TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, NHIỄM GIUN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA TRẺ EM 12-36 THÁNG TUỔI TẠI HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ protein năng lượng ở trẻ em vẫn phổ biến ở mức ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở nhiều quốc gia trên...
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI -K J -
NGUYỄN HOÀNG LINH CHI
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, NHIỄM GIUN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA TRẺ EM 12-36 THÁNG TUỔI TẠI HUYỆN ĐAKRÔNG
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng protein năng lượng ở trẻ em vẫn phổ biến ở mức ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Bệnh không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển tinh thần, trí tuệ của trẻ Về mặt xã hội, suy dinh dưỡng gây nhiều thiệt hại về kinh tế, kìm hãm phát triển kinh tế bởi nó trực tiếp ảnh hưởng tới nguồn nhân lực, ảnh hưởng tới giống nòi
Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng từ năm 2000-2009, tỷ lệ SDD trẻ em đã giảm đi một cách rõ rệt, nếu như năm 2000 tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi là 33,8% (theo chỉ tiêu cân nặng theo tuổi) thì tới năm 2009 đã giảm chỉ còn 18,9% [13] Tuy nhiên, theo điều tra theo dõi tỷ lệ SDD trẻ em các tỉnh năm 2009 của Viện Dinh Dưỡng cho thấy có sự khác nhau nhiều về
tỷ lệ SDD trẻ em giữa các vùng sinh thái trên cả nước Trong đó, tỷ lệ SDD khu vực miền núi luôn cao hơn đồng bằng, nông thôn cao hơn thành thị, những vùng bị hạn hán, lũ lụt có tỷ lệ SDD cao hơn các vùng khác Trong khi một số tỉnh đồng bằng tỷ lệ SDD đã giảm xuống mức thấp như thành phố HCM (5,3%), Hà Nội (12,6%) thì nhiều khu vực miền núi tỷ lệ SDD vẫn ở mức rất cao như Kon Tum (29,5%), Đắc Nông (29,4%), Lai Châu (27,8%), Quảng Bình (25,9%)… [13] Sự chênh lệch ở mức từ 2-4 lần giữa miền xuôi
và miền núi cho thấy mức độ trầm trọng của SDD trẻ em khu vực miền núi Đakrông là một huyện miền núi vùng cao biên giới phía Tây Nam của tỉnh Quảng Trị, là nơi có nhiều đồng bào các dân tộc sinh sống trong đó chủ yếu là dân tộc Vân Kiều và Pakoh (chiếm 82%, theo số liệu cục thống kê tỉnh Quảng Trị) Đời sống kinh tế của người dân ở đây còn gặp nhiều khó khăn
Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở vùng này rất cao Theo một đánh giá về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 2 tuổi được thực hiện tại Đakrông và
Trang 3Hướng Hóa vào tháng 12/2009 cho thấy rằng tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em
ở đây rất cao: 41.9% (thể nhẹ cân), 44.1% (thể thấp còi) và 13,4% (thể gầy còm) [23] Trẻ em dưới 36 tháng tuổi bị suy dinh dưỡng có nhiều nguyên nhân, trong đó nhiễm giun đường ruột là một nguyên nhân cần được quan tâm Nhiễm giun gây nên chán ăn, hấp thu kém, tiêu hóa kém, viêm mạn tính ống tiêu hóa, cạnh tranh sử dụng và làm tăng mất các chất dinh dưỡng: protein, lipid, vitamin A Lâu dài, giun làm suy dinh dưỡng-thiếu máu, chậm phát triển thể chất và tinh thần [24], [37] Các nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng và nhiễm giun của trẻ em dân tộc thiểu số còn rất ít, là lý do chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với 2 mục tiêu sau:
(1) Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và nhiễm giun của trẻ em 12-36 tháng tuổi tại vùng đồng bào dân tộc Pakoh và Vân Kiều của huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị
(2) Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và nhiễm giun của trẻ 12-36 tháng tuổi tại vùng đồng bào dân tộc Pakoh và Vân Kiều của huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị
Trang 4CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1 Các thời kỳ phát triển của trẻ em và các đặc điểm sinh học cơ bản
của trẻ dưới 3 tuổi:
1.1.1 Cách phân chia các thời kỳ:
Cơ thể trẻ em có những đặc điểm riêng về cấu tạo và sinh lý Từ lúc thụ thai đến tuổi trưởng thành trẻ phải trải qua hai hiện tượng: trước hết là sự tăng trưởng, phát triển về số lượng và kích thước của tế bào ở các mô; sau đó là sự trưởng thành về cấu trúc, chức năng các cơ quan
Quá trình lớn lên và phát triển của trẻ có tính chất toàn diện, cả về thể chất, tâm thần và vận động Mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng về bệnh
lý và sinh lý
Sự phân chia các thời kỳ (giai đoạn) của trẻ em là một thực tế khách quan, nhưng ranh giới giữa các giai đoạn không rõ ràng và có sự khác biệt đối
với từng đứa trẻ, giai đoạn trước chuẩn bị cho giai đoạn sau
Theo WHO trẻ em bao gồm từ 0 đến 18 tuổi, được phân chia cụ thể như
sau [30]:
- Sơ sinh (newborn): từ lúc sinh đến 1 tháng
- Trẻ bú mẹ (infant): 1 đến 23 tháng
- Trẻ tiền học đường (preschool child): 2 đến 5 tuổi
- Trẻ em nhi đồng (child): 6 đến 12 tuổi
- Trẻ vị thành niên (adolescent): 13 đến 18 tuổi
Trang 51.1.2 Đặc điểm sinh học cơ bản của trẻ dưới 3 tuổi:
Lứa tuổi này tốc độ lớn có giảm so với lứa tuổi trước 12 tháng nhưng vẫn còn cao đồng thời các hoạt động đã bắt đầu tăng lên cùng theo với tuổi tập đi, tập nói do đó tiêu hao năng lượng so với cơ thể vẫn cao
Trẻ từ 1-3 tuổi, cơ quan tiêu hóa chưa phát triển hoàn chỉnh, do vậy các thức ăn cho trẻ cần phải dễ tiêu hóa, giàu các chất dinh dưỡng có giá trị cao
và đủ các nhóm thực phẩm trong ô dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu các chất dinh dưỡng Đảm bảo tốt vệ sinh thực phẩm và ăn uống để phòng tránh nhiễm khuẩn và các bệnh đường ruột ở trẻ
Do tiếp xúc rộng rãi với môi trường nên trẻ dễ bị lây các bệnh truyền nhiễm (sởi, ho gà, bạch hầu, uốn ván, viêm gan virus, sốt xuất huyết) Hệ thống miễn dịch hoạt động tốt, các bệnh nhiễm trùng giảm, nhưng trẻ lại bị các bệnh dị ứng như viêm cầu thận cấp, hen suyễn, nổi mề đay [30]
1.1.3 Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ dưới 3 tuổi:
Nhu cầu năng lượng theo bảng khuyến nghị của Việt Nam cho trẻ từ 1-3 tuổi là 1300 kcal (100 kcal/kg cân nặng), trong đó 50% đáp ứng cho chuyển hóa cơ bản, 12% cho tăng trưởng, 25% cho hoạt động thể lực [14]
Trong chế độ ăn của trẻ dưới 3 tuổi, nhu cầu protein hàng ngày là 28g/ngày (2,5g-3g/kg cân nặng của trẻ) Trong đó, protein có nguồn gốc động vật chiếm 50-60% tổng số protein [14]
Nhu cầu lipid ở trẻ đảm bảo cho nhu cầu về năng lượng (1g chất béo cung cấp 9 kcal), cung cấp các acid béo cần thiết và hỗ trợ cho việc hấp thu các vitamin tan trong dầu (A,D,E,K) [30]
Chế độ ăn của trẻ có 60-65% kcal từ glucid, chủ yếu từ ngũ cốc, khoai
củ, một số loại rau củ…
Trang 6Ở lứa tuổi này hàng ngày cần cung cấp 400-500mg canxi, là chất khoáng rất cần cho sự tạo xương, tạo răng, tạo máu và các hoạt động chức năng sinh
lý của cơ thể Trẻ cần 6-7mg sắt mỗi ngày cho sự tạo máu và tham gia vào thành phần nhiều men quan trọng trong cơ thể [14]
Mọi vitamin đều cần thiết cho trẻ, trong đó cần chú ý cung cấp đủ vitamin A (400µg) và vitamin C (35mg) là những vitamin rất cần cho sự phát triển bình thường của trẻ, cần cho sự tạo máu, tăng cường sức chống đỡ với bệnh tật [11]
Số bữa ăn trong ngày nên từ 4-5 bữa, với chế độ ăn riêng của trẻ, các thức ăn mềm và tập dần cho trẻ ăn từng loại thức ăn từ ít đến nhiều, cho đến thức ăn hỗn hợp.
