1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận Lực Lượng Sản Xuất Quan Hệ Sản Xuất

7 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ là khâu trung tâm của mô hình kinh tế. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng: mối quan hệ ấy được quy định một cách khách quan bởi trình độ phát triển kinh tế thị trường của dân tộc và của thời đại. Nói cách khác mối quan hệ ấy là điểm gặp hay điểm kết nối giữa trình độ phát triển của dân tộc và trình độ phát triển của thời đại. Đó là căn cứ khoa học để định hướng xây dựng mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất theo con đường phát triển rút ngắn. Tính năng động chủ quan sáng tạo trong xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất kinh tế đặc trưng ( trường hợp phát triển rút ngắn) trước hết là nhận thức đúng đắn và vận dụng hợp lý

Trang 1

Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ là khâu trung tâm của mô hình kinh tế Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng: mối quan hệ ấy được quy định một cách khách quan bởi trình độ phát triển kinh tế thị trường của dân tộc và của thời đại Nói cách khác mối quan

hệ ấy là điểm gặp hay điểm kết nối giữa trình độ phát triển của dân tộc và trình độ phát triển của thời đại Đó là căn cứ khoa học để định hướng xây dựng mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất theo con đường phát triển rút ngắn Tính năng động chủ quan sáng tạo trong xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất kinh tế đặc trưng ( trường hợp phát triển rút ngắn) trước hết là nhận thức đúng đắn và vận dụng hợp lý:

- Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nước

-Trình độ và xu hướng phát triển lực lượng sản xuất trong kinh tế thị trường hiện nay – kinh tế tri thức

-Tìm ra điểm kết nối hợp lý hai trình độ ấy trong từng giai đoạn phát triển đó là cơ sở để định hướng xây dựng quan hệ sản xuất và quan hệ chính trị - kinh tế

Thực trạng kinh tế hiện nay còn cho thấy: nếu chỉ dừng lại ở bước chuyển từ mô hình kinh tế cũ sang kinh tế thị trường nhiều thành phần, hoặc chạy theo tỷ lệ tăng trưởng GDP thì không thể có mối quan hệ đúng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, do đó không có động lực và chất lượng phát triển Vì vậy để định hướng đúng mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất với hoàn thiện quan hệ sản xuất ở nước ta trong một, hai thập kỷ tới, cần phải nhận rõ những quy luật chung của kinh tế thị trường hiện nay ( hiện còn vận động dưới hình thái tư bản chủ nghĩa) và quy luật đặc thù của kinh tế thị trường phát triển rút ngắn ở Việt Nam Muốn nhận thức đúng những quy luật đó phải quan niệm đó là những quá trình lịch sử - tự nhiên

mà chúng ta phải căn cứ vào đó để vận dụng một cách sáng tạo

Từ nghiên cứu những quy luật đó ( không trình bày ở đây), có thể rút

ra một số kiến nghị làm định hướng xây dựng mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất sau đây:

1 Xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất phải căn cứ vào tính chất và trình độ phát triển lực lượng sản xuất.

Đây là nguyên lý biện chứng trong phát triển kinh tế thị trường tính chất

Trang 2

và trình độ lực lượng sản xuất nước ta còn ở gia đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, trong khi lực lượng sản xuất ở các nước phát triển đã tiến sâu vào giai đoạn đầu của kinh tế tri thức Xét về lực lượng sản xuất, kinh tế thị trường Việt Nam còn cách xa kinh tế thị trường nước phát triển một thời đại kinh tế Quá trình toàn cầu hóa ( và hội nhập) đang tạo ra điều kiện cần và

đủ cho việc xác định điểm kế nối giữa hai trình độ lực lượng sản xuất thấp

và cao

Xác định rõ điểm kết nối này là căn cứ chủ yếu để định hướng xây dựng

và hoàn thiện quan hệ sản xuất ở nước ta Không thể dựa vào sự đồng thuận tập thể về tư duy chính trị để xác định hình thức quan hệ sản xuất một cách chủ quan Tư duy chính trị đúng là nhìn thẳng vào điểm kết nối giữa hai trình độ phát triển lực lượng sản xuất mà xác định hệ thống quan hệ sản xuất

và nhìn vào sự di chuyển điểm kết nối theo hướng kinh tế tri thức mà hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất đó là cơ sở để chủ động sáng tạo trong lãnh đạo, quàn lý kinh tế Cách xác định quan hệ sản xuất theo con đường phát triển rút ngắn này được gợi ý từ chính sách kinh tế mới (NEP) của Lênin cách đây gần một thế kỷ

Lịch sử cho thấy rằng xác định sai quan hệ sản xuất là một trong những nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu

2 Đổi mới mô hình kinh tế là điều kiện để xác định đúng điểm kết nối giữa hai trình độ phát triển lực lượng sản xuất cao và thấp.

