
Nguyễn Đình
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn ThS chuyên ngành: Khoa học môi trường; Mã số: 60 85 02
Người hướng dẫn: PGS.TS Trần Yêm
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Đánh giá ảnh hưởng của dự án "Đầu tư nâng cấp quốc lộ 4, đoạn nối Hà Giang
- Lào Cai" tới hệ sinh thái khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh Nghiên cứu các hoạt động của dự án; hiện trạng hệ sinh thái thái khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh tại khu vực dự án; các ảnh hưởng có thể gây ra bởi các hoạt động của dự án đến thái khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh Đề xuất các giải pháp giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực gây
ra bởi Dự án đến hệ sinh thái KBTTN Tây Côn Lĩnh
Keywords: Khoa học môi trường; Bảo vệ môi trường; hệ sinh thái; Khu bảo tồn thiên
nhiên; Tây Côn Lĩnh
Content
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lào Cai và Hà Giang là những tỉnh miền núi phía bắc có tài nguyên rừng thuộc loại phong phú nhất ở Việt Nam Theo niên giám thông kê của các tỉnh, hiện nay, Lào Cai có 278.907ha rừng, chiếm 43,87% tổng diện tích tự nhiên, trong đó có 229.296,6 ha rừng tự nhiên và 49.604 ha rừng trồng; Lào Cai có Vườn quốc gia Hoàng Liên (Sa Pa) với hệ sinh thái tự nhiên rất phong phú (có trên 2.000 loài thực vật, trên 400 loài chim, thú, lưỡng cư và bò sát Trong đó, có rất nhiều loài động, thực vật quý hiếm có trong sách đỏ Việt Nam Đây cũng là nơi tập trung kho tàng quỹ gen thực vật quý hiếm, chiếm 50% số loài thực vật quý hiếm của Việt Nam) Hà Giang có 284.537 ha rừng, chiếm 36,1% tổng diện tích tự nhiên, trong đó có 262.957 ha rừng tự nhiên và 21.580 ha
Trang 2rừng trồng; Hà Giang có nhiều khu rừng nguyên sinh, nhiều loài động vật quý hiếm như gấu ngựa, sơn dương, gà lôi, đại bàng , các loại gỗ quý hiếm như ngọc am (hoàng đàn rủ), pơ mu, lát chun, đinh, chò chỉ và có 5 Khu BTTN là Tây Côn Lĩnh, Phong Quang huyện Vị Xuyên; Căng Bắc Mê huyện Bắc Mê; Bát Ðại Sơn huyện Quản Bạ; Du Già huyện Yên Minh
Đoạn QL4 dự kiến mở rộng nâng cấp nằm trong vùng có khí hậu mùa đông lạnh, mùa hè nhiều mưa và qua vùng núi phía bắc của 2 tỉnh, bắt đầu từ Simaca (Lào Cai), chạy trên cao nguyên đá vôi Bắc Hà đến Xín Mần (Hà Giang) rồi vượt qua dãy núi cao thượng nguồn sông Chảy nơi có
hệ sinh thái bảo tồn Tây Côn Lĩnh phát triển trên vỏ phong hóa đá granit và đá phiến để đến QL2 (Hà Giang) Tương thích với đặc điểm khí hậu và sự đa dạng của các thành tạo địa chất là sự đa dạng của các hệ sinh thái, hệ động thực vật đai cao Từ Km383 ÷ Km414, tuyến Dự án được thiết
kế mở rộng trên cơ sở đường cũ với chiều dài khoảng 31km đi cắt qua vùng đệm phía bắc Khu BTTN Tây Côn Lĩnh, có điểm gần nhất cách vùng lõi của Khu BTTN khoảng 1,5km về phía Tây Bắc Đoạn tuyến đi cắt ngang sườn dốc phía Bắc của khối núi cao thượng nguồn sông Chảy, nơi tiềm ẩn nguy cơ sạt lở lớn nếu lớp phủ mặt bị bóc lộ Dọc đoạn tuyến là các điểm định cư, canh tác của dân cư các xã Thanh Thủy, Lao Chải, Thanh Đức, Xin Chải, Tân Tiến, Túng Sán Tuy nhiên, do QL4 đã hình thành rất nhiều năm nên dọc hành lang này, rừng tự nhiên bị biến cải nhiều do người dân khai thác đất rừng để định cư và canh tác
QL4 được đầu tư, nâng cấp sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái nơi đây, đặc biệt
là khu vực tuyến đi qua vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh Xuất phát từ thực
