Thông thường, chỉ những tập quán không trái với các giá trị đạo đức và trật tự công mới được thừa nhận là tập quán pháp Một ví dụ cụ thể về tập quán pháp điều chỉnh một số quan hệ nhân t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
4 Nguyễn Thụy Khanh
5 Hoàng Trung Kiên
6 Trịnh Mạnh Cường
Giảng viên giảng dạy: Phạm Đức Chung
Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2022
Trang 2M U C L U C
Chương 1 KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI HÌNH THỨC PHÁP LUẬT 3
1.1 Khái niệm, đặc điểm của hình thức pháp luật 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Đặc điểm của hình thức pháp luật 3
1.2 Các loại hình thức pháp luật 3
1.2.1 Tập quán pháp 3
1.2.2 Tiền lệ pháp (án lệ) 4
1.2.3 Văn bản quy phạm pháp luật 4
1.2.4 Các loại nguồn khác của pháp luật 5
1.3 Nguồn của pháp luật Việt Nam 6
1.3.1 Văn bản quy phạm pháp luật - hình thức pháp luật chủ yếu của pháp luật Việt Nam 6
1.3.2 Tập quán pháp 9
1.3.3 Tiền lệ pháp (án lệ) 9
1.3.4 Điều ước quốc tế 9
1.3.5 Lẽ phải, lẽ công bằng 10
Chương 2 TIỀN LỆ PHÁP 10
2.1.Thực trạng 10
2.1.1 Những thách thức phải đối mặt 10
2.1.2 Danh mục các án lệ: 11
2.2 Ưu, nhược điểm của tiền lệ pháp 12
2.2.1 Ưu điểm: 12
2.2.2 Nhược điểm: 13
2.3 Phân tích án lệ 14
2.3.1 Khái quát nội dung án lệ số 17 14
2.3.2 Tiêu chí lựa chọn án lệ tại Việt Nam 20
2.4 Áp dụng án lệ trong xét xử 21
2.4.1 Hình thức áp dụng án lệ: 21 2.4.2 Quy định áp dụng án lệ trong xét xử: 04/2019/NQ-HĐTP 21
2.4.3 Quy tắc bãi bỏ án lệ 22
2.4.4 Bản án Quách Văn B và đồng phạm - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) 22
2.3.5 So sánh Án lệ ở Việt Nam và án lệ ở Hoa Kỳ 23
Chương 3 CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM 27
Tài liệu tham khảo 30
Trang 3Chương 1 KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI HÌNH THỨC PHÁP LUẬT 1.1 Khái niệm, đặc điểm của hình thức pháp luật
- Biểu hiện dưới những dạng nhất định
- Là công cụ để dư luận và xã hội, can thiệp có hiệu quả vào những tình huống cần thiết và hướng xã hội đến mục đích cụ thể mà giai cấp cầm quyền đặt ra
Đây là loại nguồn pháp luật được sử dụng sớm nhất, tồn tại một cách khá phổ biến trong thời kỳ chưa có pháp luật thành văn
Thông thường, chỉ những tập quán không trái với các giá trị đạo đức và trật tự công mới được thừa nhận là tập quán pháp
Một ví dụ cụ thể về tập quán pháp điều chỉnh một số quan hệ nhân thân được
thể hiện ở khoản 2 Điều 26 Bộ Luật Dân sự năm 2015: “Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có
Trang 4thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ.”