1.2 Tình hình SDD protein năng lượng của trẻ em
1.2.1 Tình hình SDD protein năng lượng trên Thế giới:
Theo báo cáo của UNICEF công bố ngày 2/5/2006 cho thấy hơn 1/4 trẻ
em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển ở tình trạng SDD nhẹ cân, cuộc sống đang bị đe doạ Dinh dưỡng không đầy đủ vẫn là đại dịch toàn cầu dẫn đến một nửa số ca tử vong là trẻ em, khoảng 5,6 triệu trẻ em mỗi năm Mặc
dù đã có tiến bộ ở một số quốc gia, nhưng trong 15 năm vừa qua các quốc gia đang phát triển trung bình mới chỉ giảm được 1,5% trẻ em SDD nhẹ cân [20] Thống kê tỷ lệ SDD qua các cuộc điều tra quốc gia từ 1980-1992 của 79 nước đang phát triển cho thấy tỷ lệ SDD là 35,8%, tỷ lệ trẻ em còi cọc là 42,7% và tỷ lệ trẻ em gầy còm là 9,2 % Châu Á có tỷ lệ SDD cao nhất so với các châu lục khác: 42% trẻ em SDD, 47,1% trẻ em còi cọc và 10,8% trẻ gầy còm Châu Úc có 29,1% trẻ em SDD, 41,9% trẻ em còi cọc, 7,2% trẻ em gầy còm Châu Phi có 27,4% trẻ em SDD, 38,6% trẻ em còi cọc và 7,2% trẻ em
Trang 7gầy còm Có ít nhất 2/3 số trẻ em châu Á và 1 nửa số trẻ em SDD trên thế giới
sống ở khu vực Nam Á [45]
Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở Việt Nam tuy đã giảm nhiều, nhưng vẫn
còn ở mức cao so với trung bình các nước trong khu vực và các nước đang
phát triển có thu nhập đầu người tương tự
Bảng 1.1 Suy dinh dưỡng trẻ em Việt Nam so với khu vực và Thế giới -
Năm 2000 [9]
SDD
Khu vực
Thể nhẹ cân (%)
Thể thấp còi (%)
Thể gầy còm (%)
Theo báo cáo của UNICEF (Quĩ Nhi đồng của Liên Hiệp Quốc) năm
2007, trên thế giới có khoảng 146 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng
thể nhẹ cân, phần lớn tập trung ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh Trong
số này có khoảng 2 triệu trẻ em từ Việt Nam
Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng Quốc gia năm 2007, số trẻ
em dưới 5 tuổi ở nước ta có khoảng 9,4 triệu, có đến 2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi
bị suy dinh dưỡng thiếu cân (chiếm 21,2%) [13] Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX và lần thứ X đã đề ra chỉ tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng
xuống dưới 20% vào năm 2010 [29] Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em tuy có xu
Trang 8Diễn biến suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc (1999 – 2010)
1.2.1 Tình hình SDD protein năng lượng trẻ em tại Việt Nam
Suy dinh dưỡng protein năng lượng ở trẻ em Việt Nam còn là một thách thức quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội Các kết quả nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Việt Nam từ năm 1999 đến năm
2010 cho thấy tình tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em trong cộng đồng đã giảm, nhưng vẫn là một mức cao theo tiêu chuẩn đánh giá của WHO [12] Suy dinh dưỡng trẻ em làm ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng đến sự phát triển của kinh tế-xã hội, làm tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong ở trẻ em lên 2,5-2,8 lần
Trang 9dinh dưỡng nặng và rất nặng chiếm 11,38% Nhóm tuổi có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp nhất là từ 0-12 tháng, nhóm có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất là từ 24-36 tháng (56,0%) [35]
Kết quả điều tra trên 749 trẻ từ 0-60 tháng tuổi của Đinh Văn Thức và cộng sự tại hai xã Đặng Cương và Quốc Tuấn, huyện An Hải, Hải Phòng năm
2000 cho thấy tỷ lệ SDD thể thấp còi chiếm 42,32%, thể nhẹ cân là 4,41% và thể gày mòn là 2,80% Tỷ lệ SDD cao nhất ở nhóm tuổi 13-24 tháng (42,76%), thấp nhất ở nhóm 0-12 tháng tuổi (23,42%) [38]
Qua cuộc tổng điều tra về dinh dưỡng năm 2000 cho thấy, tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi còn có sự chênh lệch giữa các nhóm tuổi khác nhau [8]: tỷ lệ SDD
ở nhóm trẻ dưới 12 tháng tuổi là thấp nhất đối với cả 3 thể ( thể nhẹ cân, thể thấp còi, thể gầy còm), sau đó tăng lên nhanh ở cả 3 chỉ tiêu cho tới 2-3 tuổi
và tiếp tục duy trì ở mức cao trong những năm tiếp theo Điều đó cho thấy tỷ
lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi ở cả 3 chỉ tiêu (CN/T, CC/T, CN/CC) đều đã giảm nhưng các đặc điểm SDD ở trẻ em nước ta đã được nghiên cứu trước đây vẫn còn ý nghĩa và chương trình phòng chống SDD trẻ em cần tiếp tục được đẩy mạnh
12.9 19
6
36.3 41.8
12.2
40.9 38.6
9.2
40.2 43
8.5
41.7 44.8
8.8
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45
%
≤12 tháng
13-24 tháng
25-36 tháng
37-48 tháng
49-60 tháng
Tháng tuổi
SDD W/A(%) SDD H/A(%) SDD W/H(%)
Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ (%) SDD trẻ em dưới 5 tuổi theo nhóm tháng tuổi [8]
Trang 10Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em cũng khác nhau rất nhiều giữa các vùng
sinh thái Tỷ lệ cao nhất ở vùng Tây Nguyên vì đây là vùng nghèo, còn nhiều
khó khăn, mùa màng thường xuyên chịu tác động nặng nề bởi thiên tai, lũ lụt
Thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng sông Hồng, sông Cửu
Long
Bảng 1.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi của Việt Nam phân bố
theo vùng sinh thái - Năm 2009 [11]
Có sự khác biệt khá lớn về tỷ lệ SDD trẻ em ở thành thị và nông thôn
Điều này lý giải bởi sự bất cập trong việc tiếp cận dịch vụ Y tế, trình độ dân
trí và khoảng cách giàu nghèo giữa khu vực nông thôn, miền núi so với các
thành phố lớn và các khu đô thị
Trang 11Bảng 1.3 Tỷ lệ SDD trẻ em theo khu vực - Năm 2005 [7]
Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi
chất dinh dưỡng Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức
độ khác nhau, nhưng ít nhiều đều có ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất,
tinh thần và vận động của trẻ [30]
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em
Hiện nay có 4 nhóm chỉ tiêu được dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng
của trẻ em [24]:
- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống
- Thăm khám thực thể để phát hiện các dấu hiệu lâm sàng của bệnh tật có
liên quan đến ăn uống
- Các chỉ tiêu nhân trắc
- Các xét nghiệm hóa sinh
Trong đó 2 nhóm chỉ tiêu được sử dụng nhiều nhất là nhân trắc và điều
tra khẩu phần ăn mà các số đo nhân trắc là các chỉ số đánh giá trực tiếp tình
trạng dinh dưỡng
WHO đã khuyến cáo có 3 chỉ tiêu nhân trắc nên dùng là cân nặng theo
tuổi, cân nặng theo chiều cao và chiều cao theo tuổi [41] Cụ thể như sau
Trang 12• Cân nặng theo tuổi:
Là chỉ số được dùng sớm nhất và phổ biến nhất Chỉ số này được dùng
để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của cá thể hay cộng đồng Cân nặng theo tuổi thấp là hậu quả của thiếu dinh dưỡng hiện tại Chỉ số cân nặng theo tuổi
nhạy có thể quan sát trong 1 thời gian ngắn
• Chiều cao theo tuổi:
Phản ánh tiền sử dinh dưỡng Chiều cao theo tuổi thấp phản ánh tình
trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc thuộc về quá khứ làm cho đứa trẻ bị còi
• Cân nặng theo chiều cao:
Là chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng hiện tại Chỉ số này phản ánh tình trạng SDD cấp hay còn gọi “Wasting” Cân nặng theo chiều cao thấp phản ánh sự không tăng cân hay giảm cân nếu so sánh với trẻ có cùng chiều cao, chính là phản ánh mức độ thiếu ăn và nhiễm khuẩn là hai nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này
1.3.3 Cách phân loại suy dinh dưỡng
1.3.3.1 Phân loại theo Gomez (1956)
Là phân loại được dùng sớm nhất, nó chỉ dựa trên chỉ só cân nặng theo tuổi và sử dụng quần thể tham khảo
Tiêu chuẩn Mức độ SDD
Từ 70%-90% của cân nặng chuẩn SDD độ I
Từ 60%-75% của cân nặng chuẩn SDD độ II
Từ dưới 60% của cân nặng chuẩn SDD độ III
Cách phân loại này không phân biệt giữa SDD cấp hay mãn cũng như giữa Marasmus và Kwashiorkor bởi vì cách phân loại này không đánh giá tới chiều cao
Trang 131.3.3.2 Phân loại theo Wellcome (1970)
Cân nặng (%) so với chuẩn Phù
1.3.3.3 Phân loại theo Waterlow (1972)
Để khắc phục nhược điểm phân loại Wellcome là không phân biệt được suy dinh dưỡng hiện tại hay quá khứ
Chiều cao theo tuổi
(90%hay - 2SD)
Cân nặng theo chiều cao (80% hay -2SD)
Dưới Thiếu DD thấp còi Thiếu DD nặng kéo dài
Thiếu dinh dưỡng gầy còm là thiếu dinh dưỡng cấp tính Thiếu dinh dưỡng thấp còi là biểu hiện thiếu dinh dưỡng trường diễn và đã chịu thiếu dinh dưỡng từ lâu
1.3.3.4 Phân loại theo WHO 2005:
SDD trong cộng đồng được chia thành 3 thể: SDD nhẹ cân, SDD thấp còi và SDD gày còm [50].Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới, các chỉ tiêu thường dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng là cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), cân nặng theo chiều cao (CN/CC) Suy dinh dưỡng được ghi nhận khi các chỉ tiêu nói trên thấp hơn hai độ lệch chuẩn (< -2SD) so với quần thể tham chiếu NCHS (National Center For Health Statistics) của Hoa Kỳ [49] Đây là cách phân loại đơn giản cho phép đánh giá nhanh các mức độ SDD và có thể áp dụng rộng rãi trong cộng đồng
Trang 14Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng quần thể tham chiếu NCHS để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em không phù hợp với thực tế vì vậy để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ năm 2006 WHO đưa ra “chuẩn tăng trưởng mới ở trẻ em” và đề nghị áp dụng trên toàn thế giới [51] Dựa vào các chỉ tiêu nhân trắc: tuổi, giới, cân nặng, chiều cao đo được và số trung bình của quần thể tham chiếu WHO 2005 để tính toán các chỉ số Z–score cân nặng theo tuổi (WAZ), Z–score chiều cao theo tuổi (HAZ), Z–score cân nặng theo chiều cao (WHZ) WHO đề nghị lấy điểm ngưỡng dưới 2 độ lệch chuẩn (< -2SD) so với quần thể tham chiếu WHO 2005 để đánh giá trẻ bị suy dinh dưỡng.:
Công thức tính độ lệch chuẩn Z-score ( SD score ):
- SDD thể nhẹ cân: CN/T Z-score (WAZ) < - 2SD;
- SDD thể thấp còi: CC/T Z-score (HAZ) < - 2SD
- SDD thể gày còm: CN/CC Z-score (WHZ) < - 2SD
WHO cũng đưa ra các mức phân loại sau đây để nhận định ý nghĩa sức khỏe cộng đồng [48]
Bảng 1.4 Phân loại mức suy dinh dưỡng cộng đồng trẻ dưới 5 tuổi [48]
Mức độ suy dinh dưỡng theo tỷ lệ %
Thấp T/bình Cao Rất cao Thấp còi ( Stunting ) < 20 20-29 30-39 ≥ 40
Trang 151.3.4 Một số nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng :
Tác giả Lê Thị Hương, Trần Thị Lan đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 2 tuổi tại Đakrông và Hướng Hóa vào tháng 12/2009 cho thấy rằng tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em ở đây rất cao Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới hai tuổi là 41.9% (thể nhẹ cân); 44.1% (thể thấp còi) và 13,4% ( thể gầy còm) trong khi tỷ lệ trẻ được cung cấp đầy đủ 4 nhóm thực phẩm vào ngày hôm trước rất thấp (13,3%), có đến 45% và 60% bị tiêu chảy và nhiếm trùng đường hô hấp trong 2 tuần qua [23]
Nghiên cứu của Vũ Phương Hà và cộng sự tại hai huyện Hướng Hóa và Đakrông của tỉnh Quảng trị trong năm 2010 cho thấy: tỷ lệ SDD cao ở cả 3 chỉ số, trong đó SDD thể nhẹ cân là 42,1% (CN/T), thể thấp còi 48,2% (CC/T) và thể gầy còm 13,9% (CN/CC) Trên 50% các bà mẹ cho rằng phải cho con ăn bổ sung trước 6 tháng hoặc không biết nên bắt đầu cho ăn vào thời điểm nào [15]
Tác giả Lương Thị Thu Hà tiến hành nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại hai xã của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên năm
2008 nhận thấy tỷ lệ SDD ở thể nhẹ cân (35,4%), thể thấp còi (41,5%) và thể gầy còm (8,4%), độ tuổi có tỷ lệ SDD cao ở nhóm tuổi 13 - 48 tháng tuổi Ở thể nhẹ cân, tỷ lệ SDD trẻ gái cao hơn trẻ trai, ở trẻ em người dân tộc thiểu số cao hơn trẻ em người Kinh Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra một số yếu tố nguy cơ đối với SDD thể nhẹ cân ở trẻ em như thời gian ăn bổ sung không đúng, chất lượng thức ăn bổ sung không đảm bảo và tình trạng nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, hô hấp [16]
