Trình bày một số phương pháp nghiên cứu được sử dụng như: Phương pháp phân tích tương quan; Phương pháp nâng trường; Phương pháp Gradient ngang cực đại; Phương pháp tính đạo hàm chuẩn h
Trang 1Cấu trúc địa chất sâu khu vực trũng sâu biển Đông và lân cận theo tài liệu địa vật lý
Trần Văn Khá
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Luận văn Thạc sĩ ngành: Vật lý địa cầu; Mã số: 60 44 15
Người hướng dẫn: TS Hoàng Văn Vượng
Năm bảo vệ: 2012
Deep geological structure of the deep basin of the East Sea and adjacent based on geophysics data
59 tr.
Abstract Tổng quan tình hình nghiên cứu địa chất - địa vật lý, địa chất kiến tạo khu
vực trũng sâu Biển Đông và vùng lân cận Trình bày một số phương pháp nghiên cứu được sử dụng như: Phương pháp phân tích tương quan; Phương pháp nâng trường; Phương pháp Gradient ngang cực đại; Phương pháp tính đạo hàm chuẩn hóa toàn phần; Giải bài toán ngược đối với vật thể hai chiều Nghiên cứu cơ sở dữ liệu
và tư liệu sử dụng Trình bày một số kết quả tính toán và minh giải: Tính hệ số tương quan bội giữa độ sâu tới móng với độ sâu đáy biển và dị thường trọng lực và xây dựng hàm hồi quy giữa chúng; Hệ thống đứt gẫy xác định theo kết quả tính gradient mã của dị thường trọng lực; Một vài mức nâng trường dùng để xác định dị thường dư Moho; Mặt cắt cấu trúc địa chất sâu theo tài liệu trọng lực - địa chấn; Sơ
đồ địa hình bề mặt Moho; Sơ đồ bề dầy trầm tích
Keywords Vật lý địa cầu; Địa chất học; Biển Đông; Địa vật lý; Cấu trúc địa chất
Content
Luâ ̣n văn “ Cấu trúc đi ̣a chất sâu khu vực trũng sâu Biển Đông và lân cận theo tài
liê ̣u đi ̣a vật lý” có những nội dung chính sau:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu cấu trúc địa chất sâu khu vực trũng sâu Biển Đông và lân cận theo tài liệu địa vật lý ( khu vực có tọa độ φ=6÷160N, 𝝀=108÷1160E) tác giả đã thử nghiệm một số phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích tương quan bội: giữa độ sâu tới đáy trầm tích theo tài liệu địa chấn, dị thường trọng lực , độ sâu đáy biển trên khu vực nghiên cứu với mục đích là xây dựng được hàm hồi quy tuyến tính giữa chúng
- Phương pháp nâng trường: xác định dị thường dư cũng như trường phông khu vực nghiên cứu (theo tuyến và theo diện)
- Phương pháp Gradient ngang cực đại với mục đích xác định hệ thống đứt gẫy trên diện theo số liệu trọng lực
- Phương pháp gradien chuẩn hóa toàn phần theo tuyến cũng như theo diện để xác định những điểm đặc biệt
Trang 22 2 1 1
2 1 2 1 2 2 2
2 1
x x r
x x
r yx
r yx
r yx
r yx r R
- Tính toán mô hình trọng lực 2d trên khu vực nghiên cứu để xác định cụ thể cấu trúc địa chất trên các các tuyến
2.1 Phương pháp phân tích tương quan
a Liên hệ tương quan và phương pháp phân tích tương quan
Một phương pháp toán học áp dụng vào việc phân tích thống kê nhằm biểu hiện và nghiên cứu mối liên hệ tương quan giữa các tham số của hiện tượng tự nhiên gọi là phân tích tương quan
Hệ số tương quan bội được xác định bởi công thức sau:
2.2 Phương pháp nâng trường
Tiếp tục giải tích trường lên nửa không gian trên là phép biến đổi trường thế đo được trên một mặt nào đấy thành trường thế ở một bề mặt khác xa các nguồn hơn Như ta đã biết, phép biến đổi này làm suy yếu các dị thường tùy theo bước sóng của chúng Dị thường có bước sóng càng ngắn càng bị suy yếu mạnh Theo nghĩa này, quá trình tiếp tục trường lên trên là một quá trình làm suy biến các đại lượng đo được Chúng có một ứng dụng rất to lớn trong thực tế
Cơ sở của phép tiếp tục giải tích trường lên trên là đẳng thức thứ ba của Green Theo đẳng thức này, nếu hàm U là điều hòa, liên tục và có đạo hàm liên tục trên một vùng có biên đều đặn R, thì giá trị của U tại điểm P nằm phía trong R được cho bởi phương trình:
(2.2) Trong đó S là biên của R, n là hướng pháp tuyến ngoài còn r là khoảng cách từ P đến điểm tích phân trên S
Qua các tính toán khác chúng ta sẽ thu được một công thức khác của phương trình 2.2
(2.3)
Trong đó:
(2.4)
Việc tiếp tục giải tích trường lên nửa không gian trên có thể tiến hành trong miền không gian hoặc miền tần số Trong khuôn khổ luận văn này tôi sử dụng việc tiếp tục giải tích lên nửa không gian trên trong miền tần số
Nếu trường thế U đo được trên mặt z = z0 trong phạm vi đủ rộng so với kích thước của nguồn, thì tồn tại biến đổi Fourier F [U] của nó Biểu diễn trong miền tần số của phương
U(x,y,z z) U x y z( , , )u(x x y, y , z dx dy)
2 2 2 3/2
1 ( , , )
u
z
x y z
x y z
Trang 3trình (2.3) tìm được bằng cách biến đổi cả hai vế của phương trình (2.3) qua miền tần số và
áp dụng lý thuyết tích chập:
(2.5)
Với F [Uu] là biến đổi Fourier của trường đã tiếp tục lên trên Ở đây điều cần thiết là tìm biểu diễn giải tích của F[Ψu] Chú ý rằng:
(2.6)
Trong đó và biết rằng: (2.7)
Vì vậy, việc tiếp tục trường thế ở mức này sang một mức khác có thể thực hiện được bằng cách biến đổi Fourier tài liệu đã đo được, nhân với số hạng hàm mũ của phương trình (2.7) rồi sau đấy biến đổi Fourier ngược tích số vừa thu được
Từ phương trình (2.7) ta thấy rằng quá trình tiếp tiếp nâng trường lên trên làm yếu dần tất cả các số sóng( trừ |k| = 0) Sóng có bước sóng càng ngắn càng bị làm yếu càng nhiều
và mức độ làm suy yếu cũng tăng theo gia số ∆z Phương trình (2.7) là hàm thực, không có
thành phần pha và do đó không có sự thay đổi pha đối với trường được tiếp tục lên trên
2.3 Phương pháp Gradient ngang cực đại
Phương pháp này được đề xuất bởi Cordel và Grauch (1982,1985) để xác định biên của nguồn gây dị thường thực hiện theo các bước sau đây:
Bước 1 Tính đạo hàm ngang các thành phần trên lưới số liệu
H[∆𝑔(𝑥, 𝑦)]= 𝜕𝑦𝜕𝑥 2+ 𝛿𝑦𝛿𝑦 2 (2.8)
là dị thường trọng lực Bugher
Bước 2 Xác định Gradient ngang cực đại: từ đạo hàm ngang chúng ta sẽ xác định giá trị Gradient ngang cực đại trên từng ô lưới điều đó có nghĩa là chúng ta sẽ so sánh giá trị H
đó với 8 điểm xung quanh theo bất đẳng thức:
H ∆𝑔 𝑖 − 1, 𝑗 < H ∆𝑔 𝑖, 𝑗 > H ∆𝑔 𝑖 + 1, 𝑗
