Vốn ngân sách Nhà nước được sử dụng để đầu tư theo kế hoạch của Nhà nước đốivới những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các dự án trồng rừng đầu nguồn,rừng phòng hộ, vườn quốc gia, k
Trang 1PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN ĐẦU
TƯ XÂY DỰNG.
1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG.
1.1.1 Khái niệm về đầu tư.
1.1.1.1 Khái niệm về hoạt động đầu tư.
Hoạt động đầu tư là hoạt động có định hướng của con người, bỏ ra một lượng tàinguyên hoặc vốn sau một khoảng thời gian nhất định nhằm đạt được một mục đíchnào đó
1.1.1.2 Khái niệm về hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.
Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư được tiến hành bằng cáchxây dựng các tài sản cố định
Quá trình đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ hoạt động của chủ đầu tư từ khi bỏvốn đến khi thu đựơc kết quả từ việc tạo ra và đưa vào hoạt động các tài sản cố định.Như vậy quá trình đầu tư xây dựng cơ bản chính là toàn bộ quá trình hoạt động đểchuyển vốn đầu tư từ dạng tiền sang dạng tài sản phục vụ mục đích đầu tư, tạo ra cáctài sản cố định có năng lực sản xuất hoặc phục vụ phù hợp với mục đích đầu tư
Khác với kết quả của đầu tư nói chung, lợi ích thu đựơc dưới các hình thức đầu tưkhác nhau, kết quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là các tài sản cố định đượctạo ra dưới dạng vật chất
1.1.1.3 Mục đích của việc đầu tư.
Mục đích của đầu tư thể hiện mục đích của chủ đầu tư là thông qua hoạt động đầu
tư để thu được một số lợi ích nào đó
Xét về mặt lợi ích thì mục đích của việc đầu tư được thể hiện trên các khía cạnhsau:
Lợi ích kinh tế - tài chính
Lợi ích kinh tế - chính trị
Lợi ích trực tiếp, lợi ích gián tiếp, lợi ích trong ngành, lợi ích ngoài ngành
Lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài
Nếu chủ đầu tư là tư nhân hoặc tổ chức sản xuất kinh doanh thì mục đích của đầu
Trang 2tư là mang lại lợi ích kinh tế Nếu chủ đầu tư là Nhà nước thì lợi ích kinh tế xã - hộichính là mục đích của việc đầu tư; đôi khi mục đích đầu tư lấy lợi ích xã hội là mụcđích chính
1.1.2 Phân loại đầu tư.
Có nhiều cách phân loại đầu tư Ở đây nhằm phục vụ cho việc quản trị dự án đầu
tư, cần quan tâm đến các loại đầu tư sau:
1.1.2.1 Đầu tư trực tiếp: Đầu tư trực tiếp là đầu tư mà người bỏ vốn và người quản
lý sử dụng vốn là một chủ thể Đầu tư trực tiếp có thể là đầu tư trong nước hoặc đầu tưnước ngoài tại Việt Nam
1.1.2.2 Đầu tư gián tiếp: Đầu tư gián tiếp là đầu tư mà người bỏ vốn và người quản
lý sử dụng vốn không phải là một chủ thể
1.1.2.3 Đầu tư trong nước: Đầu tư trong nước là việc bỏ vốn vào sản xuất kinh
doanh tại Việt Nam của các tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ởnước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài tại Việt Nam
1.1.2.4 Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Là đầu tư trực tiếp của người nước ngoài
tại Việt Nam, là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặcbất kì tài sản nào khác để tiến hành các hoạt động đầu tư theo luật định của Luật đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam
1.1.2.5 Đầu tư mới: Là đầu tư để xây dựng các công trình, nhà máy, thành lập mới
các công ty, mở các cửa hàng mới, dịch vụ mới Đặc điểm của đầu tư mới là khôngphải trên cơ sở những cái hiện có mà phát triển lên
1.1.2.6 Đầu tư theo chiều sâu: Là loại đầu tư nhằm khôi phục, cải tạo, nâng cấp,
trang bị lại, đồng bộ hoá, hiện đại hoá, mở rộng các đối tượng hiện có
1.1.2.7 Đầu tư phát triển: Là đầu tư trực tiếp nhằm tăng thêm giá trị tài sản, tạo ra
năng lực mới hoặc cải tạo, mở rộng, nâng cấp năng lực hiện có vì mục tiêu phát triển,
có tác dụng quan trọng tr ong việc tái sản xuất mở rộng
1.1.2.8 Đầu tư dịch chuyển: Là đầu tư trực tiếp nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá
trị tài sản, đầu tư dịch chuyển không làm gia tăng giá trị tài sản Đầu tư này có ý nghĩaquan trọng trong việc hình thành, phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán,thị trường hối đoái,… hỗ trợ cho đầu tư phát triển
1.1.3 Các hình thức đầu tư.
Trang 31.1.3.1 Đầu tư trong nước.
Đối với đầu tư trong nước có các hình thức sau:
Doanh nghiệp nhà nước
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty cổ phần
Công ty liên doanh
Hợp tác xã
Doanh nghiệp tư nhân
1.1.3.2 Đầu tư nước ngoài.
Các hình thức đầu tư nước ngoài:
Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Hợp đồng xây dựng – kinh doanh - chuyển giao (BOT)
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao – kinh doanh (BTO)
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT)
1.1.4 Các giai đoạn của quá trình đầu tư.
Quá trình đầu tư là thứ tự về thời gian tiến hành những công việc của một quátrình đầu tư nhằm đạt đựơc mục tiêu đầu tư đề ra
Đối với hoạt động đầu tư trong xây dựng, quá trình đầu tư bao gồm 3 giai đoạn:Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đọan thực hiện đầu tư và giai đoạn kết thúc đầu tư đưa
dự án vào khai thác sử dụng
1.1.4.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư.
Các công việc cần giải quyết trong giai đoạn này gồm:
Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư Tiến hành xúc tiến,thăm dò thị trường trong nước, ngoài nước để tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị tiêuthụ sản phẩm
Xem xét các khả năng huy động các nguồn vốn và lựa chọn hình thức đầu tư
Lựa chọn địa điểm, lập dự án đầu tư, thẩm định dự án đầu tư
Trang 4Giai đoạn này kết thúc khi nhận đựơc văn bản Quyết định đầu tư (đối với cáctrường hợp đầu tư của Nhà nước) hoặc văn bản Giấy phép đầu tư (đối với đầu tư củacác thành phần kinh tế khác).
1.1.4.2 Giai đoạn thực hiện đầu tư.
Bao gồm các công việc sau:
Xin cấp giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất bao gồm cả mặt nước, mặt biển
và thềm lục địa
Chuẩn bị mặt bằng xây dựng, chọn thầu tư vấn khảo sát thiết kế
Thẩm định thiết kế
Đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp
Xin giấy phép xây dựng, giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có)
Ký kết các hợp đồng thực hiện dự án, thi công công trình, lắp đặt thiết bị
Tổng nghiệm thu công trình
1.1.4.3 Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng.
Giai đoạn này gồm các công việc sau: Bàn giao công trình, kết thúc xây dựng, bảohành công trình, vận hành dự án, đưa công trình vào sản xuất, kinh doanh
1.1.5 Những đối tượng tham gia vào hoạt động đầu tư.
Các đối tượng tham gia vào quá trình thực hiện đầu tư bao gồm một loạt cácdoanh nghiệp, các cơ quan của Nhà nước, các tổ chức xã hội và các hiệp hội có liênquan đến đầu tư, các khách hàng tiêu thụ sản phẩm của dự án đầu tư, sau đây là một
số đối tượng cụ thể:
1.1.5.1 Chủ đầu tư.
Chủ đầu tư là chủ thể quan trọng nhất đóng vai trò quyết định mọi vấn đề củađầu tư Chủ đầu tư là người sử dụng vốn, người vay vốn hoặc người được giao tráchnhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng vốn để thực hiện đầu tư theo quy định của phápluật
Nếu vốn đầu tư của dự án là doanh nghiệp Nhà nước, của các tổ chức sử dụngvốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tưphát triển của Nhà nước thì chủ đầu tư do người có thẩm quyền quyết định đầu tưquyết định
1.1.5.2 Các tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng.
Trang 5Các tổ chức này là các tổ chức chuyên làm các công việc lập dự án đầu tư,khảo sát, thiết kế, quản lý việc thực hiện dự án đầu tư Các tổ chức này làm việc theochế độ hợp đồng với chủ đầu tư.
1.1.5.3 Các doanh nghiệp xây dựng.
Các doanh nghiệp xây dựng chịu trách nhiệm tổ chức xây dựng và lắp đặt máymóc vào công trình theo hợp đồng đã ký với chủ đầu tư
1.1.5.4 Các doanh nghiệp và tổ chức cung cấp các yếu tố đầu vào cho dự án đầu
tư ở mọi giai đoạn của quá trình đầu tư.