Trang 161.4 Tình hình nhiễm giun của trẻ em trên Thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Tình hình nhiễm giun của trẻ em trên thế giới
Nhiễm giun là bệnh thường gặp nhất ở người, hay gặp ở các nước nhiệt đới, phần lớn các nước đang phát triển là vùng nhiễm kí sinh trùng Theo thống kê của WHO 2002, có đến 230 triệu trẻ em từ 0-4 tuổi bị nhiễm giun, vùng bị nhiễm nhiều nhất là vùng châu Á, Trung quốc, Ấn độ và sa mạc Sahara [18]
Năm 1997 tại Ấn Độ, Awashi S và cộng sự nghiên cứu 1061 trẻ em từ 18-42 tháng tuổi thấy tỷ lệ nhiễm kí sinh trùng đường ruột là 17,5%, trong đó nhiễm giun đũa chiếm 68,1% [34] Tại Kenya, Olsen A và cộng sự cho thấy 16% trẻ nhiễm giun đũa, 63% nhiễm giun móc và 24% nhiễm giun tóc [25] Bệnh giun đũa rất phổ biến trên thế giới, có mặt hầu hết các châu lục, Châu Á có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất, khoảng 70%; Châu Phi là 32,32%; các nước Châu Mỹ có tỷ lệ nhiễm khoảng 8% Tình trạng nhiễm giun đũa ở trẻ em tại một số nước Đông Nam Á: Thủ đô Kuala Lumpur có tỷ lệ nhiễm giun 15,5%, ở Sulawesi có tỷ lệ nhiễm 59,8%, Sukaraja có tỷ lệ nhiễm 44%, Philippin có tỷ lệ nhiễm 70,6%
Do tính chất sinh thái giống nhau giữa giun tóc và giun đũa nên các vùng
có bệnh giun đũa đều có bệnh giun tóc Bệnh giun tóc phổ biến ở các vùng nhiệt đới Châu Phi và vùng Đông Nam Á [1] Ở Jamaicar, tỷ lệ trẻ em nhiễm giun tóc là 38,3%, Guatemala tỷ lệ trẻ em nhiễm giun tóc là 82% Ở Indonesia
có tỷ lệ nhiễm từ 54,9%-76,0% Tỷ lệ nhiễm ở trẻ em Philippin là 85,0% Bệnh giun móc cũng gặp ở hầu hết các nước trên thế giới, nhưng chủ yếu
ở các nước nhiệt đới như Nam Mỹ, Châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á và một
số nước Châu Âu Các nước khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ nhiễm phục thuộc vào từng nước, từng khu vực: Thái Lan là 40.56%, Indonesia năm 1980 là
Trang 1752%-80%, Malaysia 43-51%, Singapore tỷ lệ nhiễm thấp: 0,3%-6,1%; Lào 2%-31%, Campuchia 35-56% [8]
1.4.2 Tình hình nhiễm giun của trẻ em ở Việt Nam:
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Á, có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm Vì vậy có đầy đủ các yếu tố về: khí hậu, thổ nhưỡng cho các bệnh giun truyền qua đất phát triển Mặt khác nền kinh tế chưa phát triển, văn hóa xã hội còn nhiều phong tục tập quán như ăn rau sống, dùng phân tươi trong canh tác Tất cả các yếu tố trên đã tạo điều kiện cho mầm bệnh giun sán tồn tại và phát triển, vì vậy tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất ở Việt Nam rất cao [2]
WHO đề nghị cộng đồng được xếp loại có tỷ lệ nhiễm giun cao khi 50%
số người thuộc cộng đồng có kết quả xét nghiệm dương tính Những vùng có
tỷ lệ giun móc lưu hành là những vùng có tỷ lệ nhiễm giun móc trên 20-30% [42]
Ở Việt Nam, nhiễm giun là vấn đề sức khỏe cộng đồng Trên toàn quốc ước tính số người nhiễm giun đũa khoảng 60 triệu, giun tóc 40 triệu và giun móc 40 triệu, tỷ lệ nhiễm nói chung từ 50-60% [2], [3] Đặc biệt, tỷ lệ đa nhiễm hai, ba loại giun rất cao, đạt 60-70% [2] Riêng trẻ em, tỷ lệ nhiễm giun
từ 36,1-99,8%; trong đó, nhiễm giun Đũa 30,4-93,9%, giun Móc 6,4-70,2%, giun Tóc 0,7-86,6 % Cường độ nhiễm giun khá cao, 1 gam phân có 8,199 trứng giun Đũa, 264 giun Tóc [26]
Theo nghiên cứu của Đỗ Dương Thái và cộng sự, tỷ lệ nhiễm giun đũa ở trẻ từ 2 - 5 tuổi là 42,8% - 66% [36] Hoàng Thị Kim và cộng sự nghiên cứu ở trẻ 1 - 4 tuổi vùng đồng bằng tỷ lệ nhiễm giun móc là 1,4% [27]; Trần Minh Hậu và cộng sự cho thấy, trẻ em dưới 5 tuổi tại Thái Bình tỷ lệ nhiễm giun đũa là 77,4%, giun tóc 30,1%, giun móc 1,07% [18] ; Đỗ Thị Đáng nghiên cứu ở huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa ở trẻ 6 tháng đến 15 tuổi là 87% - 89%, giun tóc 78% - 80% và giun móc 20% [5]
Trang 181.4.3 Đặc điểm sinh học, tác hại đối với sức khỏe và bệnh tật trẻ em của một số loại giun thường gặp
1.4.3.1 Đặc điểm sinh học của một số loại giun thường gặp
Giun đũa (Ascaris Lumbricoides) là một loại giun lớn, có hình thể dài và
to như chiếc đũa [32] Bệnh giun đũa gây tác hại tiềm tàng do khả năng chiếm thức ăn của chúng ở ruột non Ngoài việc chiếm protein của cơ thể, giun đũa còn gây ra rối loạn các chức năng về tiêu hóa và dinh dưỡng Do đó ảnh hưởng đến thể lực, tuổi thọ của mỗi người, đặc biệt làm giảm khả năng phát
triển thể lực và trí tuệ của trẻ em [32]
Giun móc/mỏ gây bệnh ở người chủ yếu do hai loài giun tròn nhỏ thuộc
họ Ancylostomide là giun móc (Ancylostoma duoenalae) và giun mỏ (Necator
americanus) gây ra Hai loại giun này tuy có khác nhau về hình thể nhưng có
đặc điểm dịch tễ học, bệnh học và các tác hại tương tự nhau nên thường được gọi chung là giun móc [32] Giun móc sống ở tá tràng và phần đầu ruột non, cắm miệng vào niêm mạc ruột để hút máu Tác hại chủ yếu và nguy hiểm nhất của nhiễm giun móc là gây nên sự mất máu kéo dài, dẫn đến tình trạng thiếu máu của người bệnh Đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em và phụ nữ tuổi sinh
đẻ Trong khi hút máu, giun móc còn tiết ra chất chống đông máu, do đó, máu vẫn tiếp tục chảy sau khi đã hút máu no Người ta ước tính mỗi con giun móc mỗi ngày làm mất 0,02-0,07 ml máu Nếu bị nhiễm hàng trăm con giun móc, lượng máu mất hàng ngày có thể tới 50-60 ml Mất máu kéo dài như vậy sẽ gây thiếu máu thiếu sắt nặng, ngay cả trong trường hợp trẻ em và người lớn
được ăn uống tốt [31], [32]
Giun tóc (Trichuris trichiura) là loài giun nhỏ dài 3-5 mm có phần đầu
mảnh, nhỏ như sợi tóc (Trichusis trichiura) gây ra Giun tóc ký sinh ở chủ