1.2.2 Tiềền l pháp (án l ) ệ ệ
Tiền lệ pháp là việc Nhà nước thừa nhận các bản án của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan hành chính, lấy các bản án hoặc quyết định đó làm căn cứ để giải quyết những sự việc tương tự xảy ra trong thời gian sau đó Tiền lệ pháp chính là kết tinh của lý luận và thực tiễn
Tiền lệ pháp là nguồn, nhưng cũng vừa là hình thức của pháp luật Đây là loại nguồn pháp luật khá phức tạp, tuy nhiên lại được hình thành từ hoạt động thực tiễn của các chủ thể có thẩm quyền khi giải quyết các vụ việc cụ thể trên cơ sở khách quan,công bằng, tôn trọng lẽ phải, nên nó dễ dàng được xã hội chấp nhận và được coi là một loại nguồn pháp luật chủ yếu của nhiều quốc gia trên thế giới
Án lệ được hình thành từ những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật Khi đó,Tòa án sẽ viện dẫn những căn cứ pháp luật hợp lý để đưa ra một phán quyết có tính đột phá và bản án đó sẽ được công bố là án lệ để áp dụng cho các trường hợp tương tự
do khiếm khuyết quy phạm hoặc chưa có dẫn chiếu quy phạm rõ ràng
Ví dụ: Án lệ số 17/2018
1.2.3 Văn b n quy ph m pháp lu t ả ạ ậ
Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành dưới hình thức văn bản (pháp luật thành văn)
Văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các đặc điểm cơ bản sau:
- Là hình thức pháp luật bất thành văn, với các đặc trưng cơ bản: chính xác, rõ ràng, minh bạch, nhằm mục đích đảm bảo sự thống nhất, đồng
bộ của cả hệ thống pháp luật
- Là nguồn pháp luật quan trọng nhất của pháp luật
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên thế giới hầu hết đều thuộc một trong
ba hệ thống sau:
- Luật thông lệ (Common Law): Bắt nguồn từ các quyết định của Tòa án nên nguồn chủ yếu là các án lệ Thứ bậc nguồn luật của hệ thống pháp
Trang 5luật Common Law là: án lệ, luật thành văn, tập quán địa phương, các nguồn khác
- Luật thành văn (Civil Law) - Dân Luật: Luật này có nguồn chính là các văn bản pháp luật Cấu trúc nguồn luật trong hệ thống pháp luật này có thứ tự là: luật thành văn, tập quán địa phương, án lệ, học thuyết pháp luật, các nguyên tắc pháp luật,
- Luật Hồi giáo (Islamic Law): là Luật được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản, các trụ cột của đạo Hồi và các phong tục tập quán của người Hồi giáo, bên cạnh đó Luật Hồi giáo có quan niệm về hành vi không giống các luật khác
Common Law và Civil Law là hệ thống lớn nhất và phổ biến nhất thế giới, ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia các châu lục, bao gồm cả Việt Nam
Ví dụ: Hiến pháp năm 2013, Luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, Bộ luật lao động 2019, Bộ luật dân sự 2015,
1.2.4 Các lo i nguồền khác c a pháp lu t ạ ủ ậ
- Điều ước quốc tế: là những văn bản trong đó có chứa đựng các nguyên tắc, quytắc xử sự do các chủ thể quốc tế thỏa thuận ban hành Tên gọi riêng có thể là: Công ước, Hiệp ước, Hiến chương, Quy chế,
là nguồn quan trọng của pháp luật
- Các quan niệm, chuẩn mực đạo đức xã hội: là nguồn quan trọng bổ sung cho những hạn chế trong hệ thống pháp luật của quốc gia Ở cấp độ thấp thì xây dựng pháp luật không được trái với chuẩn mực đạo đức
Trang 6Ví Dụ: Điều 41 (BLDS 2005) quy định về quyền được hưởng sự chăm sóc giữacác thành viên trong gia đình Đây là một chuẩn mực đạo đức có từ xa xưa, mộttruyền thống tốt đẹp của dân tộc thể hiện tình cảm gắn bó giữa những thành viên trong gia đình, được truyền từ đời này sang đời khác và bây giờ đã được pháp luật quy định đây là một quyền nhân thân của con người Nếu như con cái
mà đối xử không tốt ngược đãi, hắt hủi cha mẹ hay cha mẹ bỏ rơi hành hạ con cái là đều trái với những chuẩn mực đạo đức và trái với quy định của pháp luật
Ở cấp độ cao hơn đạo đức đã trở thành tập quán pháp, tiền lệ pháp để giải quyếtnhững vụ việc tương tự mà không có pháp luật điều chỉnh
- Đường lối, chính sách của lực lượng cầm quyền: là một loại nguồn đặc biệt củapháp luật, có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật quốc gia Trong nhiều trường hợp, đường lối, chính sách của lực lượng cầm quyền được viện dẫn để thay thế các văn bản quy phạm pháp luật
Ví dụ: ở Việt Nam trước đây, Chỉ thị số 100- CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban
Bí thư về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoản sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp, Nghị quyết số 10- NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp luôn được các cơ quan nhà nước, các hợp tác xã nông nghiệp trên cả
nước áp dụng trực tiếp (thường được gọi tắt là khoán 100 và khoán 10)
- Quan điểm, học thuyết pháp lý: là căn cứ hoàn thành hệ thống pháp luật của quốc gia Dựa vào các quan điểm, lập luận khoa học của các học giả, nhà khoa học pháp lý để giải quyết những sự việc chưa được quy định trong pháp luật, chưa có án lệ, tập quán,
1.3 Nguồn của pháp luật Việt Nam
1.3.1 Văn b n quy ph m pháp lu t - hình th c pháp lu t ch yềếu c a pháp lu t Vi t ả ạ ậ ứ ậ ủ ủ ậ ệ Nam
1.3.1.1 Khái niệm của văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật là sản phẩm của hoạt động xây dựng pháp luật, do
cơ quan Nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành theo đúng trình tự, thủ tục luậtđịnh và nội dung của nó phải chứa các quy phạm pháp luật
Trang 7“Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định.”