Từ thế kỷ 21 mà nhìn lại 300 năm phát triển kinh tế thị trường thì thấy rõ:

Mô hình kinh tế trong thời đại kinh tế công nghiệp, vận động theo hướng

“tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội và tàn phá môi trường” đây

là đặc trưng của các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, phù hợp với quan hệ sản xuất tư bản Mô hình kinh tế trong thời đại kinh tế tri thức tuy mới hai thập

kỷ cho thấy xu hướng vận động của nó là “tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến

bộ xã hội và thân thiện với môi trường” Chính xu hướng thời đại này đáng

là sức ép mạnh nhất đối với quan hệ xã hội tư bản, biểu hiện trong cuộc đại khủng hoảng từ 2008 có tính toàn cầu Đây không chỉ là khủng hoảng tài chính, mà thực chát là khủng hoảng thể chế kinh tế - chính trị ( tức quan hệ sản xuất) Như vậy, mô hình kinh té trong thời đại hiện nay không phát triển

Trang 3

theo hướng chạy theo tăng trưởng, tìm lợi nhuận cho chủ đầu tư như mô hình kinh tế công nghiệp, mà theo hướng phát triển bền vững mô hình kinh

tế nước ta hiện nay vẫn là mô hình kinh tế công nghiệp nhưng lại được định hướng xã hội chủ nghĩa ( tức hậu công nghiệp) Đó là một mâu thuẫn, một nghịch lý Do đó, muốn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa ( với nội hàm

là phát triển bền vững) thì không có con đường nào khác là phải thay đổi mô hình kinh tế hướng theo thời đại kinh tế tri thức

Nội dung chủ yếu của đổi mới mô hình kinh tế là:

Thứ nhất: khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài Phải ở trình độ kinh tế

tri thức nhằm mấy mục tiêu:

- Tăng sức cạnh tranh cho hàng xuất khẩu của nước ta

- Góp phần tạo lập dần cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế tri thức

-Khu vức này phải tạo điều kiện để trở thành nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ( những lao động tri thức cho sản xuất và quản lý)

- Phòng tránh nước ngoài biến nước ta thành bãi rác công nghệ thông qua đầu tư

Thứ hai: khu vực doanh nghiệp nhà nước và kinh tế nhà nước phải được tổ chức theo hướng:

-Đi đầu trong xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của kinh tế tri thức cho nền kinh tế quốc dân

-Năng cao chất lượng nguồn nhân lực theo hướng lao động trí thức với những tiêu chí công khai ( về trình độ nghề nghiệp, về thu nhập, về văn hóa) Do đó phải đầu tư vào hướng chính là giáo dục đào tạo và phát triển nền khoa học và công nghệ Quốc gia

- Căn cứ vào yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất mà thực hiện

cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, không nên vì các tổng công ty hoạt động kém hiệu quả mà cổ phần hóa

- Cổ phần hóa dựa trên trình độ phát triển cao của các lực lượng sản xuất tất yếu sẽ chuyển hóa sở hữu nhà nước thành sở hữu xã hội và sở hữu

cá nhân, tạo ra cơ sở kinh tế cho quá trình “sự phát triển của mỗi người đồng thời với sự phát triển của mọi người” Cần quyết tâm khắc phục khuynh hướng biến sở hữu nhà nước thành sở hữu tư nhân thông qua cổ phần hóa”

Trang 4

tạo ra nguy cơ chệnh hướng.