yếu vùng manh tràng và đại tràng Giun tóc cắm sâu vào niêm mạc ruột để hút máu [32] Do giun tóc có phương thức ký sinh và cắm sâu phần đầu vào niêm
Trang 19mạc ruột vật chủ nên gây tổn thương tế bào, làm rối loạn chức năng ruột và viêm ruột Nhiễm giun tóc nặng, kéo dài có thể gây thiếu máu nhược sắc,
hồng cầu giảm [31]
1.4.3.2 Tác hại đối với sức khỏe và bệnh tật trẻ em của một số loại giun Nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa nhiễm kí sinh trùng và
tình trạng dinh dưỡng biểu hiện qua các chỉ số nhân trắc
Tác hại của giun đũa thường liên quan đến số lượng giun tích lũy trong
cơ thể Số lượng giun đũa càng nhiều thì lượng thức ăn bị chiếm đoạt của vật chủ càng lớn Các nghiên cứu đều cho thấy nhiễm giun Đũa số lượng lớn sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng [2], [37] Nhiễm giun số lượng nhẹ - vừa thì không thấy triệu chứng gì rõ rệt, đôi khi thấy buồn nôn, ăn không tiêu, hay đau bụng, đi ngoài phân nát Ở trẻ em hay gặp các triệu chứng như: gầy còm, bụng chướng, biếng ăn, co giật, ứa nước bọt, đó là những triệu chứng nhiễm độc thần kinh do độc tố của giun gây ra Biểu hiện suy dinh dưỡng ở trẻ em nhiễm giun thường kéo dài, cân nặng và tốc độ phát triển thể lực của trẻ em nhiều khi rất thấp [32], [37]
Giun móc không những gây ra tình trạng thiếu máu mà còn làm giảm Vitamin A, B1, C và giảm protein Kết quả nghiên cứu bằng đồng vị phóng
xạ cho thấy: hiện tượng giảm protein trong bệnh giun móc vừa do mất máu vừa do rối loạn hấp thu [2] Như vậy hậu quả nghiêm trọng nhất của nhiễm giun móc là sự mất máu mãn tính từ tá tràng đến ruột non làm giảm dự trữ sắt của cơ thể và phát sinh bệnh thiếu máu, thiếu sắt và cũng có thể mất protein huyết thanh dẫn đến giảm Albumin nghiêm trọng Ở trẻ em nhiễm giun móc nhiều và kéo dài có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể như: chậm lớn, còi cọc, chậm phát triển về tinh thần và trí tuệ [32]
Giun tóc ký sinh ở đại tràng, manh tràng, phần đầu của giun tóc cắm sâu vào niêm mạc ruột gây tổn thương tế bào, làm rối loạn chức năng ruột và
Trang 20viêm ruột Hậu quả gây ra những triệu chứng rối loạn tiêu hóa, đau bụng, đi ngoài Vì giun tóc hút máu nên những trường hợp nhiễm nặng thường bị thiếu máu nhược sắc, hồng cầu giảm [21], [31]
Theo WHO, số dân của Việt Nam là 70 triệu, tỷ lệ nhiễm trong dân là 80% nhiễm giun đũa, 52% nhiễm giun Tóc và 32% giun Móc Mỗi người Việt Nam trung bình có 8 con giun đũa, 22 con giun tóc và 17 con giun móc Như vậy, trong một năm tác hại do giun như sau: giun đũa tiêu thụ 28.616 tấn gạo; 31,8 tấn thịt; giun tóc tiêu thụ 1.461.460 lít máu; giun móc tiêu thụ 27.798.400 lít máu [50]
1.4.4 Một số nghiên cứu về tình trạng nhiễm giun trẻ em
Năm 1997 tại Ấn Độ, Awashi S và CS nghiên cứu 1061 trẻ em từ 1,5 đến 3,5 tuổi thấy tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột là 17,5%, trong đó giun đũa chiếm 68,1% [43]
Nguyễn Võ Hinh và CS nghiên cứu trên 6882 mẫu phân trẻ từ 1 - 14 tuổi tại Thừa Thiên Huế thấy tỷ lệ nhiễm ở trẻ 1 - 5 tuổi giun đũa là 81,8%, giun tóc 20,9%, giun móc 13,64% [20]
Đỗ Dương Thái và CS nghiên cứu trên 1472 trẻ em dưới 3 tuổi tại Hà Nội, trong nội thành thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa là 17,84%, giun tóc 3,22% ngoại thành tỷ lệ nhiễm giun đũa là 46,49%, giun tóc 3,08% [36]
Hoàng Tân Dân và CS nghiên cứu tại trường mầm non nội thành Hà Nội thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa là 8,8% - 10,2%, giun tóc 3,47% - 4,34%, không có trẻ nào nhiễm giun móc, tỷ lệ nhiễm phối hợp thấp, cường độ nhiễm nhẹ, không có sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giữa các lứa tuổi và giới của trẻ [4] Năm 2003, Phạm Trung Kiên nghiên cứu ở trẻ dưới 60 tháng tuổi tại Kim Bảng Hà Nam cho thấy tỷ lệ nhiễm giun chung là 93,4%, trong đó trẻ em
ở xã Hoàng Tây có tỷ lệ nhiễm giun đũa là 85,3%, giun tóc 69,5% và trẻ ở xã Văn Xá tỷ lệ nhiễm giun đũa là 79,5%, giun tóc 63,9% [25]
Trang 21Tác giả Châu Văn Hiền và CS tiến hành xét nghiệm phân 240 trẻ em từ
12 đến 36 tháng tuổi tại 5 xã của huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị tháng 2/2006, kết quả ghi nhận tình hình nhiễm giun đường ruột chung là 52,50%; trong đó 35,00% nhiễm giun đũa, 20,10% nhiễm giun móc và không có trường hợp nào nhiễm giun tóc; nhiễm phối hợp 2 loại giun (đũa+móc) là 2,91% Trẻ em từ 12 đến 24 tháng tuổi nhiễm giun đường ruột là 47,54%, trẻ
em từ 25 đến 36 tháng tuổi nhiễm giun đường ruột là 57,36%, đồng thời kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng trong nhóm trẻ em nhiễm giun là 72,00% [19]
1.5 Nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và nhiễm giun của trẻ em
1.5.1 Nguyên nhân, yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng
Năm 1998, UNICEF đã phát triển mô hình nguyên nhân suy dinh dưỡng Một số tổ chức khác cũng đã có những mô hình nguyên nhân - hậu quả SDD riêng, hoặc phát triển mô hình mới dựa trên mô hình của UNICEF
Mô hình nguyên nhân của SDD thiếu protein, năng lượng ở trẻ em dưới
5 tuổi cho thấy, suy dinh dưỡng là do tác động của nhiều yếu tố, có mối quan
hệ chặt chẽ với vấn đề y tế, lương thực-thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình Mô hình chỉ ra các nguyên nhân ở các cấp độ khác nhau: nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân sâu xa và các yếu tố
ở cấp độ này ảnh hưởng đến cấp độ khác
Nguyên nhân trực tiếp của SDD trẻ em gồm ăn uống không hợp lý và bệnh tật:
- Các yếu tố về dinh dưỡng/chế độ ăn :
Các số liệu điều tra riêng về khẩu phần ăn của người lớn và trẻ em cho thấy chế độ ăn đóng vai trò quan trọng dẫn tới tình trạng suy dinh dưỡng ở Việt Nam Nhìn chung, khẩu phần ăn ở cả người lớn và trẻ em nước ta còn ở