tiễn trên, đề tài luận văn “Đánh giá ảnh hưởng của dự án đầu tư nâng cấp Quốc lộ 4, đoạn nối
Hà Giang - Lào Cai tới hệ sinh thái khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh và đề xuất các giải
pháp giảm thiểu” được thực hiện nhằm đánh giá những thiệt hại có thể gây ra bởi Dự án đến hệ
sinh thái và đưa ra những giải pháp nhằm tránh hoặc giảm nhẹ các tác động này
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vào các mục tiêu sau:
Đánh giá ảnh hưởng từ các hoạt động của Dự án đến hệ sinh thái khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh;
Đề xuất các giải pháp giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực gây ra bởi Dự án đến hệ sinh thái KBTTN Tây Côn Lĩnh
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Hệ sinh thái
Khái niệm về hệ sinh thái (HST)
Cấu trúc của hệ sinh thái
Đặc trưng của hệ sinh thái
1.1.2 Khu bảo tồn
Khái niệm về khu bảo tồn
Vai trò của KBT:
Trang 3CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài sẽ nghiên cứu các vấn đề sau đây:
Các hoạt động của Dự án;
Hiện trạng hệ sinh thái KBTTN Tây Côn Lĩnh tại khu vực Dự án;
Các ảnh hưởng có thể gây ra bởi các hoạt động của Dự án đến KBTTN Tây Côn Lĩnh;
Các giải pháp giảm thiểu
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu của luận văn nằm dọc theo chiều dài QL4 đoạn qua KBTTTN Tây Côn Lĩnh với chiều dài khoảng 26km từ Km388 (tọa độ 22°51'32"N; 104°47'210”E) đến Km414 (tọa
độ 20o55’30”N; 104o
46’30”E)
Phạm vi nghiên cứu của Dự án được trình bày tại hình 1
2.2 Các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp kế thừa tài liệu
Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp thống kê
Phương pháp so sánh đối chứng
Phương pháp đánh giá nhanh
Phương pháp danh mục
Phương pháp mô hình
Phương pháp trình bày số liệu
Phương pháp chuyên gia
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Mô tả tóm tắt Dự án
3.1.1 Xuất xứ của Dự án
Dự án đầu tư nâng cấp quốc lộ 4, đoa ̣n Hà Giang – Lào Cai (giai đoạn 1) (sau đây gọi tắt là Dự án) được thực hiện theo Quyết định số 2620/QĐ-BGTVT ngày 01/08/2005 của Bộ GTVT v ề việc đầu tư dự án nâng cấp quốc lộ 4 đoa ̣n nối Hà Giang – Lào Cai Giai đoạn 1 của dự án tập trung đầu tư xây dựng các đoạn tuyến chưa có đường hoặc là đường GTNT đã bị xuống cấp nghiêm trọng
3.1.2 Vị trí địa lý của Dự án và mối quan hệ với các đối tượng KT-XH
Phạm vi Dự án nằm trong địa phận 18 xã thuộc hai tỉnh Lào Cai và Hà Giang
3.1.3 Các nội dung chính của Dự án
Trang 4Các hạng mục thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài (đoạn qua KBTTN Tây Côn Lĩnh bao gồm:
Đầu tư nâng cấp cải tạo và xây dựng mới các đoạn tuyến với tổng chiều dài khoảng 31km, quy
mô đường cấp IV miền núi, trong đó:
o Đoạn tuyến nâng cấp cải tạo có chiều dài 26km (Km388+000 ÷ Km414+000);
o Đoạn tuyến làm mới có chiều dài 5km (Km383+000 ÷ Km388+000)
Đầu tư xây dựng 07 cầu có chiều dài nhỏ hơn 50m;
Xây dựng hệ thống thoát nước, công trình phòng hộ và an toàn giao thông;
3.1.3.1 Khối lượng và quy mô các hạng mục chính của Dự án
Phần đường dài 31 km với tiêu chuẩn đường cấp IV miền núi
01 nút giao bằng với QL2 (Km414+000)
Xây dựng 07 cầu vượt dòng chảy với chiều dài mỗi cầu < 50m
Hệ thống thoát nước, công trình phòng hộ và an toàn giao thông
3.1.3.2 Khối lượng và quy mô các hạng mục công trình phụ trợ
a Giải phóng mặt bằng
Phạm vi GPMB đối với phần đường cấp IV là 1m và đối với phần cầu ngoài đô thị có chiều dài nhỏ hơn 300m là 20 ÷ 50m