H ∆𝑔 𝑖, 𝑗 − 1 < H ∆𝑔 𝑖, 𝑗 > H ∆𝑔 𝑖, 𝑗 + 1
H ∆𝑔 𝑖 − 1, 𝑗 − 1 < H ∆𝑔 𝑖, 𝑗 > H ∆𝑔 𝑖 + 1, 𝑗 + 1
H ∆𝑔 𝑖 + 1, 𝑗 − 1 < H ∆𝑔 𝑖, 𝑗 > H ∆𝑔 𝑖 − 1, 𝑗 + 1
Giá trị cực đại của H ∆𝑔 𝑖, 𝑗 sẽ được xác định bằng một đa thức bậc 2
Vị trí liên hệ với giá trị cực đại H ∆𝑔 𝑖, 𝑗 được xác đi ̣nh bởi:
𝑥𝑚𝑎𝑥 = −𝑏𝑑2𝑎
Ở đây: 𝑎 =12 H ∆𝑔 𝑖 − 1, 𝑗 − 2H ∆𝑔 𝑖, 𝑗 + H ∆𝑔 𝑖 + 1, 𝑗
b=12 H ∆𝑔 𝑖 + 1, 𝑗 − H ∆𝑔 𝑖 − 1, 𝑗
( , , )
2
u x y z
z r
/ 0
( )
/ 0
1
k z z e
u u
F U F U F
Trang 4d là khoảng cách giữa các điểm trên lưới Giá trị đạo hàm ngang tại 𝑥𝑚𝑎𝑥 được xác
đi ̣nh bởi:
H ∆𝑔 𝑚𝑎𝑥 = 𝑎𝑥𝑚𝑎𝑥2 + 𝑏𝑥𝑚𝑎𝑥 + H ∆𝑔 𝑖, 𝑗 (2.9)
Phương pháp Gradient ngang cực đa ̣i tro ̣ng lực cho phép chúng ta xác đi ̣nh được các đứt gẫy, đây là mô ̣t phương pháp rất cần thiết để xác định các đứt gẫy trên Biển Đông , đă ̣c biê ̣t là trũng sâu biển đông nơi mà số liê ̣u đi ̣a chấn sâu không có nhiều Tại khu vực trũng sâu chúng ta có chủ yếu là số liệu từ-trọng lực thành tầu và số liệu trọng lực vệ tinh
2.4 Phương pha ́ p tính đa ̣o hàm chuẩn hóa toàn phần
Đây là một phương pháp mạnh để giải các bài toán cấu trúc địa chất của tác giả V.M.Beriozkin công thức tổng quát có dạng:
GH = (2.10)
Trong đó Vxz và Vzz là các đạo hàm tương ứng của trường trọng lực; M là số điểm đo trên lát cắt tiến hành chuẩn hóa
Ở đây:
L là chiều dài của tuyến đo, N là số hài cần lựa cho ̣n
(2.11)
(2.12)
Trong tính toán người ta nhân hê ̣ số Bn với tham số điều chỉnh An với mu ̣c đích làm giảm nhiều ở biên trong quá trình hạ trường
Tính chất quan trọng nhất của toán tử GH là: trên mặt phẳng thẳng đứng thuộc nửa không gian dưới giá trị GH cực đại sẽ trùng với mép trên của khối dị thường thành tạo hoặc tâm của dị thường trọng lực Các cực trị của hàm GH cho phép xác định các ranh giới biến đổi mật độ , các miền phá huỷ, vị trí các vật thể hấp dẫn với sai số 10 15% Đặc biệt phương pháp này hạn chế được nhiều sai số của tài liệu trọng lực
2.5 Giải bài toán ngược đối với vật thể hai chiều
Bài toán được đặt ra như sau: Giả sử có một bề mặt phân chia mà mật độ dư biến đổi,
sự khác nhau về mật độ giữa lớp trên và lớp dưới của lát cắt nghiên cứu cũng thay
1
0
2 2
2 2
1 M
zz xz
zz xz
V V M
V V
Trang 5(p) (p) 2
Z (x)=Z (ξ)=b +t p 1p ξ+t ξ 2p
(h) qs i lt i i=1
F =Δg (x )-Δg (x ,h)
đổi dọc theo tuyến Trên trục ox lấy x=dj ( j=1, 2, m) các tham số dj được lấy sao
cho [dp dp+1] của bề mặt tiếp xúc có thể được xấp xỉ bởi hàm số không phức tạp, ví dụ:
(2.13)
Các tham số b, t1, t2 ở các đoạn khác nhau sẽ có thể thay đổi Khi đó nếu lớp dưới có
sự khác biệt về mặt mật độ khối được đặc trưng bởi các phương trình x=dk Các đại lượng dk
là một chuỗi cố định
Bề mặt tiếp xúc là một hàm số trơn từng khúc z=z(x) Dị thường trọng lực được gây
nên bởi tất cả các điểm trên bề mặt có độ sâu hm sẽ được tính bằng công thức:
(2.14)
Trong đó là hiệu ứng trọng lực từ tâm khối thứ j, được tính theo
công thức:
(2.15)
Nếu mật độ khối không đổi thì tính theo công thức:
(2.16)