Trang 22mức thấp so với các nước trong khu vực [34] Đối với trẻ em trên 2 tuổi thì hầu hết các gia đình cho trẻ ăn cơm cùng bữa cơm với gia đình, nhưng số bữa
ăn hàng ngày thấp (trung bình 3 bữa/ngày) Ngay ở nhóm trẻ 24-36 tháng tuổi cũng chỉ có 17,5% được ăn 3 bữa/ ngày Tần xuất xuất hiện các thực phẩm như thịt, cá, trứng, sữa trong bữa ăn của trẻ thấp, thường do điều kiện kinh tế gia đình hoặc do hiểu biết của bà mẹ về chăm sóc dinh dưỡng trẻ em còn quá hạn chế [34]
đó, tỷ lệ SDD có thể dao động theo mùa và thường cao trong những mùa có các bệnh nhiễm khuẩn lưu hành ở mức cao (tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp, sốt rét) [34] Bên cạnh đó, các bệnh nhiễm trùng khác cũng ảnh hưởng nhiều tới dinh dưỡng như nhiễm khuẩn đường hô hấp, sởi và các bệnh kí sinh trùng đường ruột
Nhiễm ký sinh trùng đường ruột cũng là nguyên nhân quan trọng gây ra SDD, thiếu máu ở trẻ em Nhiễm ký sinh trùng đường ruột với cường độ cao
và trong một thời gian dài có thể gây suy dinh dưỡng như thấp còi, nhẹ cân và
ở những trường hợp nặng có thể gây tử vong [51]
Nguyên nhân sâu xa (tiềm tàng) của SDD do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ em, kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc
Trang 23của gia đình, các vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh Tỷ lệ SDD ở trẻ có mối quan hệ mật thiết với trình độ giáo dục và tình trạng SDD mạn tính của người mẹ Những phụ nữ bị thiếu năng lượng trường diễn hoặc chiều cao thấp thường dễ đẻ con nhỏ yếu, cân nặng sơ sinh thấp [44] Những đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi những người phụ nữ có học thức cao hơn thì thường được chăm sóc dinh dưỡng tốt hơn Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Oanh, Vũ Đức Bảo, Nguyễn Thanh Quế cùng cộng sự (1997) cho thấy, trẻ của những bà mẹ có trình độ văn hóa từ cấp
1 trở xuống hoặc mù chữ có tỷ lệ SDD cao hơn những bà mẹ có trình độ văn hóa từ cấp 2 trở lên [33]
Nguyên nhân gốc rễ (cơ bản) của SDD trẻ em đó là nghèo đói và thiếu kiến thức Đói nghèo chủ yếu rơi vào những hộ gia đình có trình độ học vấn thấp, khó có cơ hội tiếp xúc với thông tin và với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Mặt khác, phần lớn các hộ gia đình nghèo, nhất là vùng nông thôn và miền núi lại thường sinh nhiều con Vì gia đình đông con nên chế độ dinh dưỡng, khẩu phần ăn của trẻ không được đảm bảo Chính điều này lại tạo nên vòng luẩn quẩn của đói nghèo khó giải quyết
1.5.2 Nguyên nhân, yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm giun của trẻ
Trang 24Phát triển nông thôn, hố xí hai ngăn là loại hố xí phù hợp nhất với vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ Hố xí dội thấm nước tuy cũng diệt được mầm bệnh GTQĐ, nhưng có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước
Giáo dục sức khoẻ có vai trò quan trọng trong phòng chống bệnh giun truyền qua đất Giáo dục sức khoẻ nhằm tăng cường lối sống vệ sinh, lành mạnh, nâng cao kiến thức vệ sinh phòng bệnh của người dân Mascie - Taylor (1999) thấy giáo dục sức khoẻ (cải thiện vệ sinh cá nhân, đi dép, rửa tay, dùng
hố xí sạch) là biện pháp phòng bệnh GTQĐ hiệu quả và ít tốn kém nhất [55] Nghiên cứu của Lê Nguyễn Bảo Khanh và CS (1998) cho thấy thực hiện tăng cường giáo dục kiến thức phòng bệnh giun sán cho học sinh tiểu học đã làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất [56] Tuy nhiên, để giáo dục sức khoẻ đạt hiệu quả, đòi hỏi phải có sự lồng ghép và liên kết nhiều chương trình
y tế với sự tham gia của cộng đồng, trường học, các đoàn thể xã hội và các chuyên gia truyền thông Chỉ có các biện pháp vệ sinh môi trường mới đảm bảo tính an toàn và hiệu quả lâu dài của chương trình phòng chống GTQĐ
Trang 25CHƯƠNG 2:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại 4 xã (ABung, Tà Rụt, Đakrông và xã Hướng Hiệp) thuộc huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị
Đakrông là một huyện miền núi biên giới phía Tây Nam của tỉnh Quảng Trị, có 13 xã và 1 thị trấn, với 102 thôn Về vị trí địa lý: diện tích tự nhiên là 1123,32 km2; phía bắc giáp huyện Hướng Hóa, phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía tây là nước bạn Lào, phía đông giáp các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Cam Lộ, Gio Linh Theo Chi cục thống kê huyện, dân số của huyện tính tới tháng 12/2003 là 34.869 người, trong đó 82% là đồng bào dân tộc thiểu số Vân Kiều và Pakoh.Về kinh tế, Đakrông là huyện nghèo của tỉnh, giao thông khó khăn, điều kiện phát triển kinh tế thấp kém kéo theo tình trạng y tế chưa được đảm bảo tốt gây khó khăn cho ngành Y tế trong việc đảm bảo chỉ tiêu giảm tình trạng SDD trên địa bàn Tính tới tháng 12/2008, theo báo cáo của Sở Y tế tỉnh Quảng Trị tỷ lê SDD tại Đakrông là 36,6% [39]
2.2 Đối tượng nghiên cứu
• Trẻ em từ 12 đến 36 tháng tuổi trên địa bàn nghiên cứu
• Bà mẹ của trẻ có con từ 12-36 tháng tuổi (mẹ của những trẻ đã được chọn) đang có mặt tại địa bàn trong thời gian nghiên cứu)
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Trẻ: trong độ tuổi 12-36 tháng có mặt tại thời điểm và trên địa bàn nghiên cứu đó được lựa chọn Trẻ không bị mắc các bệnh bẩm sinh, các bệnh mạn tính, hiện tại không mắc các bệnh cấp tính
- Bà mẹ: là mẹ của các trẻ được lựa chọn, không bị tâm thần, không bị rối loạn trí nhớ và hợp tác
Trang 262.2.2.Tiêu chuẩn loại trừ
- Trẻ: mắc các bệnh bẩm sinh, các bệnh mạn tính (tim, gan, thận) hoặc đang mắc bệnh cấp tính
- Bà mẹ bị bệnh tâm thần, rối loạn trí nhớ, có thái độ không hợp tác
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
n = số mẫu cần chọn cho một vùng dân tộc nghiên cứu
p = 0,4 (tỷ lệ SDD trẻ em tại huyện Đakrông theo nghiên cứu trước đó [23a])
Z(1-α/2) = 1,96 là giá trị của hệ số giới hạn tin cậy ứng với α=0,05 với độ tin
cậy của ước lượng là 95%.