b Công trường thi công
Trên toàn tuyến sẽ bố trí 7 công trường tại vị trí thi công các cầu Tại mỗi công trường sẽ có khoảng 30 công nhân làm việc và sinh hoạt tại các lán trại
c Hoạt động vận chuyển vật liệu và đất loại
Vật liệu tự sẽ được sản xuất hoặc mua tại các mỏ đã được cấp phép và vận chuyển về khu vực thi công bằng xe chuyên dụng Đất đá loại trong thi công sẽ được tập trung tại các bãi chứa tạm dọc tuyến, sau đó sẽ được vận chuyển đến vị trí đổ thải
3.1.4 Tiến độ thực hiện Dự án
Dự án dự kiến sẽ thi công trong 30 tháng
3.1.6 Tổ chức quản lý và thực hiện Dự án
Chủ đầu tư: Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Bộ Giao thông Vận tải;
Đại diện chủ đầu tư: Ban quản lý dự án 6 (PMU6);
Tư vấn lập Dự án: Tổng công ty Tư vấn thiết kế GTVT (TEDI)
3.2 Điều kiện tự nhiên và xã hội khu vực Dự án
3.2.1 Điều kiện tự nhiên
Khu vực thực hiện Dự án nằm trên cao nguyên Bắc Hà và vùng núi cao thượng nguồn sông Chảy thuộc miền Đông Bắc
Khu vực Dự án nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi cao phía bắc, với 2 mùa
rõ rệt là mùa đông và mùa hè Mùa đông bắt đầu từ tháng XI và kéo dài tới tháng III năm sau và
là mùa ít mưa, mùa cạn kiệt của các sông suối trong vùng Mùa hè mưa nhiều, ẩm ướt kéo dài từ
Trang 5tháng IV đến tháng X
Đoạn tuyến nghiên cứu đi qua vòm núi cao thượng nguồn sông Chảy, nhiều dốc, uốn lượn
quanh co trên địa hình hiểm trở, lượng mưa lớn (X năm = 2.671mm) Các nhánh suối tạo ra dòng chảy sông thượng, có dạng tia đổ xuống chân khối tảng, cắt qua đường hình thành lũ sườn dốc lớn nhưng rất nhanh Dòng chảy tạm thời hình thành trong mùa mưa lũ, còn mùa khô thường cạn
3.2.2 Hiện trạng tài nguyên đa dạng sinh học
Thống kê được 546 loài thuộc 147 họ trong 6 ngành thực vật bậc cao có mạch Trong thành phần thực vật, ngành hạt kín có số loài phong phú nhất, chiếm 88 % tổng số loài phân bố trong các kiểu thảm thực vật như: Thảm rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp; Thảm rừng kín thường xanh cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi cao; Thảm rừng trồng; Thảm cây bụi; Thảm cỏ; Thảm cây trồng nông nghiệp trên nương rẫy và trên đồng ruộng Có 6 loài thực vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam năm 2007 Các loài này phân bố rải rác tại nhiều núi đá và khu vực đỉnh núi cao trong khu vực
Thống kê, xác định được 212 loài thuộc 123 giống, 41 họ của 8 bộ côn trùng; 104 loài thuộc 36
họ, 15 bộ chim phân bố trong khu vực với bộ Sẻ có số lượng loài đông nhất, phân bố khắp các sinh cảnh Có 6 loài chim quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt nam năm 2007 và Nghị định 32/2006 NĐCP Các loài này hiếm gặp và phân bố rải rác trong các sinh cảnh rừng còn ít bị tác động, xa khu dân cư
Thống kê được 53 loài thú thuộc 24 họ của 8 bộ, đa phần phân bố tại khu vực đồi núi nơi rừng còn chưa bị tàn phá nhiều, xa khu dân cư Trong đó 15 loài có tên trong sách đỏ đỏ Việt Nam năm 2007
và Nghị định 32/2006 NĐCP
Thống kê được 35 loài thuộc 15 họ, 4 bộ trong hai 2 lớp Ếch nhái và Bò sát với 12 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt nam năm 2007 và nghị định 32/2006 NĐCP phân bố rải rác khắp nơi trong khu vực, chủ yếu tập trung tại các sinh cảnh ít biij tác độngbởi các hoạt động của con người Xác định được 40 loài TVN, với nhóm tảo Silic có số lượng loài cao hơn cả, sau đến Tảo Lục, Tảo Mắt, Tảo Lam Mật độ số lượng TVN các trạm khảo sát dao động từ 1530.9 Tb/l đến 2268.0 Tb/l, trung bình là 2131.9Tb/l Mật độ trung bình TVN tại khu vưc này cao nhất thuộc nhóm tảo Silic (33%), sau đến nhóm tảo Lam (31%), tảo Lục (30%) và cuối cùng là nhóm tảo Mắt (6%) Xác định được 27 loài ĐVN, trong đó nhóm Giáp xác Râu ngành có số lượng loài cao nhất sau đến nhóm Giáp xác Chân chèo, Trùng Bánh xe và cuối cùng là các nhóm khác Mật độ số lượng ĐVN dao động từ 1673 Con/m3 đến 5797 Con/m3