- Cơ quan giám sát, kiểm tra của quốc hội phải hướng trọng tâm vào giám sát khu vực kinh tế nhà nước Phải đề cao tính chủ động, độc lập của

cơ quan này theo luật định

Thứ ba: đổi mới mô hình kinh tế nước ta phải coi vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn là một trong những trọng tâm Để khu vực này (còn chiếm hơn 70% dân số) phát triển bền vững và ổn định, cần có hai hướng biện pháp cấp bách:

- Sớm sửa chữa những sai lầm trong công tác quy họach phát triển công nghiệp và giao thông, phát triển đô thị, gây ra tổn thất lớn về đất nông nghiệp, đất rừng, tàn phá môi trường, nhiều vấn đề an sinh, xã hội nảy sinh

- Sớm có giải pháp khắc phục tác động của biến đổi khí hậu đang tạo nguy cơ thu hẹp nhanh đất nông nghiệp ở hai đồng bằng lớn ở nước ta, nhiều triệu dân nông thôn phải di dời Đặc biệt phải chú ý đến vấn đề sông Mê Công biến đổi xấu do hệ thống đập khổng lồ của Trung Quốc gây ra, tác động xấu đến nước ta

- Là nước có thế mạnh về nông nghiệp; Việt Nam cần thấy rõ cơ hội và thác thức trước dự báo của thế giới về nạn đối, sự trở lại “vai trò hàng đầu của nông nghiêp”, về quan điểm coi lương thực quan trọng như dầu mỏ,

về “chủ nghĩa thực dân mới” trong vấn đề mua đất nông nghiệp hoặc các dự

án khai thác thời hạn 99 nămnhư đã diễn ra ở một số nước

- Xây dựng hệ thống khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp nông thôn; phát triển hình thức liên kết bốn nhà (nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nước) theo định hướng phát triển “nền kinh tế xanh” Nếu làm thí điểm và phát triển loại hình “doanh nghiệp xanh và công nghệ” trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, hỗ trợ và thúc đẩy cả đầu vào

và đầu ra của kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại hóa

3 Đổi mới về tổ chức và quản lý doanh nghiệp theo hướng kinh tế tri thức.

Doanh nghiệp trong kinh tế thị trường đã phát triển qua hai giai đọan

về mặt quản lý Giai đọan đầu hàng mấy trăm năm doanh nghiệp phát triển chủ yếu nhờ nguồn vốn đầu tư và máy móc Còn giai đọan hiện nay sự phát

Trang 5

triển của doanh nghiệp chủ yếu dựa vào khoa học công nghệ và lao động trí thức vì vậy quản lý doanh nghiệp càng trải qua hai giai đọan Giai đọan đầu thì coi trọng quản lý vốn và lợi nhuận như là mục đích củ quản lý còn các thứ khác (kể cả người lao động) là những điều kiện, những công cụ mà thôi Còn ở giai đọan này, trọng tâm của quản lý là lao động tri thức Hàm lượng chất xám trong sản phẩm (thể hiện sức cạnh tranh) bắt nguồn từ hàm lượng chất xám trong quản lý thể hiện ở hiệu quả tổ chức và họat động quàn lý

Muốn đổi mới tổ chức và quản lý doanh nghiệp cần phải:

a.Nhận rõ những đặc điển chủ yếu của hoạt động quản lý doanh nghiệp trong giai đọan mới gồm:

-Thu hút và đầu tư cho nguồn lực nhất là nguồn quản lý chất lượng cao là nhân tố bảo đảm hiệu quả của doanh nghiệp trong cạnh tranh

- Khác với giai đọan trước kinh tế thị trường trong giai đọan kinh tế trí thức sẽ biến đổi nhanh đòi hỏi hệ thống quản lý phải nhạy cảm, nang động, người ta gọi đó là “ quản lý sự thay đổi” (change management)

- Rút ngắn tối đa khỏang cách giữa họat động doanh nghiệp với cung

và cầu của xã hội, của nhân dân Hệ thống quản lý chỉ có hệ thống công cụ internet càng không thay thế được sự giao tiếp với thái độ chân thành với đối tác nhưng để họ chứng nhận mà còn tin tưởng

b chất lượng và hiệu quả hoạt động phụ thuộc vào người lãnh đạo doanh nghiệp vì vậy, việc đào tạo, sử dụng nguồn lực lãnh đạo có ý nghĩa quyết định những đặc điểm chủ yếu và hoạt động quản lý giai đoạn mới đã tạo ra tiêu chí lựa chọn những lãnh đạo doanh nghiệp sau đây

Người lãnh đạo phải là chuyên gia có tính liên nghành Nhờ đó họ có thể phát hiện, đánh thức tài năng của mọi người, nhạy cảm với những sáng tạo của cấp dưới người lãnh đạo giỏi sẽ tạo ra một tập thể tài năng, chứ không phải là tổ chức có tính bầy đàn Một người lãnh đạo giỏi biết nghe là tin tốt và tin xấu của tình hình để phân tích Họ là những người ham muốn

sự phát triển bền vững và dị ứng nới “ bệnh thành tích”