(Đoạn 1, Điều 2 Luật ban hành VBQPPL 2015)
1.3.1.2 Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật
- Phải do các cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành với những hình thức do pháp luật quy định
- Việc ban hành phải tuân theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định (do Quốc hội ban hành)
- Nội dung phải chứa các quy phạm pháp luật
- Nhà nước đảm bảo việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật bằng các biện pháp thích hợp như tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, hoặc cưỡng chế bắt buộc thi hành trong trường hợp cần thiết
1.3.1.3 Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phải dựa trên những nguyên tắcchỉ đạo thống nhất Điều 5, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 đã xác định 6 nguyên tắc cụ thể, bao gồm:
- Đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất: phải phù hợp với Hiến pháp, không được trái với hiến pháp; bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc hiệu lựcpháp lý
- Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong việc xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
- Bảo đảm tính minh bạch trong các quy định nhằm tạo ra hệ thống pháp luật ổn định và có thể dự toán, nâng cao tính quyền lực của các cơ quan Nhà nước
- Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính; có thể được áp dụng, đi vào đời sống xã hội, thực hiện ngay ở từng
cơ sở
- Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Trang 8- Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
1.3.1.4 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam
Văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam được chia thành 2 loại cơ bản:
- Văn bản luật: do Quốc hội ban hành, giá trị pháp lý cao hơn
- Văn bản dưới luật: Các cơ quan, người có thẩm quyền khác ban hành, giá trị pháp lý thấp hơn
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm:
1 Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội
2 Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
3 Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước
4 Nghị định của Chính phủ
5 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
6 Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
7 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư củaChánh án Toà án nhân dân tối cao
8 Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
9 Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước
10 Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với
cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội
11 Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
12 Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Quyết định và Chỉ thị của Uỷ ban nhândân
Trang 91.3.2 T p quán pháp ậ
Tập quán pháp được nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận
là một loại nguồn của pháp luật từ khi Bộ luật Dân sự đầu tiên được phát hành (1995)
Có hai con đường hình thành tập quán pháp ở Việt Nam:
+ Những tập quán đã được pháp điển hóa - đã được thể hiện dưới dạng pháp luật thành văn
+ Tập quán được áp dụng để giải quyết các vụ việc cụ thể, không được tráivới các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự
1.3.3 Tiềền l pháp (án l ) ệ ệ
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 đã chính thức thừa nhận vai trò của án lệ tại Việt Nam
Án lệ có thể hình thành bằng hai con đường:
- Tòa án giải thích và áp dụng các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật
- Án lệ tạo ra quy phạm pháp luật, nguyên tắc áp dụng pháp luật mớiTrình tự áp dụng án lệ theo pháp luật dân sự Việt Nam là: thỏa thuận giữa các bên, quy định của pháp luật, trường hợp không có quy định của pháp luật thì áp dụng tập quán, trường hợp không có quy định pháp luật trực tiếp điều chỉnh, không có tập quán thì áp dụng tương tự pháp luật, trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luậtthì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng
1.3.4 Điềều ướ c quồếc tềế
Điều ước quốc tế là một nguồn quan trọng của hệ thống pháp luật Việt Nam và
có thể áp dụng ở Việt Nam một cách trực tiếp hoặc được nội luật hóa
Về cùng một vấn đề, nếu luật Việt Nam và Điều ước quốc tế có sự khác biệt, thì thứ tự ưu tiên sẽ là: Hiến pháp, Điều ước quốc tế, văn bản quy phạm pháp luật, vănbản dưới luật
Trang 101.3.5 Lẽẽ ph i, lẽẽ cồng băềng ả
Lẽ phải, lẽ công bằng là nguyên tắc pháp lý cơ bản, được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp nguyên tắc nhân đạo, bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ pháp luật
Pháp luật dân sự và tố tụng dân sự của Việt Nam đều quy định về nguyên tắc ápdụng lẽ phải, lẽ công bằng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