1.1.5.5 Các tổ chức cung cấp và tài trợ vốn cho dự án đầu tư.
1.1.5.6 Các khách hàng tiêu thụ sản phẩm đầu ra của dự án.
1.1.5.7 Các cơ quan của Nhà nước có liên quan đến đầu tư, như: Chính phủ, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các
Bộ chức năng khác của Nhà nước có liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh và thànhphố trực thuộc Trung ương
1.1.5.8 Các tổ chức xã hội, các hiệp hội có liên quan đến đầu tư, nhất là Hội Xây
dựng, Hội Kinh tế, Hội Bảo vệ môi trường và nhân dân ở địa phương đặt dự án
1.1.6 Vốn đầu tư.
1.1.6.1 Khái niệm vốn đầu tư.
Vốn đầu tư là toàn bộ vốn dự kiến chi phí cho quá trình đầu tư nhằm đạt đượcmục đích đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng theo yêu cầu của dự án
Do nhu cầu vốn đầu tư thường là rất lớn, do đó vốn đầu tư là lượng vốn được tíchluỹ từ nhân dân, doanh nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế, nhằm đáp ứng nhu cầu vốnđầu tư
Vốn đầu tư tồn tại dưới nhiều hình thức Vốn đầu tư có thể là tiền, tài sản (baogồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình), sức lao động và các loại tài sản đặc biệtkhác như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu
Trong xây dựng cơ bản, vốn đầu tư chính là số tiền bỏ ra nhằm đạt được mục đichđầu tư, bao gồm chi phí cho khảo sát quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, chi phíkhảo sát thiết kế, chi phí cho xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị vàcác chi phí khác
1.1.6.2 Thành phần vốn đầu tư.
Trang 6a Vốn cố định:
Là vốn dùng để xây dựng công trình, mua sắm thiết bị
b Vốn lưu động:
Là vốn đựơc sử dụng cho quá trình khai thác và sử dụng các tài sản cố định của
dự án đầu tư trong quá trình kinh doanh sau này
1.1.6.3 Nguyên tắc quản lý và sử dụng các nguồn vốn để đầu tư.
a Vốn ngân sách Nhà nước.
Vốn ngân sách Nhà nước được sử dụng để đầu tư theo kế hoạch của Nhà nước đốivới những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các dự án trồng rừng đầu nguồn,rừng phòng hộ, vườn quốc gia, khu bảo tồn tự nhiên, các công trình văn hoá, xã hội,phúc lợi công cộng, quản lý Nhà nước, khoa học kỹ thuật, quốc phòng, an ninh và các
dự án trọng điểm của Nhà nước do Chính phủ quy định mà không có khả năng trựctiếp thu hồi vốn
b Vốn tín dụng ưu đãi thuộc Ngân sách Nhà nước.
Là vốn dùng để đầu tư cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các cơ sởsản xuất tạo việc làm, các dự án trọng điểm của Nhà nước trong từng thời kỳ và một
số dự án khác của các ngành có khả năng thu hồi vốn đã được xác định trong cơ cấu
kế hoạch của Nhà nước Việc bố trí đầu tư cho các dự án này do Chính phủ quyết địnhcho từng đối tượng trong thời kỳ kế hoạch
c Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).
Là hình thức đầu tư gián tiếp bằng nguồn vốn của Nhà nước vay của nước ngoàivới lãi suất ưu đãi Nguồn vốn này do Nhà nước quản lý và quản lý theo các quy chếriêng
d Vốn tín dụng thương mại.
Vốn tín dụng thương mại dùng để đầu tư xây dựng mới, mở rộng, cải tạo, đổi mớicông nghệ kỹ thuật các dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ có hiệu quả, có khả năngthu hồi vốn và có đủ điều kiện cho vay vốn theo quy định hiện hành Vốn tín dụngthương mại áp dụng theo cơ chế tự vay, tự trả và thực hiện đầy đủ các thủ tục, cácđiều kiện vay và trả
e Vốn tự huy động.
Vốn tự huy động của các doanh nghiệp nhà nước là vốn dùng để đầu tư cho sảnxuất kinh kinh doanh nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Trang 7Doanh nghiệp phải sử dụng theo đúng các chế độ quản lý vốn hiện hành Doanhnghiệp thuộc tổ chức nào quản lý nào quản lý thì tổ chức đó chịu trách nhiệm kiểm trachặt chẽ, đảm bảo sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả.
f Vốn hợp tác liên doanh với nước ngoài.
Trường hợp các doanh nghiệp Nhà nước được phép góp vốn liên doanh với nướcngoài bằng quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, nhà xưởng, thiết bị và các côngtrình khác thuộc sở hữu Nhà nước phải được cấp có thẩm quyền cho phép và làm thủtục nhận vốn để có trách nhiệm hoàn trả vốn cho Nhà nước theo quy định hiện hành
1.1.6.4 Hiệu quả đầu tư.
a Khái niệm:
Hiệu quả đầu tư là tất cả những lợi ích do việc đầu tư mang lại như: lợi ích kinh tế
- xã hội, lợi ích của chủ đầu tư, lợi ích cho người sử dụng
b Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư.
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư, có thể phân các nhân tố đóthành các nhóm sau:
Các nhân tố chủ quan như: Trình độ lập và thực hiện các phương án đầu tư kể từkhi xác định đường lối đầu tư cho đến khi kết thúc đầu tư đưa dự án vào khai thác sửdụng
Các nhân tố khách quan: Trình độ phát triển kinh tế kỹ thuật của đất nước, khảnăng cung cấp vốn, các nhân tố kinh tế đối ngoại, các nhân tố phi kinh tế và các nhân
tố ngẫu nhiên khác Điều kiện khí hậu, dân số, các yếu tố về tài nguyên, môi trường,thuỷ văn,…đều có thể làm ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư
Các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả đầu tư: Giải pháp thiết kế công trình
đã được đầu tư xây dựng, giá cả, trình độ sử dụng công trình đã xây dựng xong, cơcấu đầu tư, năng suất lao động,…đều là các nhân tố gây ảnh hưởng trực tiếp đến hiệuquả đầu tư
Các nhân tố ảnh hưởng gián tiếp như: Cơ chế quản lý kinh tế tác động lên quátrình đầu tư xây dựng và sử dụng công trình sau khi xây dựng xong, cơ chế đầu tư tácđộng lên quá trình đầu tư
c Nâng cao hiệu quả đầu tư.
Để dễ dàng hơn trong việc đưa ra các phương án nâng cao hiệu quả đầu tư, ở đây
ta xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư theo từng giai đoạn của quá
Trang 8trình đầu tư
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Việc xác định đường lối và chiến lược đầu tư ở giai đoạn này mang một ý nghĩarất quan trọng Ở bước lập kế hoạch đầu tư phải đặc biệt chú ý giải quyết hợp lý vấn
đề cơ cấu đầu tư, phải tiến hành sắp xếp trình tự xây dựng các công trình cụ thể vàphải xác định mức độ ưu tiên cho các lĩnh vực, các ngành mũi nhọn, các công trìnhtrọng điểm
Các công trình được thiết kế sẽ là biểu hiện cụ thể của đường lối phát triển kinh
tế, khoa học kỹ thuật của Đảng và Nhà nước Chính vì vậy mà bước khảo sát thiết kế
là công việc có tầm quan trọng đặc biệt Ở bước này cần nâng cao chất lượng thăm dò,khảo sát bằng cách áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ cáccán bộ của các cơ quan thiết kế
Ở bước thiết kế cần lựa chọn các giải pháp thiết kế về quy hoạch mặt bằng, về dâychuyền công nghệ có tính kinh tế cao Trong bước này, để nâng cao hiệu quả vốn đầu
tư cần tăng cường áp dụng thiết kê mẫu điển hình và hoàn thiện định mức giá cả
Giai đoạn thực hiện đầu tư
Ở giai đoạn này cần áp dụng các biện pháp tổ chức, công nghệ có tính kinh tế cao;tìm mọi biện pháp rút ngắn thời gian thi công, áp dụng xây dựng phân kỳ một cáchhợp lý, giảm bớt khối lượng thi công dở dang
Để nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư cần tăngcường đảm bảo chất lượng công trình hơn nữa; cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cáckhâu thi công
Giai đoạn kết thúc đầu tư
Trong giai đoạn này, việc thực hiện tốt công tác tổ chức khai thác nhằm tăng thêmkết quả thu nhập do công trình đem lại, thực hiện chế độ bảo hành, bảo hiểm, duy tusửa chữa nhằm kéo dài thời gian sử dụng công trình là góp phần làm tăng hiệu quả củaviệc đầu tư
Như vậy, muốn nâng cao hiệu quả đầu tư cần làm đúng, đủ và có hiệu quả tất cảcác khâu trong từng giai đoạn của quá trình đầu tư
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ.