e : sai số cho phép, chọn e = 0,05
Æ Thay vào công thức trên, ta tính được n = 345
Như vậy, số trẻ lấy từ mỗi vùng dân tộc là 345 trẻ và 2 vùng dân tộc Vân Kiều và PaKoh sẽ là 690 trẻ
Trang 27+ 2 xã đại diện cho vùng người Pakoh: Xã A Bung; xã Tà Rụt
+ 2 xã đại diện cho vùng người Vân Kiều: Xã Đakrông; xã Hướng Hiệp
4 xã này là những xã nghèo có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao, tuy nhiên đường đi lại đến các thôn không quá khó khăn và chính quyền địa phương và cán bộ y
tế cam kết tham gia nghiên cứu
- Giai đoạn III (chọn đối tượng nghiên cứu):
Từ các xã đã chọn, danh sách trẻ từ 12-36 tháng tuổi sẽ được lập với đầy
đủ các thông tin về ngày tháng năm sinh và giới tính Dựa trên danh sách trẻ
từ 12-36 tháng tuổi (được lập trước thời điểm điều tra) của các xã được chọn, tiến hành chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với khoảng cách mẫu k = N/n (k là khoảng cách mẫu, N tổng số trẻ từ 12-36 tháng tuổi của các xã đã chọn, n= cỡ mẫu cho nghiên cứu) Tiến hành chọn mẫu cho tới khi đủ số lượng trẻ là 345 trẻ cho mỗi vùng dân tộc, 690 cho 2 vùng dân tộc thì thôi Trường hợp nếu trẻ được lựa chọn không đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham gia nghiên cứu thì lấy trẻ kế tiếp ngay sau trẻ được chọn trong
bảng danh sách
Thực tế đã điều tra toàn bộ số trẻ (692 trẻ) trong độ tuổi 12 - 36 tháng tuổi của 4 xã trên tại thời điểm nghiên cứu (tháng 9/2010) và các bà mẹ của trẻ
Trang 282.4 Thu thập thông tin
2.4.1 Đo các chỉ số nhân trắc của các trẻ từ 12-36 tháng tuổi đã được lựa
chọn:
* Đo chiều dài nằm trẻ
- Dụng cụ: thước đo chiều dài nằm cho trẻ dưới 2 tuổi với độ chia tối thiểu 0,1 cm
- Vị trí đặt thước: để trên mặt phẳng nằm ngang (trên mặt bàn hoặc dưới sàn)
- Thao tác đo (2 điều tra viên hỗ trợ nhau):
+ Bỏ tất cả dày dép, mũ của trẻ Đặt trẻ nằm ngửa trên mặt thước, đảm bảo 5 điểm chạm, trục của thước trùng với trục của cơ thể
+ Một người giữ đầu trẻ sao cho mắt trẻ hướng thẳng lên trần nhà, đỉnh đầu chạm vào êke chỉ số 0
+ Người thứ 2 giữ thẳng 2 đầu gối của trẻ sao cho 2 gót chân chạm nhau, tay kia đẩy êke di động áp sát vào 2 bàn chân thẳng đứng, vuông góc với mặt thước
+ Đọc kết quả theo đơn vị là cm với 1 số thập phân
* Đo chiều cao đứng cho trẻ > 2 tuổi
- Dụng cụ: thước đo chiều cao loại bằng gỗ
- Thao tác: trẻ bỏ dép, đứng sát tường, dưới thước đo, mắt nhìn thẳng sao cho chẩm, vai, mông, gót cùng trên một mặt phẳng Người đo kéo nhẹ thanh trượt theo phương thẳng đứng, khi chạm sát đỉnh đầu đối tượng thì đọc kết quả và ghi theo cm với mỗi số lẻ
* Cân trẻ
- Dụng cụ cân: sử dụng cân lòng máng Nhơn Hòa
- Vị trí đặt cân: nơi bằng phẳng, thuận tiện để cân
- Chỉnh cân: chỉnh cân về số 0 trước khi cân, kiểm tra độ nhạy của cân Thường xuyên kiểm tra độ chính xác của cân sau 10 lượt cân
Trang 29- Kỹ thuật cõn:
+ Đối tượng mặc quần ỏo tối thiểu, bỏ dày dộp, mũ nún và cỏc vật nặng khỏc trờn người
+ Trẻ đứng, ngồi hoặc nằm giữa cõn, khụng cử động
+ Người cân trẻ ngồi đối diện chính giữa mặt cân, khi cân thăng bằng đọc kết quả theo đơn vị kg với 1 số thập phân
2.4.2 Lấy phõn và xột nghiệm trứng giun
- Trước khi lấy mẫu phõn, bố mẹ trẻ phải được giải thớch và đồng ý tham gia vào nghiờn cứu cũng như được hướng dẫn cỏch lấy phõn để đưa đến điểm tập trung của thụn/xó, cỏn bộ y tế xó/huyện sẽ trực tiếp đưa mẫu phõn đến trạm y tế cho kỹ thuật viờn xột nghiệm ngay trong ngày (trong vũng 24 giờ)
- Sử dụng kĩ thuật xột nghiệm phõn theo phương phỏp Kato-Katz
* Kỹ thuật tiến hành
- Lấy một lượng phõn bằng hạt ngụ (5g) để trờn giấy thấm
- Đặt miếng lưới lờn trờn mẫu phõn, dựng que ấn miếng lưới và vột lấy phõn trờn lưới
- Đặt tấm đong trờn lam kớnh, cho phõn vừa lọc vào đầy hố đong Gạt nhẹ trờn miệng hố để loại phần phõn thừa
- Cẩn thận nhấc tấm đong sao cho phần phõn trong hố được giữ lại trờn lam
- Phủ trờn phõn mảnh cellophane đó được ngõm trước trong dung dịch xanh malachit
- Dựng nỳt cao su ấn nhẹ phõn qua mảnh cellophane để phõn dàn đều dưới mặt tiếp xỳc của nỳt cao su
- Nhấc nỳt cao su khỏi lam kớnh Mảnh cellophane cũn giữ lại trờn lam và tỏc dụng thay cho lỏ kớnh
Trang 30- Đặt tiêu bản lên mâm kính soi phát hiện trứng giun sán sau khi thấy tiêu bản trong và khô (thường sau 15 phút khi trời khô hanh, sau 30 phút đến 1 giờ khi trời ẩm ướt)
- Kỹ thuật Kato-Katz được đếm toàn bộ số trứng/lam, sau đó nhân với hệ số
24 để được số trứng/g phân Hệ số này thay đổi tùy theo đường kính lỗ đong và độ dày tấm đong
- Lưu ý: Hệ số 24 chỉ dùng với tấm đong có đường kính lỗ đong 6mm và độ dày tấm đong 1,5mm
* Các chỉ số đánh giá:
- Tỷ lệ nhiễm giun đũa, tóc, móc (%) qua xét nghiệm Kato-Katz
- Tỷ lệ nhiễm giun (%) = Số mẫu XN có trứng giun x 100/Số mẫu XN
- Cường độ nhiễm giun tính theo số trứng giun trên 1g phân được xác định qua xét nghiệm Kato-Katz Phân loại theo tiêu chuẩn của WHO,2002