Nếu các điểm liên tiếp x=dj được lấy với mật độ dày đặc thì độ sâu z được tính theo
công thức:
(2.17)
Trong trường hợp này, khi ranh giới trên là một cạnh của hình thang cong bất kỳ thì ta
có công thức
( 2.18)
Bài toán ngược sẽ được giải khi cực tiểu hoá phiếm hàm:
CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ TƢ LIỆU SỬ DỤNG
1 Cơ sơ ̉ số liê ̣u sƣ̉ du ̣ng
Các số liệu thu được từ khảo sát địa chấn thăm dò, địa chấn sâu là nguồn số liệu tựa
trong quá trình chính xác hoá các ranh giới cấu trúc cũng như sự biến đổi mật độ của các lớp
đất đá trong vỏ trái đất Trên cơ sở đó các tác giả tiến hành tính toán, mô hình hoá, thực hiện
các bước nội ngoại suy, các phép hiệu chỉnh nhằm xây dựng một bản đồ ranh giới các mặt
d j
Δg (x)
j
m-1
j=1
Δg(x)= Δg (x)+Δg(d ,h ,h ,x)
1 0
( )
j
j
d h
j j
d dx ds
0
( )
( ) ( ) ln
( )
j
j
d
d
(p)
z (ξ)=b +t ξ p 1
j+1
j
j
d
Δg (x)=kσ (x-ξ)ln -2h arctg +2h arctg
Trang 6cấu trúc như mặt móng trước Kainozoi, Conrad, Moho, hệ thống đứt gãy, các mặt cắt tổng hợp địa chất-địa vật lý trên vùng nghiên cứu
Nguồn số liệu trọng lực trong khu vực nghiên cứu rất đa dạng phong phú nhưng còn chưa đồng bộ Chúng có nguồn gốc từ các chuyến khảo sát trong nước, và từ các dự án khảo sát thăm dò hợp tác với nước ngoài Ngoài các nguồn số liệu khảo sát đo đạc thành tàu đã được sử lý liên kết vào một bản đồ chung còn thu thập các nguồn số liệu khảo sát từ vệ tinh
về độ sâu đáy biển, các số liệu về trường dị thường từ… Nguồn dữ liệu trọng lực vệ tinh có
độ phân giải đồng nhất cũng như tính đồng bộ cao, thể hiện rõ nét được các cấu trúc địa chất trong khu vực Các Bản đồ dị thường trọng lực Fai và Bughe được xây dựng và bổ sung hoàn chỉnh ở tỉ lệ 1:1.000.000 (đề tài KC-09-02) với độ phân giải chi tiết thoả mãn với yêu cầu của
đề tài đặt ra là số liệu trọng lực chủ yếu được sử dụng để xác định đặc trưng cấu trúc sâu trong đề tài
Nguồn số liê ̣u sƣ̉ du ̣ng trong luâ ̣n văn này :
- Số liệu đô ̣ sâu Topo (nguồn vê ̣ tinh ) và nguồn độ sâu Gebco (The General Bathymetric Chart of the Oceans) tỷ lệ 1:200.000
- Số liệu bề dầy trầm tích toàn cầu tỷ lệ 1:1000.000 tại địa chỉ:
(http://www.ngdc.noaa.gov/mgg/sedthick/sedthick.html)
- Nguồn số liệu tro ̣ng lực Free air vê ̣ tinh tỷ lê ̣ 1 :200.000 tại địa chỉ:
http://topex.ucsd.edu/cgi-bin/get_data.cgi
- Số liệu tro ̣ng lực Geodas (số liê ̣u tro ̣ng lực thành tầu đã được công bố và cho miễn phí trên internet) tại địa chỉ: http://maps.ngdc.noaa.gov/viewers/geophysics
- Số liệu tro ̣ng lực thành tầu được đo tiến hành đo bởi trung tâm khoa ho ̣c Viễn Đông Nga trên các tàu Lavrentiev R /V cruise, 1987, Gagarynsky R /V cruises, 1990-1992 với tỷ lê ̣ trên tuyến 1:200.000
- Số liệu từ -trọng lực thành tầu và số liệu địa chấn đo sâu 7-10s được đo bởi PVEP năm 2007-2008 trong dự án “X ác định ranh giới ngoài thềm lục địa Việt Nam ” với tỷ lê ̣ đo trên
tuyến 1:100.000
Ngoài ra một số nguồn số liệu được dùng để tham khảo trong luâ ̣n văn này như: bản đồ