1.2.1 Khái niệm – Vai trò – Yêu cầu đối với dự án đầu tư xây dựng công trình 1.2.1.1 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng công trình (theo Luật xây dựng).
Trang 9Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộnghoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về khối lượng,cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảngthời gian xác định.
1.2.1.2 Vai trò của dự án đầu tư.
Dự án đầu tư có những vai trò quan trọng như sau:
Là phương diện để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư
Là phương tiện thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tàitrợ cho vay vốn
Là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi đôn đốc quá trìnhthực hiện và kiểm tra quá trình thực hiện dự án
Là văn kiện cơ bản để các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét, phê duyệt, cấpgiấy phép đầu tư
Là căn cứ quan trọng nhất để theo dõi, đánh giá và điều chỉnh kịp thời nhữngtồn đọng và vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác công trình
Dự án (báo cáo nghiên cứu khả thi) có tác dụng tích cực để giải quyết nhữngvấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa các bên có liên quan đến thực hiện dự án
Dự án (báo cáo nghiên cứu khả thi) là căn cứ quan trọng để xem xét, xử lý hàihoà mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ của các bên tham liên doanh, giữa liên doanh
và Nhà nước Việt Nam Và đây cũng là cơ sở pháp lý để giải quyết khi có tranh chấpgiữa các bên tham gia liên doanh
Dự án (báo cáo nghiên cứu khả thi) còn là căn cứ quan trọng để xây dựng hợpđồng liên doanh, soạn thảo điều luật của doanh nghiệp liên doanh
Với những vai trò quan trọng như vậy không thể coi việc xây dựng một dự án đầu
tư là việc chiếu lệ để đi tìm đối tác, xin cấp vốn, vay vốn, xin giấy phép mà phải coiđây là một công việc nghiên cứu bởi nó xác định rõ ràng quyền lợi, nghĩa vụ củachính bản thân đơn vị lập dự án trước Nhà nước và nhân dân
1.2.1.3 Yêu cầu đối với dự án đầu tư.
Một dự án đầu tư để đảm bảo tính khả thi cần đảm bảo những yêu cầu sau:
Tính khoa học và hệ thống: Đòi hỏi những người soạn thảo dự án phải có một
Trang 10quá trình nghiên cứu thật tỉ mỉ và kỹ càng, tính toán chính xác cẩn thận từng nội dung
cụ thể của dự án (phân tích tài chính, phân tích kỹ thuật) Đồng thời rất cần sự tư vấncủa các cơ quan chuyên môn về dịch vụ đầu tư giúp đỡ
Tính pháp lý: Các dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc, tức là phải phùhợp với chính sách và pháp luật của Nhà nứơc Do đó trong quá trình soạn thảo dự ánphải nghiên cứu kỹ chủ trương đường lối chính sách của Nhà nước và các văn bản quychế liên quan đến hoạt động đầu tư
Tính đồng nhất: Đảm bảo tính thống nhất của các dự án đầu tư thì các dự ánphải tuân thủ các quy định chung của các cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư kể
cả các quy định về thủ tục đầu tư Đối với các dự án quốc tế còn phải tuân thủ nhữngquy định chung mang tính quốc tế
Tính hiện thực: Để đảm bảo tính hiện thực các dự án phải được nghiên cứu vàxác định trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể cóliên quan trực tiếp hay gián tiếp tới hoạt động đầu tư Việc chuẩn bị kỹ càng có khoahọc sẽ giúp thực hiện dự án có hiệu quả cao nhất và giảm tới mức tối thiểu các rủi ro
có thể xảy ra trong quá trình đầu tư
1.2.2 Phân loại dự án đ ầ u tư.
1.2.2.1 Theo quy mô, tính chất dự án.
Theo quy mô và tính chất dự án ta có:
Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương, cho phép đầu tư
Các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C
Dự án nhóm A:
1 Các dự án thuộc phạm vi bảo vệ an ninh quốc phòng, có tính bảo mật quốc gia,
có ý nghĩa chính trị - xã hội quan trọng, thành lập và xây dựng hạ tầng khu côngnghiệp mới không phụ thuộc quy mô vốn đầu tư
2 Các dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ khai thác chế biến khoáng sản quýhiếm; vàng bạc, đá quý, đất hiếm không phụ thuộc vào quy mô vốn đầu tư
3 Với mức vốn trên 600 tỷ đồng đối với các dự án: công nghiệp điện, khai thácdầu khí, chế biến dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, luyện kim, khai thác chếbiến khoáng sản, ximăng, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay,đường sắt, đường quốc lộ), xây dựng khu nhà ở
Trang 114 Với mức vốn trên 400 tỷ đồng đối với các dự án: thuỷ lợi, giao thông (khôngthuộc diện kể trên), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sảnxuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác,sản xuất vật liệu, bưu chính viễn thông.
5 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: Công nghiệp nhẹ, sành sứ, thuỷ tinh, in,vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷhải sản, chế biến nông, lâm sản
6 Các dự án văn hoá, y tế, giáo dục, phát thanh, truyền hình, các dự án dân dụngkhác (trừ xây dựng khu nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoahọc và các dự án khác
Dự án nhóm B:
Các dự án dưới mức quy định của nhóm A và trên mức quy định của nhóm B
Dự án nhóm C:
Các dự án có tổng mức đầu tư với các quy định sau:
1 Dưới 30 tỷ đồng đối với các dự án thuộc ngành công nghiệp điện, khai thác đầukhí, hoá chất, phân bón, chế tao máy, ximăng, luyện kim, khai thác chế biến khoángsản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốclộ) Các trường phổ thông nằm trong quy hoạch (không kể mức vốn), xây dựng khunhà ở
2 Dưới 20 tỷ đồng đối với các dự án thuộc các ngành thuỷ lợi, giao thông (khôngthuộc diện trên), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, điện tử,tin học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính,viễn thông
3 Dưới 15 tỷ đồng đối với các dự án: công nghiệp nhẹ, sành sứ, thuỷ tinh, in,vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷsản, chế biến nông, lâm sản
4 Dưới 7 tỷ đồng đối với các dự án: Y tế, văn hoá giáo dục, phát thanh, truyềnhình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây dựng khu nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thểthao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác
1.2.2.2 Theo nguồn vốn.
Theo nguồn vốn đầu tư có các loại dự án sau:
Dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước
Trang 12 Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư pháttriển của Nhà nước.
Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước
Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiềunguồn vốn
1.2.3 Sự cần thiết phải lập dự án đầu tư.
Dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế đặc thù, trong đó lập dự án là khâu đầutiên
Xét về mặt pháp lý: Việc lập dự án đầu tư là cơ sở để các cơ quan Nhà nước về
đầu tư thẩm định để ra quyết định đầu tư, quyết định tài trợ cho các dự án đó
Đối với chủ đầu tư: Dự án đầu tư đựơc duyệt là tài liệu pháp lý để xin phép đầu
tư và giấy phép hoạt động, xin phép nhập khẩu vật tư, máy móc, thiết bị, xin ảnhhưởng ưu đãi về đầu tư, xin vay vốn, kêu gọi góp vốn, hoặc phát hành cổ phiếu, tráiphiếu…
Về mặt nội dung của dự án: Việc lập dự án đầu tư là việc tính toán trước một
cách toàn diện về các giải pháp kinh tế - kỹ thuật, về kế hoạch bỏ vốn và huy độngvốn, kế hoạch kỹ thuật triển khai đầu tư, kế hoạch tổ chức khai thác…nhằm đạt đượcmục đích của chủ đầu tư Việc nghiên cứu, tính toán trước khi đầu tư xây dựng chophép chủ đầu tư có thể lường trước những khó khăn, thuận lợi, loại trừ được những rủi
ro không đáng có Mặt khác việc lập dự án đầu tư sẽ làm cơ sở để lập kế hoạch hànhđộng và các biện pháp tổ chức thực hiện cho giai đoạn triển khai sau này
1.2.4 Nội dung của dự án xây dựng công trình.
1.2.4.1 Những căn cứ xác định sự cần thiết của dự án.
a Căn cứ pháp lý
Các căn cứ pháp lý của một dự án là:
Các văn bản cho phép ban đầu của cơ quan Nhà nước có liên quan về việc khởithảo một dự án đầu tư, nhất là cơ quan quản lý của chủ đầu tư
Tư cách pháp nhân của chủ đầu tư
Các văn bản pháp quy có liên quan đến đầu tư như: Luật xây dựng, Luật đấtđai, Luật đầu tư…
b Nhu cầu về việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Trang 13 Các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước phải xuất phát trực tiếp từnhu cầu thực hiện đường lối và kế hoạch phát triển của đất nước, căn cứ vào quyhoạch tổng thể phát triển các ngành và các vùng.