, trung bình là 3196 Con/m3 Mật độ trung bình ĐVN tại khu vưc này cao nhất thuộc nhóm Giáp xác Chân chèo (68%), sau đến nhóm Giáp xác Râu ngành (20%) Các nhóm còn lại có mật độ không đáng kể (9% với nhóm Trùng bánh xe
và 3% với các nhóm khác
Xác định được 27 loài và nhóm loài ĐVĐ, trong đó nhóm Chân bụng (ốc) có số lượng loài cao hơn cả, sau đến nhóm nhóm Hai mảnh vỏ (Trai, hến) và cuối cùng là nhóm Giáp xác (tôm, cua) Mật độ số lượng ĐVĐ dao động từ 43 Con/m2 (sinh khối tương ứng là 17.6 g/m2) đến 61 Con/m2
(sinh khối 127.6 g/m2), trung bình là 49.6 Con/m2 (sinh khối là 69.96 g/m2) Mật độ và sinh khối trung bình ĐVĐ tại các trạm khảo sát cao nhất thuộc nhóm các loài ốc, sau đến nhóm trai, hến Nhóm Giáp xác Tôm, cua có mật độ và sinh khối không đáng kể
Thống kê được 48 loài cá tự nhiên và cá nuôi thuộc 16 họ trong 5 bộ Không bắt gặp loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt nam năm 2007 Nhìn chung cá tự nhiên mật độ không cao và cư dân địa phương khai thác bằng nhiều hình thức như lưới, chài, đăng, đó, thậm chí bằng kích điện Sản lượng cá khai thác được không nhiều, đa phần phục vụ nhu cầu tại chỗ
Đoạn tuyến qua khu bảo tồn được thực hiện tại các khu vực rừng thứ sinh phục hồi sau nương
Trang 6rẫy, rừng thứ sinh nghèo kiệt sau khai thác, rừng trồng cũng như các thảm cây bụi, trảng cỏ, nương rẫy với thành phần loài thực vật phổ biến và không có những loài quý hiếm cần được bảo tồn Các nhóm động vật phân bố tại đây cũng không nhiều và là những loài phổ biến Không bắt gặp loài đặc hữu hay quý hiếm cần được bảo tồn
3.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Tại các xã trong phạm vi Dự án, hoạt động kinh tế chính là nông nghiệp với cây trồng chủ đạo là lúa nước được trồng trên các thửa ruộng bậc thang Một số hộ dân tại khu vực xã Lao Chải, Xín Chải còn có thêm nguồn thu nhập từ cây thảo quả Thu nhập trung bình khoảng 430.000 đ/tháng/ người Riêng tại đoạn cuối thuộc xã Thanh Thủy người dân có thu nhập cao hơn (khoảng 800.000 đ/người/tháng) do lợi thế gần với cửa khẩu Thanh Thủy, có thêm hoạt động buôn bán và vận chuyển hàng hóa
Dân cư: sinh sống rải rác dọc theo tuyến Dự án và tập trung tại các thị trấn và một số vị trí giao
cắt của các đường giao thông
Dân tộc thiểu số: hầu hết dân cư sống tại các xã trong khu vực Dự án là đồng bào dân tộc Mông,
Dao, Nùng, Tày… trong đó dân tộc Mông chiếm tỷ lệ đông nhất và rất ít dân tộc Kinh sống tại khu vực này Các hộ dân tộc thiểu số vẫn giữ được các giá trị văn hóa và tập tục truyền thống của dân tộc mình Hoạt động kinh tế chính vẫn là nông nghiệp; hoạt động kinh doanh chỉ là mua bán, trao đổi thực phẩm từ nông nghiệp
Lao động và thu nhập: kết quả khảo sát cho thấy thu nhập bình quân đầu người khu vực Dự án ở
mức thấp, trên 45% số hộ dân có thu nhập dưới chuẩn nghèo khu vực miền núi Nghề nghiệp chủ yếu của người dân trong khu vực là hoạt động sản xuất nông nghiệp, một số hộ có thêm nguồn thu từ hoạt động buôn bán và vận chuyển hàng hóa tại cửa khẩu Thanh Thủy