dị thường trọng lực Bugher tỷ lệ 1:1000.000 (đươ ̣c lưu trữ ta ̣i Viê ̣n Đi ̣a chất và Đi ̣a vâ ̣t lý ), Bản đồ cấu trúc sâu (lưu trữ ta ̣i Viê ̣n Đi ̣a chất và Đi ̣a vâ ̣t lý Biển) tỷ lệ 1:1000.000
MỘT SỐ KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Một số kiến nghị
Từ các kết quả tính toán , phân tích và minh giải về cấu trúc địa chất sâu trên khu vực trũng sâu Biển Đông có thể đưa ra một số kết luận sau đây:
+ Khu vực trũng sâu Biển Đông : Ranh giới Moho là ranh giới giữ a Mantile trên (nơi
có mật độ 3.2g/cm3
) và Bazan (mật đô ̣ khối 2.85g/cm3
), độ sâu tới mă ̣t Moho ta ̣i đây dao
đô ̣ng từ 10÷ 16km Tại khu v ực tru ̣c tách giãn , độ sâu tới bề mă ̣t Moho dao đô ̣ng từ 11÷ 13km, ở hai bên rìa trục tách giãn mă ̣t Moho nằm cao hơn vào khoảng 10÷ 12km
+ Vùng Thềm : Ranh giớ i Moho nằm đô ̣ sâu từ 18÷28km là ranh giới giữa Mantile trên và lớp vỏ dưới (lower Crust mâ ̣t đô ̣ khối 2.9g/cm3
), mặt Moho có đô ̣ sâu 28km ở gần bờ
và nâng dần nên khi ra gần trũng sâu đa ̣i dương
+ Ranh giới giả định là mặt Conrad : là ranh giới giữa lớp vỏ dưới (có mật độ khối 2.9g/cm3) vớ i móng kết tinh (mâ ̣t đô ̣ khối khoảng 2.7g/cm3) đây là mă ̣t có cấu trúc phân di ̣ và chia cắt ma ̣nh ta ̣o nên các c ấu trúc khối phức tạp và rất khó xác định trong địa chấn sâu cũng
Trang 7như số liê ̣u đi ̣a chấn đô ̣ng đất , tuy nhiên để cho mô hình tro ̣ng lực hô ̣i tu ̣ tốt chúng tôi vẫn sử dụng ranh giới này trong việc xây dựng mô hình cấu trúc đị a chất sâu
+ Móng trầm tích: đây là ranh giới giữa móng kết tinh (mâ ̣t đô ̣ khối 2.7g/cm3) và trầm tích (mâ ̣t đô ̣ dao đô ̣ng từ 1.8÷2.55g/cm3
) Tầng trầm tích trên khu vực này dao đô ̣ng lớn Phía Tây Nam (φ=60÷110
N, 1080÷1090
E) trầm tích dầy từ 4÷9km Khu vực Quần đảo Trường Sa bề dầy trầm tích mỏng hơn , tại đây bề dầy vào khoảng 2÷4km Trên vùng Tư Chính Vũng Mây và mô ̣t phần bể Nam Côn Sơn theo kết quả tính toán mô hình tro ̣ng lực 2D và tổng hợp
mô ̣t vài kết quả khác thấy rằng bề dầy trầm tích dao động 2÷7km
+ Trầm tích khu vực trũng sâu trên vùng nghiên cứu này có bề dầy khoảng 0.5÷ 3km, tại trục tách giãn trầm tích dầy đến 3km điều này đã được xác đi ̣nh trên số l iê ̣u đi ̣a chấn sâu cũng như trong các mặt cắt cấu trúc sâu được mô hình hóa trên số liệu trọng lực và cả trong bản đồ bề dầy trầm tích
+ Lớ p trầm tích nằm trên cùng có mâ ̣t đô ̣ từ 1.8÷2.55g/cm3 có bề dầy từ 1÷10km, tại bể Phú Khánh trầm tích dầy khoảng từ 2-7km, khu vực Trường Sa bề dầy trầm tích dao đô ̣ng từ 2-6km, tại khu vực phía Tây Nam (60÷110
, 1080÷1090
) thì trầm tích dầy hơn dao động từ 3-9km
+ Ranh giớ i vỏ đa ̣i dương và vỏ lu ̣c đi ̣a : Hiê ̣n nay chưa có tài liê ̣u nào chỉ ra được chính xác ranh giới này , chúng tôi nhận thấy (hình 26) đường đồng mức đô ̣ sâu tới b ề mặt Moho 14km tương đối trù ng với đường đô ̣ sâu đáy bi ển 3.8km trên vùng trũng sâu Bi ển Đông, vâ ̣y phải chăng ranh giới này trùng với đường đồng mức 14km trên bản đồ Moho?