Đối với các dự án đầu tư của các doanh nghiệp được thực hiện bằng vốn tíndụng hay tự có thì đường lối và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước chỉ
có tính định hướng
c Nghiên cứu về tình hình kinh tế xã hội của khu vực đặt dự án.
Nghiên cứu tình hình kinh tế - xã hội của khu vực đặt dự án phải phục vụ cho cảgiai đoạn xây dựng và giai đoạn khai thác công trình dự án sau này Nội dung nghiêncứu bao gồm:
Tình hình kinh tế xã hội của khu vực nói chung, tuỳ theo tính chất của dự án
mà có thể gồm các vấn đề như tốc độ tăng trưởng kinh tế của khu vực; tình hình dân
số, lao động và việc làm; chiến lược phát triển kinh tế xã hội của khu vực, các quyhoạch xây dựng liên quan đến dự án,…
Tình hình thị trường sản phẩm liên quan đến dự án
Khả năng cung cấp vật tư và nhân lực của địa phương
Tình hình an ninh và ảnh hưởng của dự án đến môi trường văn hoá xã hội
d Nhu cầu thị trường.
Tình hình thị trường có liên quan đến sản phẩm của dự án là căn cứ quan trọngchứng minh sự cần thiết của dự án Nội dung nghiên cứu thị trường phải bao gồm cácnội dung như nghiên cứu chủng loại hay dịch vụ của dự án, nghiên cứu nhu cầu về sốlựơng sản phẩm, nghiên cứu về tiếp thị và nghiên cứu về tình hình cạnh tranh và khảnăng chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm dự án
1.2.4.2 Phân tích kỹ thuật.
a Phân tích điều kiện thiên nhiên khu vực.
Miêu tả các điều kiện địa hình, địa chất, khí tượng, thuỷ văn, vật liệu xây dựng,vùng chiụ ảnh hưởng của các công trình thuỷ lợi, các vùng có khả năng chịu ảnhhưởng của dự án
b Chọn cấp hạng và tiêu chuẩn kỹ thuật của công trình của dự án.
Trình bày các phương án khác nhau về cấp hạng và tiêu chuẩn kỹ thuật, kể cả dựkiến phân kỳ đầu tư toàn bộ dự án hoặc một bộ phận, một hạng mục công trình
Trang 14c Các giải pháp thiết kế đối với các hạng mục của công trình.
Trình bày các quy trình, quy phạm, định hình đã áp dụng khi thiết kế công trình
và các công trình phụ trợ Trong đó phải đề xuất các phương án giải pháp thiết kế và
lý do chọn giải pháp thiết kế Thống kê khối lượng công việc đối với từng hạng mục
d Trình tự và kế hoạch triển khai dự án.
Phân tích và trình bày các nội dung:
- Chủ đầu tư và chủ quản đầu tư
- Thời hạn khởi công và hoàn thành công trình dự án
- Trình tự đưa vào xây dựng các bộ phận, các hạng mục công trình
- Khối lượng – nhu cầu nhân vật lực, máy móc thiết bị, vật liệu xây dựng cầnthiết
e Kế hoạch quản lý và khai thác.
Phân tích và trình bày các vấn đề về quản lý, khai thác bao gồm cả duy tu, sửachữa công trình
1.2.4.3 Phân tích kinh tế, tài chính.
Phân tích kinh tế, tài chính bao gồm các nội dung:
a Tính toán tổng mức đầu tư đối với mỗi phương án.
Khái niệm tổng mức đầu tư
Tổng mức đầu tư của dự án là khái toán chi phí của toàn bộ dự án được xác địnhtrong giai đoạn lập dự án, gồm chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí đền bù giảiphóng mặt bằng – tái định cư, chi phí khác bao gồm cả vốn lưu động đối với các dự ánsản xuất kinh doanh, lãi vay trong xây dựng và chi phí dự phòng
Tổng mức đầu tư dự án được ghi trong quyết định đầu tư là cơ sở để lập kế hoạch
và quản lý vốn đầu tư, xác định hiệu quả đầu tư của dự án Đối với dự án sử dụng vốnngân sách nhà nước, tổng mức đầu tư là giới hạn chi phí tối đa mà chủ đầu tư đựơcphép sử dụng để đầu tư xây dựng công trình
Tổng mức đầu tư dự án chỉ được điều chỉnh, tương tự như đối với điều chỉnh dự
án tức là khi có một trong các trường hợp sau đây:
- Xuất hiện các yếu tố bất khả kháng do thiên tai như động đất, bão, lũ,lụt, song thần, chiến tranh hoặc có nguy cơ chiến tranh
Trang 15- Do biến động bất thường của giá nguyên vật liệu, do thay đổi tỷ giá hối đoáiđối với phần vốn có sử dụng ngoại tệ hoặc do Nhà nước ban hành các chế độ, chínhsách mới có quy định được thay đổi mặt bằng giá đầu tư xây dựng công trình.
- Do người quyết định đầu tư hoặc chủ đầu tư thay đổi khi thấy xuất hiện nhữngyếu tố mới đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn cho dự án
- Khi quy hoạch xây dựng đã được duyệt thay đổi có ảnh hưởng trực tiếp cho dựán
Việc điều chỉnh tổng mức đầu tư dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước phảiđược người quyết định đầu tư cho phép và được thẩm định lại đối với các phần thayđổi so với tổng mức đầu tư đã được phê duyệt Đối với các dự án sử dụng vốn khác thìchủ đầu tư xây dựng công trình tự quyết định việc điều chỉnh
Nội dung tổng mức đầu tư (Theo Thông tư số 04/2005/TT-BXD, ngày 1/4/2005 của Bộ Xây Dựng về việc hướng dẫn lập và quản lý chi phí xây dựng công trình thuộc
dự án đầu tư).
Tổng mức đầu tư bao gồm: Chi phí xây dựng, Chi phí thiết bị, Chi phí đền bù giảiphóng mặt bằng, tái định cư, Chi phí quản lý dự án và Chi phí khác
b Xác định loại nguồn vốn, nhu cầu vốn và yêu cầu vốn theo tiến độ.
Một trong những nội dung quan trọng của dự án là xác định hình thức huy độngvốn Có các hình thức thực hiện dự án theo nguồn vốn như sau (không kể nguồn vốnngân sách)
- Hình thức BOT: Theo hình thức này, chủ đầu tư tự bỏ vốn để xây dựng côngtrình, sau đó tự quản lý khâu vận hành, khai thác để thu hồi vốn và có lợi nhuận trongmột thời gian nhất định Hết thời hạn này, chủ đầu tư phải chuyển giao công trình choNhà nước không có bồi hoàn
- Hình thức BTO: Theo hình thức này, chủ đầu tư ban đầu tự bỏ vốn xây dựngcông trình, cơ sở hạ tầng và chuyển giao cho Nhà nước khai thác, Nhà nước giành chochủ đầu tư một thời gian nhất định để kinh doanh
- Hình thức BT: Theo hình thức này, chủ đầu tư ban đầu tự bỏ vốn xây dựng cáccông trình, sau đó chuyển giao cho Nhà nước khai thác kinh doanh Nhà nước sẽ tạođiều kiện cho chủ đầu tư thực hiện dự án đầu tư khai thác để thu hồi vốn
Trang 16- Hình thức đầu tư trực tiếp FDI: Đầu tư trực tiếp là hình thức hợp tác kinhdoanh dưới hình thức công ty liên doanh hoặc công ty có 100% vốn đầu tư của nướcngoài.
- Hình thức vay vốn từ quỹ hỗ trợ phát trỉên chính thức ODA: Theo hình thứcnày dự án được vay vốn nước ngoài với lãi suất thấp Nhu cầu vốn theo tiến độ đượcxác định theo khối lượng công việc thực hiện
c Phân tích hiệu quả đầu tư và lựa chọn phương án tối ưu.
Hiệu quả đầu tư thể hiện trên khía cạnh tài chính và kinh tế - xã hội Trong phầnnày cần thuyết minh rõ phương pháp phân tích, căn cứ của các thông số đưa vào tínhtoán, chỉ rõ cách tính các chi phí và các đối tượng được hưởng các lợi ích của việcxây dựng công trình các dự án, thời hạn phân tích và kết quả phân tích
Dựa và các kết quả phân tích tài chính, kinh tế - xã hội và một số các chỉ tiêu kỹthuật tổng hợp, các ưu khuyết điểm của mỗi phương án (kể cả vấn đề nghiên cứu tác
động môi trường) để đưa ra kết luận và kiến nghị chọn phương án (Xem chi tiết chương II).