Giá trị văn hóa, tôn giáo: trong khu vực thực hiện Dự án không có các công trình văn hóa, tôn giáo
hay các di tích lịch sử được xếp hạng Tuy vậy, tại các địa phương khu vực Dự án có các dân tộc thiểu số khác nhau sinh sống với các phong tục và nền văn hóa riêng như lễ hội khèn Mông Cao, lễ hội mùa xuân, lễ hội Sàn Sán, tục kéo vợ của người Mông Hà Giang Các tập tục diễn ra hàng năm
và ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân
Giáo dục, y tế và điều kiện sống: 3/4 xã trong khu vực nghiên cứu có trạm y tế, trường học và
chợ Tỷ lệ hộ sử dụng điện là 24%, phần lớn các hộ chưa được cấp nước máy và đều sử dụng nước tại các khe núi để làm nước sinh hoạt Hầu hết các xã đều không có vị trí tập kết rác thải, riêng chỉ có xã Thanh Thủy là có vị trí tập kết rác thải tập trung
3.3 Nghiên cứu các ảnh hưởng của Dự án tới HST khu bảo tồn
3.3.1 Các ảnh hưởng trong giai đoạn chuẩn bị của Dự án
Ảnh hưởng do hoạt động giải phóng mặt bằng
Để có diện tích thi công các hạng mục của Dự án, sẽ tiến hành chặt hạ cây cối (chủ yếu là thảm
cỏ, cây bụi và cây gỗ nhỏ) trong phạm vi GPMB Do trong phạm vi giải phóng mặt bằng dọc theo các đoạn tuyến chủ yếu là hệ sinh thái nhân tác tại các khu đất vườn, đất lâm nghiệp; thảm thực vật tự nhiên chủ yếu là cây bụi và các loại cây gỗ nhỏ, loại thường và không có loài quý hiếm hoặc có giá trị bảo tồn nên ảnh hưởng được xác định là không đáng kể
3.3.2 Các ảnh hưởng trong giai đoạn xây dựng
3.3.2.1 Ảnh hưởng do ô nhiễm bụi và khí thải
Các hoạt động làm phát sinh bụi, khí thải có khả năng làm suy giảm chất lượng môi trường không khí trong quá trình thi công bao gồm:
Hoạt động đào đắp nền đường và hố móng (bao gồm lưu giữ tạm vật liệu) làm phát sinh bụi;
Hoạt động của máy móc thiết bị thi công (thi công bù ngang) làm phát sinh bụi và các khí thải
Trang 7(NO2, SO2, CO và HC);
Hoạt động vận chuyển vật liệu và đất đá loại (thi công bù dọc) làm phát sinh bụi và các khí thải (NO2, SO2, CO và HC);
Hoạt động của các trạm trộn bê tông xi măng và xe đun nhựa asphalt làm phát sinh bụi và các khí thải (NOx, SO2, CO)
Ô nhiễm không khí có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của cây cối cả về mặt gây nhiễm độc trực tiếp hoặc tích tụ lâu dài, và cả về mặt tạo lớp bụi hạn chế khả năng hô hấp và quang hợp của lá cây Tất cả các thực vật cây cối ở nơi bị ô nhiễm không khí đều còi cọc, chậm phát triển, năng suất thấp thậm chí bị huỷ diệt khi nồng độ ô nhiễm lớn Đặc biệt, nhiều trường hợp các chất ô nhiễm được tích tụ trong các sản phẩm thực vật sẽ gây tác hại cho con người và động vật ăn các sản phẩm
đó
SO2 và NOx cũng là một nguyên nhân gây ra mưa axit làm giảm độ pH của đất, qua đó ảnh hưởng gián tiếp đến hệ thực vật Mưa axít gây nhiều tác hại đối với hệ sinh thái cũng như đối với môi trường đất và nước:
Mưa axít huỷ diệt rừng và làm tàn lụi hệ sinh thái: Mưa axít làm tổn thương đến lá cây, làm trở ngại cho tác dụng quang hợp của cây cối, làm cho lá cây bị vàng úa và rơi rụng Mưa axít làm cho chất dinh dưỡng trong đất bị tan mất, có tác dụng phá hoại sự cố định đạm của vi sinh vật và sự phân giải các chất hữu cơ, làm cho màu mỡ của đất đai bị suy giảm Mưa axít còn ngăn trở sự sinh trưởng của bộ rễ, làm suy giảm khả năng chống bệnh và sâu hại của cây trồng
Mưa axít gây nên hiện tượng axít hoá của nguồn nước, ở mức độ cao có thể gây chết các sinh vật thủy sinh