- giao tiếp thường xuyên với quần chúng với phong cách cởi mở là một tiêu chí của người lãnh đạo thế kỷ 21 do đó, họ phải có hiểu biết và phẩm chất văn hóa để tiếp cận và quản lý tính đa dạng văn hóa trong thị trường và hội nhập thế giới

Trang 6

- người lãnh đạo giai đoạn này phải là tấm gương về tự học và đổi mới để chuyển từ thế “chữa cháy” sang thế “phòng cháy” từ bị động sang chủ động trước biến đổi nhanh của thị trường sự phát triển toàn diện của cá nhân người lãnh đạo sẽ là điều kiện quan trọng nhất cho sự phát triển của mọi người tronh doanh nghiệp

- thước đo sự phát triển của người lãnh đạo là khă năng thực hiện sự phát triển đồng thời cả về kinh tế, xã hội và môi trường đó cũng là trách nhiệm, đạo đức doanh nhân đối với thế hệ hiện nay và mai sau

4 xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường trong giai đoạn hiện nay.

Thể chế kinh tế thị trường là một hệ thống phản ánh mối quan hệ trong vận động và phát triển giữa hoạt động quản lý của nhà nước với hoạt động kinh tế thị trường ( thể hiện ở hệ thống doanh nghiệp) và vai trò của các tổ chức xã hội thể chế kinh tế là sự cụ thể hóa mối quan hệ giũa lực lượng sản xuất xã hội với quan hệ sản xuất tương ứng xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, thực chất là thành lập mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ trong vận động phát triển hiện thực thể chế kinh tế, xã hội mới

Trong hơp hai thập kỷ chuyển sang kinh tế thị trường, nước ta đã tạo

ra những tiền đề cần thiết cho việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường theo định hướng vạch ra Những tiền đề đó là: sự ra đời và hình thành hành vạn doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ, đã đặt ra yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân ; đã hình thành hàng vạn các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp, các hội và liên hiệp hội khoa học và công nghẹ trên cả nước

Vấn đề đặt hiện nay là đưa các tiền đề này vào thể chế xây dựng mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền với hệ thống doanh nghiệp và hệ thống các tổ chức xã hội, nghề nghiệp ngoài nhà nước Thể chế kinh tế thị trường

là một cấu trúc hệ thống giữa nhà nước với doanh nghiệp và các tổ chức xã hội nghề nghiệp Ba bộ phận thường xuyên trao đổi tương tác trong vận động phát triển Nhờ đó mỗi bộ phận tìm ra phương án tối ưu cho hoạt động của mình, đồng thời tạo ra sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế

Trang 7

Nhà nước pháp quyền

Hệ thống doanh nghiệp các tổ chức xã hội dân sự

Sự vận động của thể chế theo quy luật khách quan sẽ có ý nghĩa bảo đảm thực hiện đường lối, chính sách theo hướng “ tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” tức là phát triển bền vững (nội hàm của định hướng xã hội chủ nghĩa)

Để xây dựng thể chế nói trên trong điều kiện hiện nay cần phải giải quyết mấy vấn đề chủ yếu:

a Đổi mới mô hình kinh tế - từ phát triển chạy theo tăng trưởng GDP sang phát triển bền vững

b Đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân trong đó tổ chức lập pháp, hành pháp, tư pháp Trong bố trí nhân sự nhất

là cấp trưởng Quá trình tổ chức nhà nước phải quán triệt giá trị Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền nhân nghĩa Trong đó nổi bật là dân làm chủ

và dân kiểm soát nội bộ nhà nước

c. Xây dựng thể chế gồm 3 bộ phận như 1 hệ thống quan hệ 2 chiều, thì sẽ tạo ra hiệu quả thực tế là:

- Bảo đảm tăng trưởng của cải thực hiện “dân giàu”

- Xây dựng chế độ dân chủ mới

- Xây dựng nền văn hóa mới

- Nâng cao hiệu quả và chất lượng của chủ trương “Xây dựng đảng là then chốt”

Thể chế kinh tế mới, do đó cũng là cho thể chế dân chủ, đưa nước ta vượt lên cùng thời đại

Ngày đăng: 28/03/2022, 19:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w