1.2.4.4 Đánh giá tác động môi trường.
Việc xây dựng và khai thác một công trình giao thông góp phần vào việc cải thiệnhoàn cảnh kinh tế, xã hội nhưng có thể tác động xấu đến các yếu tố môi trường baogồm: sự đi lại, làm việc của dân cư; tình trạng chiếm dụng đất và tái định cư, môitrường nông nghiệp, thuỷ lợi, môi trường nước, đất và môi trường sinh thái
Mục đích của việc đánh giá tác động môi trường là điều tra, phân tích, đánh giá,
dự báo các tác động của quá trình xây dựng và khai thác dự án tới các yếu tố môitrường từ đó đề ra các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu các tác động bất lợi, đề xuấtcác biện pháp đền bù những hậu quả do các tác động bất lợi đó gây ra
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
GIAO THÔNG VẬN TẢI.
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG VẬN TẢI.
2.1.1 Đặc điểm của dự án phát triển giao thông vận tải.
Đầu tư phát triển giao thông vận tải có những đặc điểm sau:
Trang 17 Mục tiêu của đầu tư phát triển giao thông vận tải không phải vì mục đích kinhdoanh đơn thuần để thu lợi nhuận, mà quan trọng hơn là tạo tiền đề cho các ngành sảnxuất khác phát triển và phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân, là điều kiện để ổn định vàphát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong hiện tại cũng như trong tương lai Dovậy trong so sánh và đánh giá phương án đầu tư cần phải lấy lợi ích kinh tế xã hội làmục tiêu chính sau đó mới xét đến lợi ích thoả đáng của chủ đầu tư.
Xây dựng các công trình giao thông là ngành sản xuất nhằm xây dựng kết cấu
hạ tầng xã hội, là tiền đề cho sự phát triển các ngành kinh tế - xã hội khác Bởi vậyviệc phát triển giao thông vận tải luôn phải đi trước về năng lực, trình độ công nghệ.Hiệu quả của nó chính là sự thúc đẩy và tạo tiềm năng phát triển các ngành kinh tế -
kỹ thuật trong vùng thu hút của dự án đầu tư Chính bởi vậy, muốn phát triển kinh tế
xã hội, trước tiên cần ưu tiên phát triển giao thông vận tải đi trước một bước như là sự
mở đường cho các ngành khác phát triển Đây cũng là kinh nghiệm rút ra từ bài họcthực tế phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam và trên thế giới
Dự án đầu tư phát triển giao thông vận tải đòi hỏi quy mô đầu tư ban đầu lớnchu kỳ kinh doanh dài, gặp nhiều yếu tố bất định và thường nằm ngoài khả năng tựđiều tiết của các nhà đầu tư tư nhân, dễ gây rủi ro, vì vậy nhất thiết cần có sự điều tiếtcủa Nhà nước
2.1.2 Giá cả trong phân tích đánh giá dự án đầu tư.
2.1.2.1 Giá tài chính (giá thị trường).
Giá tài chính hay còn được gọi là giá thị trường là giá được hình thành từ thịtrường và được dùng để phân tích hiệu quả tài chính của dự án thể hiện lợi ích của chủđầu tư (doanh nghiệp)
Trong giá thị trường thường chỉ thể hiện được các chi phí trực tiếp sản xuất ra sảnphẩm, nó chưa thể hiện được các chi phí khác của các bên có liên quan đặc biệt là cácchi phí chung của toàn xã hội cũng như các chi phí về mặt môi trường
Ở nước ta, nền kinh tế theo hướng thị trường nhưng có sự điều tiết của Nhà nước
Do đó giá thị trường cũng bị bóp méo bởi các chính sách vĩ mô như: chính sách thuế,chính sách tài chính - tín dụng, chính sách bảo trợ mậu dịch, chính sách xã hội,… Tuynhiên giá cả thị trường luôn được coi là chuẩn mực để đánh giá lợi ích tài chính trựctiếp của chủ đầu tư
2.1.2.2 Giá kinh tế (giá mờ).
Trang 18Giá kinh tế (còn gọi là giá mờ) là giá thị trường đã được điều chỉnh để giảm bớtcác ảnh hưởng của các nhân tố làm cho giá cả không phản ánh đúng giá trị thực củahàng hoá.
Khi phân tích lợi ích của dự án trên quan điểm Nhà nước hay của cộng đồng cầnloại bỏ những bóp méo của giá thị trường và như vậy giá được sử dụng ở đây là giámờ
2.2 KHÁI NIỆM VÀ TIÊU CHUẨN CỦA HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA DỰ ÁN.
Hiệu quả của dự án đầu tư là mục tiêu đạt được của dự án xét theo mặt định tính
và mặt định lượng
Về mặt định tính: hiệu quả của dự án bao gồm các hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹthuật (đẩy mạnh tốc độ phát triển kỹ thuật), hiệu quả xã hội (nâng cao phúc lợi côngcộng, giảm thất nghiệp, bảo vệ môi trường), hiệu quả theo quan điểm lợi ích doanhnghiệp và quan điểm quốc gia, hiệu quả thu được từ dự án và ở các lĩnh vực có liênquan ngoài dự án, hiệu quả trước mắt và lâu dài Riêng hiệu quả kinh tế có thể thuđược trực tiếp từ các phương án tổ chức kỹ thuật hoặc gián tiếp từ các hiệu quả xã hội
Về mặt định lượng: Hiệu quả được thể hiện thông qua một hệ chỉ tiêu về kinh
tế, kỹ thuật và xã hội, trong đó có một vài chỉ tiêu hiệu quả kinh tế được coi là chỉ tiêuhiệu quả tổng hợp để lựa chọn phương án
Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp thường là các chỉ tiêu: mức chi phí sảnxuất, lợi nhuận, doanh lợi đồng vốn, thời hạn thu hồi vốn, hiệu số thu chi, suất thu lờinội taị, tỷ số thu chi Các chỉ tiêu này được dùng kết hợp hay riêng lẻ tuỳ theo quanđiểm của nhà kinh doanh trong từng trường hợp cụ thể Ở cấp doanh nghiệp hiệu quảcủa dự án đầu tư là hiệu quả tài chính
Về mặt định lượng, tiêu chuẩn khái quát để lựa chọn phương án đầu tư là: với một
số chi phí đầu tư cho trước đạt được kết quả lớn nhất, hay với một kết quả cần đạtđược cho trước phải đảm bảo chi phí ít nhất Hiệu quả kinh tế thường được biểu diễntheo số tương đối (tỷ số giữa kết quả và chi phí) và theo số tuyệt đối (hiệu số thu chi).Khi so sánh các phương án, chỉ tiêu hiệu quả của mỗi phương án phải vượt quamột trị số nhất định (gọi là định mức hay ngưỡng của hiệu quả) thì mới gọi là đáng giá(hay có hiệu quả) Trong các phương án đáng gía này sẽ chọn lấy một phương án tốtnhất Nếu phương án tốt nhất vừa có chỉ tiêu hiệu quả tương đối lớn nhất lại vừa cóchỉ tiêu kết quả kinh tế tuyệt đối lớn nhất thì đó là trường hợp lý tưởng Nếu điều kiệnnày không được đảm bảo thì lấy chỉ tiêu kết quả tuyệt đối làm tiêu chuẩn để chọn
Trang 19phương án tốt nhất nhưng chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tương đối phải lớn hơn ngưỡng củahiệu quả quy định.