Mưa axít trước hết làm tổn thương các lá cây, khiến cho lá các cây trồng nông nghiệp thường xuất hiện các vết đốm, làm yếu tác dụng quang hợp, phá hoại các tổ chức bên trong, làm mất các chất dinh đường, chất keo và axít a min, khiến cho cây trồng mọc rất khó khăn Mưa axít còn ức chế việc phân giải các chất hữu cơ và cố định đạm trong đất, rửa trôi các chất dinh dưỡng trong đất như can xi, magie, kali làm cho đất dần bị nghèo hoá Ngoài ra, mưa axít còn hoà tan các kim loại độc hại trong đá hoặc đất như chì, thuỷ ngân, cadmi, nhôm…, các chất này sẽ được thực vật hấp và tích tụ lại sau đó chuyển qua các bậc cao hơn trong chuỗi thức ăn
Tuy nhiên, lượng phát thải SO2 và NOx phát sinh từ các hoạt động thi công là không lớn nên các ảnh hưởng đến hệ sinh thái KBTTN Tây Côn Lĩnh chỉ được xem xét dưới ảnh hưởng do ô nhiễm bụi
3.3.2.2 Ảnh hưởng do ô nhiễm tiếng ồn
a Hoạt động gây ồn
Mức ồn trong giai đoạn thi công xây dựng không liên tục, chỉ xuất hiện khi vận hành thiết bị gây
Trang 8ồn Trong khuôn khổ Dự án, mức ồn phát sinh tính theo tổ hợp các thiết bị, máy móc tham gia thi công các hạng mục, bao gồm:
Thi công nền đường với các loại thiết bị: máy ủi, gầu ngoạm, xe tải;
Thi công mặt đường: máy lu, đầm rung, xe tải, lò đun nhựa đường di động;
Thi công cầu: xe chuyên chở, cần cẩu, máy ủi, gầu ngoạm, máy phát điện, máy trộn bê tông, máy bơm nước, các loại máy hàn, cắt sắt thép, bê tông
Tiếng ồn là yếu tố tác động trực tiếp và mãnh liệt nhất gây ra những thay đổi và phản ứng nhanh nhạy của các loài động vật, đặc biệt là các loài chim và thú rừng Tập tính hoạt động của các loài thú là hoạt động tìm kiếm thức ăn thường xảy ra vào ban đêm, từ khoảng 19 giờ tối hôm trư ớc tới 6 giờ sáng hôm sau Từ 10 giờ sáng đến 16 giờ chiều, thú thường ngủ hay nghỉ ngơi và ít hoạt động Các loài chim thường có tập tính tìm kiếm thức ăn mãnh liệt nhất trong ngày vào 2 pha: sáng sớm (5 giờ tới 9 giờ sáng), chiều tối (16 giờ tới 18 giờ) Thời gian các loài chim dành cho nghỉ ngơi, ngoài ban đêm thì trong ngày thường là vào quãng giữa của ngày (buổi trưa từ 11 giờ đến 13 giờ) Kiểm soát ô nhiễm ồn tránh gây ra sự hoảng loạn, xua đuổi động vật hoang dã đi ra nơi khác mà sinh cảnh và hệ sinh thái ở đó không thích hợp cho sự sống của chúng là yêu cầu đặt
ra khi thi công qua đoạn này
Nhiều bài nghiên cứu sinh thái gần đây cho thấy cách hót của loài chim ở thành thị khác hẳn với đồng loại của chúng ở nông thôn Do bị bao phủ bởi quá nhiều tiếng ồn, chủ yếu đến từ các hoạt động con người, âm giọng các loài chim không những có xu hướng tăng cường độ mà còn tăng cả tần suất phát âm thanh Nói một cách khác là tiếng hót bổng hơn
Các nghiên cứu cũng ghi nhận rằng ô nhiễm âm thanh còn gây stress ở các loài động vật và gây rối loạn sinh sản và quan hệ con mồi – thú săn mồi Một nghiên cứu khác còn đi xa hơn cho rằng, tiếng ồn, ngoài việc ảnh hưởng trực tiếp đến động vật hoang dã, còn gián tiếp tác động đến hệ thực vật rừng Các nhà khoa học theo dõi và so sánh hành vi của nhiều loài chim giữa các khu vực có nhiều tiếng ồn và nơi yên tĩnh Kết quả quan sát cho thấy loài chim ruồi giúp thụ phấn các loài cây bụi rậm và đảm bảo sự sinh sản thì không gặp trở ngại tiếng ồn Trong khi đó, loài chim quạ thông vốn dĩ giúp cho việc phát tán các hạt cây thông lọng lại chạy trốn tiếng ầm ĩ của những chiếc máy
Từ đó, các nhà khoa học kết luận rằng “chính tiếng ồn đã gây xáo trộn cộng đồng động vật ăn hạt
Điều này đã giải thích cho phần nào sự biến mất của loại cây nào đó ở những nơi quá ồn ào” (báo