Chương 2 TIỀN LỆ PHÁP
2.1.Thực trạng
2.1.1 Nh ng thách th c ph i đồếi m t ư ứ ảă ă
Sự tham gia của người dân còn hạn chế
Điều 3 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP quy định mọi cá nhân, cơ quan hoặc
tổ chức đều có thể đề xuất các bản án, quyết định để xem xét phát triển thành án lệmới Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại mới chỉ có các đề xuất từ một số ít tòa án, cơquan, chuyên gia pháp lý và luật sư
Kỹ năng soạn thảo bản án của thẩm phán còn hạn chế
Việc phát triển và áp dụng án lệ đòi hỏi các thẩm phán phải tuân thủ một số quychuẩn, yêu cầu nhất định trong việc soạn thảo bản án Tuy nhiên, nhiều thẩm phán vẫnchưa biết đến hoặc chưa được tập huấn về các quy chuẩn này Cần có nhiều nỗ lựchơn nữa trong việc hỗ trợ các thẩm phán trong việc phát triển các giải pháp pháp lý cóthể được áp dụng cho các vụ việc có tính chất tương tự vì đây cũng là nguồn để pháttriển án lệ
Thiếu án lệ giải quyết các vấn đề pháp lý gây tranh cãi
Hiện một số lĩnh vực pháp luật bao gồm dân sự, hôn nhân và gia đình, kinhdoanh thương mại, lao động, hình sự và hành chính đã có án lệ, tuy nhiên vẫn tồn tạicác vấn đề pháp lý cần có án lệ để làm rõ Có sự thiếu nhất quán trong cách giải quyết
Trang 11một số vấn đề pháp lý thường gặp, chẳng hạn như liên quan đến việc giao dịch giữacác thành viên trong gia đình và các tình tiết tăng nặng của tội phạm do sự chồng chéo
và mâu thuẫn của các quy phạm pháp luật liên quan cũng như do chưa có quy địnhhoặc thiếu các quy định, hướng dẫn cụ thể Do đó, việc phát triển án lệ trong các lĩnhvực này là hết sức cần thiết
- Hôn nhân và gia đình: 1
Dưới đây là 10 án lê ̣ đầu tiên:
- Án lệ số 01/2016/AL về vụ án Giết người
- Án lệ số 02/2016/AL về vụ án tranh chấp đòi lại tài sản
- Án lệ số 03/2016/AL về vụ án ly hôn
- Án lệ số 04/2016/AL về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Án lệ số 05/2016/AL về vụ án tranh chấp di sản thừa kế
- Án lệ số 06/2016/AL về vụ án tranh chấp thừa kế
- Án lệ số 07/2016/AL về công nhận hợp đồng mua bán nhà trước ngày 01/7/1991
- Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm
- Án lệ số 09/2016/AL về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại
- Án lệ số 10/2016/AL về quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện vụ ánhành chính
Trang 122.2 Ưu, nhược điểm của tiền lệ pháp
2.2.1 u đi m: Ư ể
Án lệ kịp thời giải quyết các quan hệ xã hội pháp luật
Ở các nước theo hệ thống common law, các thẩm phán có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và áp dụng luật dưới hình thức án lệ Đối với những quan hệ xã hội có nhu cầu giải quyết bằng pháp luật trước tòa luôn được đáp ứng, không có trường hợp Tòa từ chối giải quyết với lý do không có luật, nếu chưa có tiền lệ thì có thể tạo ra tiền lệ mới Ngược lại các các nước theo hệ thống civil law luôn xem trọng văn bản pháp luật thành văn là nguồn luật chủ yếu Thẩm phán với tư cách là người ápdụng pháp luật thường xuyên gặp phải khó khăn bởi có những quan hệ xã hội có nhu cầu cần điều chỉnh bằng pháp luật nhưng lại chưa có luật để giải quyết Luật pháp mang tính ổn định tương đối trong khi các quan hệ xã hội luôn vận động và phát triển,
vì vậy bao giờ cũng có khoảng cách giữa khả năng thực tế điều chỉnh của pháp luật vànhu cầu cần điều chỉnh bằng pháp luật của các quan hệ xã hội Khoảng trống này luôn tồn tại một cách khách quan và không thể nào có thể lấp đi được dù rằng nhà làm luật
có khả năng dự báo xu hướng phát triển của các quan hệ xã hội, thấy được nhu cầu cần điều chỉnh bằng pháp luật của các quan hệ nhưng chỉ ở một mức độ nhất định, về
cơ bản nhà làm luật luôn đi sau sự phát triển của các quan hệ xã hội Có thể nói đây là một trong những hạn chế cơ bản nhất của văn bản pháp luật thành văn so với hệ thống
án lệ
Án lệ mang tính thực tiễn cao
Các thẩm phán khi giải quyết vụ việc không nhằm mục đích tạo ra các quy tắc
mà chủ yếu nhằm giải quyết tranh chấp của các bên về những vấn đề nhất định trong một vụ việc cụ thể Có thể nói án lệ xuất phát từ thực tiễn và dùng để giải quyết công việc của thực tiễn Trong những tình huống nhất định luật pháp luôn đi tìm các giải pháp để giải quyết vấn đề từ thực tiễn, các giải pháp này không mang nặng lý thuyết, không thiên về lý luận mà dễ vận dụng Trái ngược với pháp luật thành văn, các thẩm phán khi áp dụng các quy phạm pháp luật là áp dụng một cách gián tiếp, có những
Downloaded by nhung nhung (nhungnguyen949595@gmail.com)
Trang 13ngôn ngữ pháp lý nặng về lý thuyết, đôi khi khó hiểu, gây mơ hồ, buộc các thẩm phán phải đi giải mã, tìm kiếm và giải thích về những quy định đó.