Trang 312.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Mục tiêu Nhóm biến số Biến số/chỉ số Phương pháp
thu thập Thông tin chung:
Điều kiện kinh tế,
văn hóa, xã hội của
Nghề nghiệp, trình độ học vấn của mẹ
Nghề nghiệp chính của mẹ
Trình độ học vấn của bà mẹ
Tình trạng kinh tế
Tuổi của trẻ Phỏng vấn, bảng
hỏi Giới của trẻ
Cân nặng trẻ Cân trẻ Chiều cao trẻ Đo chiều cao trẻ Các chỉ số về
giun sán
Tỷ lệ nhiễm giun các loại
Xét nghiệm phân theo phương pháp Kato-Katz
Bội nhiễm giun Thực hành
chăm sóc dinh dưỡng của bà
mẹ
Thời gian bắt đầu cho ăn bổ sung
Phỏng vấn, bảng hỏi
Thành phần thức
ăn bổ sung Chế biến riêng thức ăn cho trẻ
Trang 32và thực hành chăm sóc của
bà mẹ
Tình trạng mắc bệnh tiêu chảy 2 tuần qua
Phỏng vấn, bảng hỏi
Đáp ứng của mẹ với việc chăm sóc trẻ tiêu chảy Chế độ dinh dưỡng khi trẻ bị tiêu chảy
Tình hình mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và thực hành chăm sóc của
bà mẹ
Tình trạng bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 2 tuần qua
Phỏng vấn, bảng hỏi
Đáp ứng của mẹ với việc chăm sóc trẻ ho, sốt
Chế độ dinh dưỡng khi trẻ bị
ho, sốt Thực hành
chăm sóc vệ sinh cho trẻ của bà mẹ
Thói quen vệ sinh cho trẻ sau khi đi
hỏi Thói quen mặc
quần cho trẻ Thói quen đi dép cho trẻ
Trang 332.6 Sai số và khống chế sai số
- Sai số nhớ lại
- Sai số kỹ thuật cõn đo
- Phỏng vấn thử để kiểm tra tính phù hợp của bộ câu hỏi;
- Chọn lựa cỏc điều tra viờn cú kinh nghiệm trong điều tra dinh dưỡng, cú kinh nghiệm làm việc với y tế thụn bản;
- Tổ chức tập huấn chi tiết về bảng hỏi và kỹ thuật cõn đo trước khi điều tra
2.7 Phõn tớch và xử lý số liệu
- Làm sạch số liệu từ phiếu
- Nhập và xử lý số liệu trờn phần mềm EPI DATA và SPSS 16.0
- Dựng test χ2 để kiểm định sự khỏc biệt của hai tỷ lệ và T-test để kiểm định
sự khỏc biệt của hai giỏ trị trung bỡnh
2.8 Thời gian nghiờn cứu : Thỏng 9/2010
2.9 Đạo đức nghiờn cứu
- Tất cả những người tham gia nghiờn cứu là hoàn toàn tự nguyện và được đọc bản thoả thuận nghiờn cứu được xõy dựng theo hướng dẫn về đạo đức trong nghiờn cứu
- Đối tượng nghiờn cứu cú quyền từ chối tham gia vào nghiờn cứu nếu họ khụng muốn
- Nghiờn cứu này được thụng bỏo cho chớnh quyền địa phương về quy mụ
và thời gian tiến hành
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm cơ bản của bà mẹ và hộ gia đình
Đặc điểm gia đình của bà mẹ
45,3 54,7
Nghề nghiệp của mẹ ( n=692)
Làm rẫy/làm ruộng Làm thợ
Cán bộ/công nhân Nội trợ
Trang 35Trình độ học vấn của bà mẹ( n=692)
Mù chữ Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Trung cấp
Tình hình kinh tế Tình trạng thiếu gạo ăn năm qua (2009) (n=687)
Số tháng thiếu gạo ăn trong năm ngoái (n=387)
Nhận xét :
Nghề nghiệp của các bà mẹ chủ yếu là làm rẫy, làm ruộng (96,5%) Tình trạng các bà mẹ mù chữ là phổ biến (52,4%) Có 17,8% bà mẹ học hết tiểu học, 21,7% học hết bậc học trung học cơ sở, chỉ có 7,2% các bà mẹ học cấp 3 hoặc cao hơn
Trang 36Trong số các bà mẹ được điều tra chiếm đa số là dân tộc Vân Kiều (65,6%), tiếp đến là Pakoh (32,2%), chỉ có 1 số nhỏ trẻ người Kinh (1,6%), còn lại dân tộc khác (0,6%)
Tỷ lệ hộ gia đình có từ 1-2 con là 54,7%, còn lại gia đình trên 2 con chiếm 45,3%
Tỷ lệ các gia đình thiếu gạo ăn trong năm 2009 là 56,9% Hầu hết các gia đình thiếu gạo ăn dưới 3 tháng (77,8%), thiếu 3 đến 6 tháng là 18,3% Một số
ít hộ gia đình thiếu ăn lâu ngày 6 đến 9 tháng (2,3%) và đặc biệt có 6 gia đình (1,6%) thiếu 9 đến 12 tháng 45,5% gia đình thuộc diện hộ nghèo theo đánh giá của Chính quyền địa phương (có giấy chứng nhận hộ nghèo)
42.8
46.4 10.8
Nước lấy từ sông suối
Hệ thống nước tự chảy Nước giếng/nước máy
Biểu đồ 3.1 Nguồn nước các hộ gia đình sử dụng cho ăn uống
Nhận xét:
Nguồn nước chính của người dân địa phương sử dụng cho ăn uống là từ sông suối, trong đó lấy nước từ hệ thống nước tự chảy dẫn về từ sông suối là 46,4%; người dân tự lấy từ suối là 42,8% Có 10,8% hộ gia đình sử dụng nước giếng / nước máy
Trang 37Hố xí hai ngăn
Hố xí một ngăn
Hố xí đào
có nắp đậy
Hố xí đào không có nắp đậy
Hầu hết các gia đình không có hố xí (68,9%), các gia đình này chủ yếu là
đi cầu ở ngoài vườn hoặc sông suối… Trong số các gia đình có hố xí, loại hố
xí mà các gia đình hay sử dụng nhất là hố xí đào không có nắp đậy chiếm 14,6%, là một loại nhà xí không hợp vệ sinh Các loại nhà xí được coi là hợp
vệ sinh như hố xí tự hoại, hố xí thấm dội nước có tỷ lệ lần lượt là 1,9% và 4,1%
Bảng 3.2 Phân bố tuổi theo giới của trẻ tham gia vào nghiên cứu
Trang 380 10 20 30 40 50 60 70 80
Nhẹ cân Thấp còi Gầy còm
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ SDD của trẻ theo các thể nhẹ cân, thấp còi và gầy còm
Trẻ gái (n=309)
p (t-test)
Cân nặng (kg) 9,4±1,4 9,7±1,5 9,1±1,3 0,001 Chiều cao (cm) 79,5±5,5 80,2±5,7 78,7±5,1 0,001 WAZ (Zscore) -2,1±1,0 -2,1±1,0 -2,1±0,9 0,62 HAZ (Zscore) -2,4±1,1 -2,5±1,2 -2,4±1,0 0,80 WHZ (Zscore) -1,2±0,9 -1,2±1,0 -1,1±0,8 0,43