2.3.1 Mô hình tổng quát.
Cũng giống như các dự án khác, việc đánh gía dự án giao thông vận tải bắt đầubằng việc nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế - xã hội, cơ chế chính sách của Nhànước để làm cơ sở cho việc lượng hoá chi phí và lợi ích của dự án
Mục tiêu đầu tư cho phát triển giao thông vận tải là để thoả mãn nhu cầu vậnchuyển hàng hoá và hành khách, phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội với chiphí xã hội theo giá mờ là nhỏ nhất Do đó, dự báo nhu cầu vận tải (hàng hoá và hànhkhách) là một trong số những tiền đề quan trọng nhất để lượng hoá chi phí cũng nhưlợi ích của dự án đầu tư trong lĩnh vực giao thông vận tải Độ tin cậy của các kết quả
dự báo nhu cầu vận tải có ảnh hưởng quyết định đến việc đánh giá một dự án giaothông vận tải
Sau khi đã có kết quả dự báo nhu cầu vận tải, bước tiếp theo là lập các bảng chiphí và lợi ích của dự án Tuỳ theo mục đích đầu tư mà lợi ích và chi phí ở đây có thểxem xét trên quan điểm tài chính thuần tuý hay trên quan điểm kinh tế
Thông thường, lợi ích chủ yếu của một dự án phát triển giao thông vận tải gồm:
Lợi ích trong ngành vận tải: Giảm chi phí khai thác, tiết kiệm thời gian vậnhành phương tiện, giảm chi phí khắc phục phương tiện do giảm tai nạn giao thông
Lợi ích ngoài ngành vận tải: Giảm thiệt hại do rút ngắn thời gian vận chuyểnnhư giảm thời gian ứ đọng hàng hoá trong quá trình vận chuyển, giảm hao hụt hànghoá phụ thuộc vào thời gian vận chuyển (hàng tươi, sống), giảm thời gian đi lại củahành khách Thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất khác
Lợi ích không (hoặc khó) lượng hoá được: Giảm thiểu tác động tiêu cực đếnmôi trường sinh thái và môi trường xã hội…
Trên cơ sở các bảng cân đối lợi ích và chi phí của dự án, giai đoạn tiếp theo làđánh giá hiệu quả của dự án theo quan điểm và chỉ tiêu đánh giá đã lựa chọn
Việc đánh giá dự án nói chung và đánh giá dự án phát triển giao thông vận tải nóiriêng không chỉ là đưa ra các con số để kết luận: Đây là dự án đáng giá hay khôngđáng giá mà vấn đề quan trọng hơn là phải làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu của dự
Trang 20án Muốn làm được điều đó đòi hỏi người phân tích đánh giá dự án phải nhanh nhạyvới thị trường, giá cả và các yếu tố đầu vào và kết quả đầu ra của dự án.
2.3.2 Mô hình chi tiết.
Phương pháp luận chung phân tích đánh giá và lựa chọn phương án đầu tư tronglĩnh vực giao thông vận tải không nằm ngoài nguyên tắc và các quan điểm đánh giá dự
án đầu tư nói chung Tuy nhiên, do ngành giao thông vận tải là một ngành sản xuấtđặc biệt; đặc tính của nguồn vốn đầu tư và mục đích đầu tư vào lĩnh vực giao thôngvận tải có những nét khác biệt so với các ngành khác nên việc phân tích đánh giá dự
án phát triển giao thông vận tải cũng mang những nét đặc thù riêng
Mô hình chi tiết phân tích hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế của dự án đầu tưtrong giao thông vận tải có thể tóm tắt theo sơ đồ sau:
Sơ đồ đánh giá dự án đầu tư phát triển giao thông vận tải theo quan điểm tài
chính
Trang 21Đánh giá dự án đầu tư phát triển giao thông vận tải theo quan điểm tài chính
Giá thị trường
Chi phí tài chính của chủ đầu tư Lợi ích tài chính của chủ đầu tư
tư trang
thiết
bị
Chi phí duy tu sửa chữa
cơ sở
hạ tầng
Chi phí vận hành khai thác
Các khoản thu từ hạng mục đầu tư
Tiết kiệm chi phí khai thác vận hành
Tiết kiệm các chi phí khác
Kết luận tính khả thi về mặt
tài chính
Đánh giá mức độ an toàn về tài chính của dự án (tính toán
độ nhạy, mức độ rủi ro…)
Tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án (FNPV, FIRR, FB/C, FThv)
Các loại thuế
Trang 22Sơ đồ đánh giá dự án đầu tư phát triển giao thông vận tải theo quan điểm
kinh t ế Đánh giá dự án đầu tư phát triển giao thông vận tải theo quan điểm kinh t ế
Lợi ích của chủ đầu tư
Lợi ích của người sử dụng
Lơị ích kinh tế -
xã hội
Kết luận tính khả thi về mặt kinh tế - xã hội
Tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của dự án (ENPV,
EIRR)
Nâng cao khả năng củng cố
an ninh quốc phòng
Thúc đẩy nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội
Nâng cao đời sống văn hoá.giảm ô nhiễm môi trường.Nâng cao hiệu quả sử dụng
cơ sở hạ tầng
Nâng cao chất lượng vận tải
Tiết kiệm chi phí khai thác phương tiện vận tải
Giảm thiệt hại do rút ngắn thời gian vận chuyển
Giảm thời gian đi lại của hành khách
Giảm tai nạn giao thông
Giảm chi phí khai
Trang 232.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG VẬN TẢI.
Việc phân tích hiệu quả của dự án đầu tư thực chất là đánh giá về mặt tài chính –kinh tế của phương án đã đề xuất hay đã được chọn trong dự án Phân tích hiệu quả dự
án là một phần không thể thiếu của nội dung dự án Mục đích của việc phân tích chính
là nhằm để xem xét việc đầu tư trong phạm vị nguồn vốn đã có là hiệu quả hay không
2.4.1 Phân tích đánh giá hiệu quả tài chính.
Để tiến hành phân tích hiệu quả tài chính của một dự án đầu tư phát triển giaothông vận tải, trước hết cần xác định được các thông số cần thiết về dự án phục vụ choviệc phân tích này
2.4.1.1 Chọn năm gốc tính toán.
Thông thường, hoạt động đầu tư nói chung và hoạt động đầu tư trong lĩnh vựcgiao thông vận tải nói riêng đều có tính chất chung là thời gian đầu tư và khai thác dài.Một dự án đầu tư trong giao thông vận tải thường có thời gian kéo dài hàng chục năm.Với thời gian dài như vậy thì giá trị của đồng tiền cũng có sự thay đổi rất lớn (dưới tácdụng của lãi suất) Để có thể đánh gía được dự án một cách đúng đắn thì phải xem xétđến yếu tố thời giá tiền tệ và cần chuyển tất cả các khoản tiền ở những thời điểm khácnhau về cùng về một thời điểm tính toán, gọi là năm gốc tính toán hay thời điểm tínhtoán (năm 0 của dòng tiền)
Trên quan điểm về giá trị tương đương thì ta có thể chọn thời điểm này ở một nămbất kỳ Nhưng để thuận tiện cho việc tính toán, thông thường chọn năm gốc tính toán
ở các thời điểm sau: thời điểm bắt đầu bỏ vốn đầu tư (đối với dự án thông thường,thời gian xây dựng ngắn; hoặc đối với dự án lớn, thời gian xây dựng dài), chọn thờiđiểm kết thúc thi công công trình – đưa dự án vào khai thác (đối với dự án lớn, thờigian xây dựng dài) và khi đó các khoản đầu tư trong giai đoạn xây dựng được chuyển
về năm gốc bằng cách tính gía trị tương lai còn các khoản thu nhập trong thời giankhai thác lại được chuyển về năm gốc bằng cách tính giá trị hiện tại ở năm gốc
2.4.1.2 Giá trị của tiền tệ theo thời gian.
Tính chất của hoạt động đầu tư là thời gian kéo dài hàng chục năm, tiền tệ được
sử dụng như một đơn vị tính toán các chỉ tiêu giá trị của dự án Song tiền vốn luônsinh lời theo thời gian, đồng thời luôn chịu sự thay đổi giá trị theo thời gian có thể làgiảm giá trị (do lạm phát hay trượt giá)
Trang 24Để đánh giá sự biến động này, ta sử dụng một cách ước lượng thông qua một hệ
số gọi là suất chiết khấu (kí hiệu là r) Dưới tác dụng của lãi suất, sau một thời giannhất định thì giá trị của đồng tiền đã có sự thay đổi lớn Khi đó một khoản A đồngnăm nay sẽ tương đương với A(t) đồng của năm thứ t:
A(t) = A * (1+ r)t-1Hay ngược lại nếu vào năm thứ t ta mới chi một khoản tiền B đồng, thì điều đócũng có thể xem là ta chi một khoản B(1) đồng vào năm thứ nhất:
B1 = B/(1+ r)t-1Bằng cách này chúng ta có thể tính đổi các chỉ tiêu giá trị tính bằng tiền về mộtthời điểm để tính toán so sánh
2.4.1.3 Xác định thời hạn đầu tư và thời gian khai thác.
Đối với các dự án trong lĩnh vực giao thông vận tải, tuổi thọ của dự án thường rấtdài Vì vậy, sau một thời gian khai thác nhất định cần phải được duy tu sửa chữa đểđảm bảo chất lượng khai thác của công trình đối với dự án cầu, đường bộ, do hiệusuất sử dụng lớn nên cần duy tu thường xuyên, sau thời gian khai thác khoảng 5 nămthì trùng tu và từ 15 đến 20 năm sẽ phải đại tu Tuỳ vào từng dự án cụ thể, với nhữngđặc điểm về nguồn vốn, kỹ thuật…để xác định 2 thông số này cho phù hợp Thôngthường thời hạn đầu tư của các dự án giao thông vận tải thường từ 2 đến 4 năm; cònthời gian khai thác thường lấy lớn hơn hoặc bằng khoảng thời gian mà công trình đócần đại tu (khoảng từ 15 đến 30 năm)