Án lệ mang tính mềm dẻo, linh hoạt
Các luật gia của “common law” cho rằng văn bản pháp luật thành văn là cái gì
đó quá khô khan và cứng ngắc Các quy phạm pháp luật đôi khi không bắt kịp với xu thế vận động và phát triển không ngừng của các quan hệ xã hội, trở nên lạc hậu so với điều kiện kinh tế, chính trị- xã hội mới Tình trạng này tạo ra sự đánh đố cho người áp dụng pháp luật- các thẩm phán, một mặt với yêu cầu của nguyên tắc pháp chế bắt họ phải trung thành với luật của nghị viện, mặt khác khi áp dụng các quy phạm pháp luật bất hợp lý có thể dẫn tới thiếu sự công bằng Để khắc phục những quy phạm pháp luậtnày thì cần phải sửa đổi, bổ sung luật thông qua một quy trình phức tạp tốn nhiều thời gian và công sức của nghị viện Tuy nhiên, tiến trình này không có điểm kết thúc khắcphục những quy phạm pháp luật lạc hậu này thì các quy phạm pháp luật lạc hậu khác cũng được tạo ra Những hạn chế trên sẽ không tìm thấy trong hệ thống án lệ, vì các quy tắc tồn tại trong các phán quyết của tòa án không rõ ràng như các quy phạm pháp luật trong văn bản pháp luật thành văn nên khi một quy tắc không hợp lý hoặc không phù hợp nữa với điều kiện kinh tế- xã hội mới thì các thẩm phán sẽ tìm cách phân biệt
Downloaded by nhung nhung (nhungnguyen949595@gmail.com)
Trang 14Số lượng án lệ tăng nhiều qua các năm
Các bản án là án lệ tăng liên tục theo thời gian đã gây ra khó khăn trong quá trình vận dụng án lệ Ở Anh thường xuyên xử lý khoảng 800 đến 900 vụ án trong một năm, còn thượng nghị viện thì xử lý khoảng 50 đến 70 trường hợp và đa số đều tạo ra
án lệ Vào năm 1980 có khoảng 350.000 phán quyết được công bố Với khối lượng án
lệ ngày càng đồ sộ đã làm cho các thẩm phán, luật sư ngày càng khó khăn hơn trong việc tìm kiếm các quy tắc thích hợp để giải quyết các vụ việc cụ thể
Hệ thống án lệ không ổn định
Mặc dù án lệ được áp dụng linh hoạt, thực tế song trong một vài trường hợp các thẩm phán, luật sư lại né tránh áp dụng tiền lệ bằng cách đưa ra các tình tiết khác biệt Do đó dẫn đến sự bất ổn định của hệ thống án lệ
H, sinh năm 1977; trú tại phố A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Bị hại: Ông Dương Quang Q
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 1 phần “Nhận định của Tòa án”
Khái quát nội dung của án lệ:
Trang 15Khi thực hiện tội phạm, người thực hành dùng mã tấu chém liên tiếp vào vùng đầu, mặt, chân, tay của bị hại; việc bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của người thực hành
Người xúi giục không có mặt khi người thực hành thực hiện tội phạm, không biết việc người thực hành sử dụng mã tấu chém vào những vùng trọng yếu trên cơ thể
bị hại nhưng đã để mặc cho hậu quả xảy ra
Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, người thực hành phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với tình tiết định khung là “Có tính chất côn đồ” Người xúi giục bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” nhưng không bị áp dụng tình tiết định khung
“Có tính chất côn đồ”
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
- Điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng điểm n khoản 1 Điều
đi từ Hà Tĩnh về Thừa Thiên Huế và rủ thêm Phạm Nhật T cùng đi đánh ông Q Khi
Downloaded by nhung nhung (nhungnguyen949595@gmail.com)