Một số kiến nghị:
- Cần tiến hành đo đạc số liệu địa vật lý nhiều hơn nữa để có thể làm sáng tỏ hơn nữa
về cấu trúc địa chất sâu trên khu vực trũng sâu và lân cận
- Cần làm sáng tỏ vấn đề có thực sự ở trũng sâu Biển Đông là vỏ đại dương điển hình hay không? Hay nó vẫn là vỏ lục địa hoặc á lục địa đặc trưng cho vùng biển rìa
- Trong tương lai không xa cần có các nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc không gian của trục tách giãn Biển Đông ,cũng như mô hình về cơ chế địa động lực, sự hình thành và phát
triển của vùng trũng sâu đặc biệt này
References
1 Lê Đức Công (2003), Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và địa động lực bể Phú Khánh và
thềm lục địa miền Trung trên cơ sở phân tích tài liệu địa chấn và trọng lực, Luận văn
thạc sỹ, Đại học Mỏ địa chất Hà Nội
2 Phan Trung Điền (2000), Một số biến cố đi ̣a chất Mesozoi muộn – Kainozoi và hê ̣ thống
dầu khí thềm lục đi ̣a Viê ̣t Nam, Hô ̣i Nghi ̣ khoa ho ̣c công nghê ̣, PetroVietnam
3 Lê Huy Minh, Lưu Việt Hùng, Cao Đình Triều (2002), “Sử dụng trường vertơ gradient
ngang cực đại trong minh giải tài liệu từ và trọng lực ở Việt Nam” Tạp chí các khoa học
về trái đất, 24(1), tr 67 - 80
4 Mai Thanh Tân, Đặng Văn Bát và nnk (2003), Biển Đông, NXB Đại học quốc gia Hà Nội,
Hà Nội
5 Đỗ Đức Thanh (2006), Các phương pháp phân tích , xử lý số liê ̣u từ và trọng lực , NXB
Đa ̣i ho ̣c Quốc Gia Hà Nô ̣i, Hà Nội
Trang 86 Cao Đình Triều (2005), Trường Địa vật lý và cấu trúc thạch quyển lãnh thổ Việt Nam,
NXB khoa học và kỹ thuật , Hà Nội
7 Hoàng Văn Vượng, Đào Thị Hà, Nguyễn Văn Bình (2004) “Biểu hiện của các ranh giới
mật độ theo tín hiệu GH”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu Địa chất và Địa vật lý
biển, 8, tr 59-63
8 Hoàng Văn Vượng, Đỗ Chiến Thắng (2003), “Về khả năng minh giải tổng hợp tài liệu
trọng lực, từ nghiên cứu móng trước Kainozoi Thềm lục địa Việt Nam” Tạp chí Dầu khí
3, tr 23-26
9 Blakely, R, J and Simpson, R.W (1986), “Approximating edges of source bodies
frommagnetic or gravity anomalies”, Geophysics, 51, 1494 -1498
10 Grauch V J S., L Cordell (1987), “Limitations of determining density or magnetic
boundaries from the horizontal gradient of gravity or pseudogravity data” Geophysics,
52, 118-121
11 Parker, R L (1972) “The rapid calculation of potential anomalies” Jeophys J Royal
Astr Soc, 31, pp.447-455
12 Richard J Blakely (1995), Potential theory in Gravity and Magnetic Applications,
Cambrige University press, United States of America
13 Wolfgang Jacoby, Peter L Smilde (2009), Gravity interpretation fundamentals and
application of gravity inversion and geological interpretation, Springer, Verlag Berlin
Heidelberg
14 Yan Pin, Zhou Di, Liu Zhaoshu (2001), “A crustal structure profile across the northern
continental margin of the South China Sea”, Techtonophysics, 338, pp 1-21