2.4.1.4 Xác định nguồn vốn, cơ cấu vốn và chi phí sử dụng vốn.
Xác định nguồn và cơ cấu vốn rất cần thiết cho việc tính toán các thông số tiếptheo để đánh giá hiệu quả dự án đầu tư Một dự án có thể sử dụng một hoặc nhiềunguồn vốn khác nhau và được huy động từ các nguồn chủ yếu sau:
- Nguồn vốn ngân sách bao gồm vốn đầu tư ngân sách Trung ương và địaphương
- Nguồn vốn vay bao gồm vốn tín dụng trong nước, vốn vay của các tổ chứckinh tế trong và ngoài nước, của Ngân hàng thế giới )
- Các nguồn khác bao gồm vốn cổ phần, vốn viện trợ, vốn liên doanh, vốn đầu tưnước ngoài…)
Trang 25Nếu dự án có sử dụng từ 2 nguồn vốn lên thì phải xác định cơ cấu của nguồn vốnbởi cơ cấu nguồn vốn có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả vốn đầu tư Một cơ cấu vốn hợp
lý sẽ đem lại hiệu quả chung của đầu tư phát triển giao thông vận tải là lớn nhất
Chi phí sử dụng các nguồn vốn là căn cứ quan trọng để chủ đầu tư lựa chọnnguồn, là căn cứ để tính suất chiết khấu Chi phí sử dụng vốn là lãi suất làm cân bằnggiữa giá trị của nguồn vốn nhận được và giá trị quy về thời điểm hiện tại của cáckhoản chủ đầu tư phải trả trong tương lai như: tiền trả lãi vay, tiền trả vốn gốc, trả lãi
cổ phần,… và được xác định như sau:
0 0
(1 )
t t
i: Chi phí sử dụng vốn
C0: Chi phí hoa hồng, môi giới, khai trương, bảo hiểm,… ở thời điểm đi vay t = 0
V0: Vốn nhận được tại thời điểm t = 0
Ct: Các khoản phải thanh toán cho chủ nợ tại thời đỉểm t liên quan đến huy độngvốn, kể cả tiền trả vốn gốc và tiền trả lãi vay
2.4.1.5 Tính toán suất chiết khấu của dự án (r).
Như đã nói ở trên, một dự án có thể sử dụng một hoặc nhiều nguồn vốn khácnhau Các dự án đầu tư trong lĩnh vực giao thông vận tải, đặc biệt là các dự án xâydựng công trình mang tính chất chiến lược thường đòi hỏi có nguồn vốn rất lớn nêncác dự án này phải huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau (nợ vay, cổ phiếu ưu tiên,lợi nhuận không chia và cổ phiếu thường mới) Nếu các nguồn vốn này lại có tỷ lệtrong tổng nguồn vốn khác nhau và lãi suất khác nhau thì khi đó suất chiết khấu của
dự án là lãi suất bình quân theo cơ cấu các nguồn vốn và được xác định theo phươngpháp bình quân gia quyền theo công thức sau:
r = i
0
W
n i i
k
(2.2)Trong đó:
Wi: Tỷ trọng nguồn vốn thứ i trong tổng nguồn vốn đầu tư
ki: chi phí của nguồn vốn thứ i
Trong trường hợp nền kinh tế có lạm phát (với tỷ lệ lạm phát là w (%)), suất chiếtkhấu của dự án được xác định như sau: r’ = (r + w + (r * w))
Trang 26Tỷ suất chiết khấu “r” đóng vai trò quan trọng trong tính toán hiệu quả tài chínhcủa dự án đầu tư Tỷ suất này dùng để đưa giá trị của chi phí và lợi ích thực tế trongquá trình đầu tư, khai thác dự án về gía trị hiện tại hoặc tương lai Thực chất của tỷsuất này là kể đến sự biến đổi của đồng tiền theo thời gian Nó gồm hai yếu tố chính:
- Sự mất giá của đồng tiền do lạm phát
- Sự sinh lời của đồng tiền khi bỏ vào lưu thông
Trong phân tích đánh giá hiệu quả dự án đầu tư, tỷ suất chiết khấu mang hai ýnghĩa chính:
- Một là: Thể hiện đặc tính của đồng vốn sẽ dùng để đầu tư:
Thông thường chủ đầu tư phải huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau và theo
tỷ lệ vay khác nhau Mỗi loại vốn đều có một mức độ lãi suất tối thiểu có thể chấpnhận được khi đưa vào lưu thông Khi đó, việc việc phân tích và đánh giá được đánh
giá theo giá trị chiết khấu trung bình xác định theo công thức (2.2).
- Hai là: Thể hiện quan điểm trong đầu tư:
Với các công trình mang tính xã hội thuộc kết cấu hạ tầng hoặc liên quan đến, anninh quốc phòng… tỷ suất chiết khấu nhỏ hơn nhiều so với các công trình có mục tiêukinh doanh là chủ yếu Vốn đầu tư cho các công trình này chủ yếu lấy từ nguồn ngânsách bao gồm cả vốn tín dụng ưu đãi, vốn viện trợ không hoàn lại, vốn vay từ nướcngoài… Có thể xem đây là nguồn vốn chung của xã hội, thường đòi hỏi thời gian thuhồi vốn dài hơn và mức độ lãi suất tối thiểu nhỏ hơn so với các nguồn khác
2.4.1.6 Xác định các chi phí và lợi ích của dự án.
a Chi phí của dự án đầu tư phát triển giao thông vận tải
Bao gồm một phần vốn đầu tư cần thiết cho việc thực hiện dự án, phần khác là cácchi phí để tiến hành dự án trong cả vòng đời của nó Tuỳ theo tính chất của dự án, cácchi phí này rất khác nhau Khi phân tích chi phí của một dự án phát triển giao thôngvận tải theo góc độ của nền kinh tế quốc dân có một số khác biệt khi đứng trên góc độcủa doanh nghiệp như sau:
Thuế: Trong phân tích tài chính, thuế được coi là khoản chi phí, nhưng theo
quan điểm kinh tế thì thuế không làm giảm thu nhập, vì nó chỉ là hình thức chuyển sởhữu từ đơn vị này sang đơn vị khác Do đó, thuế không được coi là chi phí trong phântích kinh tế
Trang 27 Trợ giá: Để khuyến khích đầu tư, Nhà nước có thể trợ giá cho một số đầu vào
sản xuất Khi phân tích tài chính, giá đầu vào đó được phân tích theo giá thị trường(đã được trợ giá) còn khi phân tích kinh tế phải cộng thêm phần trợ giá đó
Các khoản trả nợ vốn vay: Các khoản trả nợ hay vay vốn để kinh doanh (kể cả
nợ gốc và lãi) là các hoạt động tín dụng, chúng chỉ biểu hiện quyền chuyển giao sửdụng vốn từ đơn vị này sang đơn vị khác và không làm tăng giảm thu nhập quốc dân
Vì vậy, trong phân tích tài chính chúng ta phải trừ đi khỏi khoản thu nhập các khoảntrả nợ, nhưng trong phân tích kinh tế xã hội ta phải cộng vào khi tính toán một số chỉtiêu
Chi phí trực tiếp của chủ đầu tư
Ở đây chỉ đề cập đến chi phí trực tiếp của chủ đầu tư đối với dự án đầu tư xâydựng các công trình giao thông Đối với các dự án này, đó chính là chi phí đầu tư xâydựng công trình
Chi phí đầu tư xây dựng công trình thuộc các dự án đầu tư là toàn bộ chi phí cầnthiết để xây dựng mới hoặc cải tạo, mở rộng hay trang bị lại tình trạng kỹ thuật côngtrình
Do đặc điểm của quá trình sản xuất và đặc điểm sản phẩm của các công trình giaothông nên mỗi công trình có chi phí xây dựng riêng được xác định theo quy mô, đặcđiểm, tính chất kỹ thuật và yêu cầu công nghệ của quá trình xây dựng
Theo các giai đọan của quá trình đầu tư xây dựng, chi chí xây dựng công trìnhđược biểu thị qua chỉ tiêu tổng mức đầu tư ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, tổng dự toáncông trình, dự toán hạng mục công trình, giá thanh toán công trình ở giai đoạn thựchiện đầu tư và vốn đầu tư được quyết toán khi kết thúc xây dựng đưa dự án vào khaithác sử dụng
Tổng mức đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư và xây dựng (kể cả vốn sản xuất banđầu) và là giới hạn chi phí tối đa của dự án được xác định trong quyết định đầu tư.Chi phí xây dựng công trình được xác định dựa trên cơ sở khối lượng công việc,
hệ thống định mức, chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và các chế độ chính sách của Nhà nướcphù hợp với những yếu tố khách quan của thị trường trong từng thời kỳ và được quản
lý căn cứ theo quy chế hiện hành
Tổng mức đầu tư được phân tích, tính toán và xác định trong giai đoạn lập báocáo nghiên cứu khả thi (hoặc báo cáo đầu tư) của dự án, bao gồm:
Chi phí cho việc chuẩn bị đầu tư:
Trang 28Điều tra khảo sát, lập và báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án.