Le Figaro)
3.3.2.3 Tác động do ô nhiễm nước
Các hoạt động sau tạo chất thải hoặc yêu tố gây tác động có khả năng gây ảnh hưởng đến các đối tượng nước, trầm tích trong khu vực Dự án, bao gồm:
Từ hoạt động thi công các cầu:
o Thi công đào đắp hố móng
o Thi công phần trên cầu với nguy cơ rơi vãi chất thải rắn;
Từ hoạt động của công trường thi công:
o Hoạt động của trạm bảo dưỡng xe máy làm phát sinh dầu thải, chất thải chứa dầu;
o Hoạt động của lán trại công nhân làm phát sinh chất thải sinh hoạt;
o Hoạt động của trạm trộn bê tông xi măng làm phát sinh nước thải
b Nguy cơ ô nhiễm nước suối bởi TSS từ hoạt động đào đắp hố móng
Trang 9Gây ảnh hưởng đến các hoạt động sống (kiếm ăn, di cư, sinh sản) và hơn nữa có thể làm mất nơi
cư trú một số loài thủy sinh trong đó chủ yếu là các loài sống bám đáy
c Nguy cơ ô nhiễm nước, trầm tích các suối bởi chất thải rắn trong thi công phần trên cầu
Các loại chất thải rắn này hoàn toàn có thể gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước và trầm tích của dòng chảy khi chúng thâm nhập Khi thâm nhập vào nguồn nước các sông kênh, vật trôi nổi như ni lông, giấy gói thiết bị, rác sinh hoạt sẽ gây ô nhiễm cảnh quan , bịt các công lấy nước Các vật rắn khác tích tụ chất rắn trên bề mặt trầm tích tạo môi trường thuận lợi cho các loài gây hại, làm suy giảm chất lượng sinh thái trong nước và trầm tích suối
c Nguy cơ ô nhiễm nước mặt và trầm tích các su ối bởi chất thải rắn không được thu gom sau thi công
Các chất thải rắn nếu không được thu gom sẽ tạo ra nguy cơ gây ô nhiễm lâu dài đ ối với trầm tích các suối, qua đó gây ảnh hưởng đến đời sống của các sinh vật đáy tại các suối này
d Nguy cơ thâm nhập dầu thải và chất thải chứa dầu từ tr ạm bảo dưỡng xe máy bố trí trong công trường
Dầu thải và chất thải chứa dầu phát sinh ta ̣i công trư ờng có từ 3 nguồn:
Dầu thải từ viê ̣c thay dầu máy đi ̣nh kỳ các phương tiện vận chuyển và thiết bị;
Dầu trong nước bảo dưỡng xe máy ;
Giẻ lau chứa dầu từ hoạt động của xe máy và hoạt động bảo dưỡng chúng
Như vâ ̣y, với một lý do nào đó dầu thải từ Dự án thâm nhâ ̣p vào dòng nư ớc các sông suối sẽ gây ô nhiễm nước Giẻ dính dầu sau một thời gian sẽ lắng xuống đáy , ngoài gây ô nhiễm trầm tích đáy , dầu từ giẻ thoát ra từ từ và khuếch tán vào khối nước , tạo váng dầu trên bề mặt nước , gây ô nhiễm nước Dầu là chất thải nguy hại có thể gây độc đối với hệ sinh thái ngập nước Nguy cơ ô nhiễm kéo dài suốt th ời gian tồn tại công trường để phục vụ thi công, thậm chí còn kéo dài nếu không có biê ̣n pháp thu gom làm sa ̣ch dầu và giẻ dầu khi phát hiê ̣n chúng xuất hiê ̣n trong lòng suối
e Nguy cơ thâm nhập nước thải từ hoạt động của trạm bê tông xi măng
Mỗi mẻ trộn sẽ làm phát sinh nước thải với hàm lượng TSS cao Nếu không được quản lý tốt và
để xâm nhập vào nguồn nước mặt, nước thải từ hoạt động của trạm trộn bê tông xi măng sẽ gây ô nhiễm nước bởi TSS, đồng thời gây nguy hại đến hệ sinh thái ngập nước tại các suối
f Nguy cơ thâm nhập chất thải sinh hoạt từ lán trại công nhân trong công trường
Nếu để các loại chất thải này xâm nhập vào các nguồn nước mặt sẽ gây ô nhiễm nước bởi các chất hữu cơ và vi sinh Các khu vực nước nơi bị ô nhiễm loại chất thải có nguy cơ bị phú dưỡng đối với hệ sinh thái ngập nước
3.3.2.4 Thiệt hại diện tích rừng ngoài diện tích đất chiếm dụng
Để thi công lát xê, ngoài đào phá ta luy dương còn thi công đắp đồng thời ta luy âm Như vậy, sẽ
có một diện tích đáng kể rừng tự nhiên có thể bị vùi lấp bởi đất phát sinh trong quá trình đào ta luy dương và đất tràn đổ khi thi công ta luy âm
Bên cạnh đó, việc chặt phá những cây cây tạp, kích thước nhỏ, không quý hiếm giá trị sinh thái thấp lại ảnh hưởng đến việc hạn chế xói mòn Tác động sẽ trở nên đáng kể khi xảy ra tình trạng xói lở tại các vùng đất bị mất thảm thực vật phủ sẽ tiếp tục làm mất và thoái hoá đất rừng ven đường Tác động cũng sẽ là đáng kể khi trong thi công, có hiện tượng chặt cây làm vật liệu thi công, phá thảm thực vật rừng thứ sinh để làm nơi tập kết vật liệu, phế thải…
Trang 103.3.2.5 Tác động do hoạt động săn bắn trái phép và tiêu thụ động vật rừng của công nhân thi công
Trong thi công, sự xuất hiện một lượng khá lớn công nhân thi công đến từ nơi khác sẽ tạo ra những nguy cơ gây tổn thất đa dạng sinh học, bao gồm:
Động vật hoang dã sẽ bị chính những người công nhân săn bắn trái phép;
Kích thích săn bắn trái phép động vật hoang dã do nhu cầu tiêu thụ thịt động vật hoang dã từ phía lực lượng lao động
3.3.2.6 Tổn thất tài nguyên rừng do bất cẩn trong thi công dẫn đến lũ lụt
Do thi công trên sườn dốc và không có kế hoạch làm ổn định các đối tượng thi công hoặc làm sạch hiện trường trước mùa lũ thì chính các công trình dang dở và kém ổn định hoặc những đồ vật trên đất chưa thu dọn sẽ là những vật cản yếu, kích thích dòng lũ tăng động năng tạo lũ quét, lũ bùn đá Loại lũ này không chỉ phá đổ công trình khi nó vượt qua mà c òn đe dọa đến các loài hoang dã và gây sạt lở làm thiệt hại đến tài nguyên rừng
3.3.3 Các ảnh hưởng trong giai đoạn vận hành
3.3.3.1 Tác động tới tài nguyên sinh vật do xuất hiện tuyến đường
Tuyến đường sau khi hình thành, qua vùng đệm sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi cho người dân phát triển kinh tế, hạn chế sự khai thác rừng Tuy nhiên, nếu không quản lý tốt, đây cũng là cơ hội để cho “lâm tặc” khai thác bừa bãi tài nguyên rừng
Quá trình vận hành đường giao thông là những mỗi đe doạ đến sự đa dạng hệ sinh thái, sự phân mảng và phá huỷ môi trường sống, sự xâm nhập của các loài lạ, ô nhiễm và cả sự săn bắt quá mức Đường giao thông được xem như là một nhân tố liên quan đến sự tử vong của các loài động vật như rắn hoặc chó sói; như là các nhân tố thay thế ảnh hưởng đến sự phân bố động vật, sự di chuyển của các loài; là nhân tố làm phân mảng số lượng động vật trong bầy; là nguồn gốc sản sinh chất thải làm tắc nghẽn các dòng sông và phá huỷ các thuỷ vực; là hành lang tiếp cận thúc đẩy các hoạt động phạm pháp như chặt phá rừng lấy gỗ, săn bắt trộm các loài động thực vật quý hiếm Việc xây dựng đường trong các rừng Quốc gia và ở các khu vực đất công cộng khác đều
đe doạ đến sự tồn tại của các loài động vật hoang dã vốn sống dựa vào các vùng hoang dã
Một số các tác động chính đã được nghiên cứu như sau:
Tử vong do các phương tiện giao thông (Roadkills)
Sự ác cảm và những thay đổi thói quen
Phân mảng và ngăn cách số lượng động vật
3.3.3.2 Ảnh hưởng do ô nhiễm bụi và khí thải
a Hoạt động phát sinh bụi và khí thải
Trong giai đoạn vận hành, hoạt động của dòng xe làm phát sinh bụi; các khí thải (CO, NO2, SO2, HC), có khả năng gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường không khí Tuy nhiên, so sánh các kết quả dự báo với GHCP trong QCVN 05:2009/BTNMT và QCVN 06:2009/BTNMT thấy rằng nồng độ bụi và khí thải (CO, NO2, SO2, HC) phát sinh từ đốt nhiên liệu của dòng xe nhỏ hơn GHCP rất nhiều lần