Chi phí chuẩn bị thực hiện đầu tư:
- Đền bù đất đai, hoa màu, di chuyển dân cư và các công trình khác trên mặtbằng xây dựng hoặc tái định cư;
- Chuyển quyền sử dụng đất;
- Khảo sát, thiết kế, lập và thẩm định thiết kế, tổng dự toán;
- Chi phí thực hiện công tác đấu thầu, hoàn tất các thủ tục đầu tư;
- Xây dựng đường, điện, nước thi công, khu phụ trợ, nhà ở tạm cho công nhânnếu có
Chi phí thực hiện đầu tư xây dựng:
Chi phí xây lắp, mua sắm thiết bị và các chi phí khác có liên quan
- Chi phí xây lắp bao gồm:
+ Chi phí phá và tháo dỡ vật kiến trúc cũ (có tính đến giá trị vật tư, vật liệu đượcthu hồi nếu có để giảm chi phí đầu tư);
+ Chi phí san lấp mặt bằng xâydựng;
+ Chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công (đường thicông, điện nước, nhà xưởng…), nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công.+ Chi phí xâydựng các hạng mục công trình;
+ Chi phí lắp đặt thiết bị (đối với thiết bị cần lắp đặt);
+ Chi phí di chuyển thiết bị thi công và lực lượng xây dựng trong trường hợp chỉđịnh thầu (nếu có);
- Chi phí mua sắm thiết bị bao gồm:
+ Chi phí mua sắm thiết bị công nghệ (gồm cả thiết bị phi tiêu chuẩn cần sản xuất,gia công (nếu có)), các trang thiết bị khác phục vụ sản xuất, làm việc, sinh hoạt (baogồm thiết bị lắp đặt và thiết bị không lắp đặt);
+ Chi phí vận chuyển từ cảng hoặc từ nơi mua đến chân công trình, chi phí lưukho, lưu bãi, lưu container (nếu có), chi phí bảo quản, bảo dưỡng tại kho bãi ở hiệntrường;
+ Thuế và chi phí bảo hiểm thiết bị công trình;
+ Chi phí khởi công công trình (nếu có)
Trang 29- Chi phí khác có liên quan trong giai đoạn xây dựng bao gồm:
+ Chi phí giám sát thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị và các chi phí tư vấn khác;+ Chi phí Ban quản lý dự án;
+ Chi phí bảo vệ an toàn, bảo vệ môi trường trong qúa trình xây dựng công trình.+ Chi phí kiểm định vật liệu để đưa vào công trình;
+ Chi phí đào tạo công nhân kỹ thuật và cán bộ quản lý sản xuất (nếu có);
+ Chi phí thuê chuyên gia vận hành và và sản xuất trong thời gian chạy thử (nếucó);
+ Chi phí nguyên liệu, năng lượng và nhân lực cho qúa trình chạy thử có tải vàkhông tải (trừ giá trị sản phẩm thu hồi được) …
- Chi phí chuẩn bị sản xuất để đưa dự án vào khai thác sử dụng.
Chi phí đào tạo, chạy thử, sản xuất thử, thuê chuyên gia vận hành trong thời gianchạy thử
- Vốn lưu động ban đầu cho sản xuất.
- Lãi vay ngân hàng của chủ đầu tư trong thời gian thực hiện đầu tư.
- Chi phí bảo hiểm, chi phí dự phòng.
Đối với các dự án nhóm A và các dự án có yêu cầu đặc biệt được Thủ tướngChính phủ cho phép thì ngoài các nội dung nói trên, trong tổng mức đầu tư còn baogồm các chi phí nghiên cứu khoa học, công nghệ có liên quan đến dự án
- Chi phí duy tu, sửa chữa:
Chi phí duy tu, sửa chữa các công trình xây dựng nhằm duy trì và phục hồi nănglực thông qua của công trình, chi phí này do chủ đầu tư đảm nhận Chi phí duy tu còngọi là chi phí sửa chữa thường xuyên được tiến hành hàng năm
Trang 30Chi phí sửa chữa bao gồm: Chi phí sửa chữa vừa và chi phí sửa chữa lớn đượctiến hành theo chu kỳ sửa chữa, nó phụ thuộc vào lưu lượng vận tải thông qua, cấphạng đường, chế độ khai thác, điều kiện tự nhiên tại khu vực công trình …Trong phântích đánh giá dự án đầu tư, để đơn giản trong tính toán, thông thường các chi phí nàyđược xác định bằng tỷ lệ phần trăm của chi phí đầu tư ban đầu và tính bình quân đềucho hàng năm khai thác.
Chi phí xã hội không phản ánh trong giá cả thị trường.
- Chi phí thời gian:
Khi sử dụng hệ thống giao thông vận tải cũ, người và phương tiện giao thông sẽlãng phí một lượng thời gian rất lớn do phải chờ đợi lâu hay do tốc độ giao thông củacác phương tiện đó quá thấp Vì thời gian cũng là tiền nên ngoài những khoản cướcphí phải trả, hành khách hay cộng đồng xã hội còn phải chịu một chi phí do thời gian
bị lãng phí, do thời gian chạy trên đường quá lâu nên năng suất của phương tiện thấphoặc dẫn đến tình trạng tắc nghẽn giao thông dẫn đến sự gia tăng của các chi phí khác.Tuy nhiên, khoản chi phí thời gian này không chiếm tỷ trọng đáng kể trong việcphân tích, đánh giá một dự án giao thông vận tải Dễ dàng nhận thấy điều này do hiệnnay tình trạng thất nghiệp trên thế giới đang trở nên phổ biến Vì vậy, chắc chắnnhững người tham gia giao thông sẽ không chấp nhận trả thêm tiền do tiết kiệm thờigian
- Chi phí về tai nạn giao thông:
Chi phí về tai nạn giao thông thường bao gồm các khoản sau:
+ Chi phí cho việc đền bù, thuốc men …cho người bị thiệt hại;
+ Chi phí để khắc phục các hậu quả do tai nạn gây ra như: thiệt hại của phươngtiện và công trình giao thông, chi phí cho công an, chi phí bảo hiểm…
+ Chi phí cho các biện pháp phòng ngừa tai nạn giao thông như: lắp đặt các thiết bị
an toàn trên phương tiện và các thiết bị kiểm soát giao thông, dựng các biển chỉ dẫn,làm các con đường tránh nạn trên dốc, đèo…
Đây là khoản chi phí không những người bị nạn và thân nhân của họ phải chịu mà
cả xã hội cũng bị tổn thất do mất đi những tế bào của mình
- Chi phí về môi trường:
Đối với các phương tiện vận tải có động cơ chạy bằng xăng hay dầu, khí thải vàtiếng ồn là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái và sức khoẻ con
Trang 31người Bảo vệ môi trường và sức khoẻ cho người dân đang là mối quan tâm hàng đầuhiện nay của nhân loại.
Những tác động của các phương tiện vận tải đến môi trường là:
Chi phí của sự ô nhiễm môi trường:
+ Chi phí xử lý các loại khí xả độc, chi phí cho các loại nhiên liệu sạch hơn…+ Chi phí cho việc khắc phục hậu quả của sự ô nhiễm môi trường như: sức khoẻcủa con người, ảnh hưỏng đến môi trường sinh thái, bầu khí quyển …
Độ ồn của phương tiện:
Ở các trục đường hay các đô thị, tiếng ồn của các phương tiện vận tải tác độngkhông còn nhỏ đến sức khoẻ của con người Chi phí cho khắc phục độ ồn của phươngtiện bao gồm: chi phí cho việc nghiên cứu chế tạo các loại phương tiện ít gây tiếng ồn,chi phí chống ồn ở các con đường lớn…
b Dòng thu của dự án đầu tư phát triển giao thông vận tải.
Các khoản thu chủ yếu là doanh thu hàng năm, giá trị thu hồi khi đào thải tài sản
cố định trung gian và cuối cùng, khoản thu hồi vốn lưu động cuối đời dự án
Trong dự án xây dựng công trình giao thông các khoản thu chủ yếu xét từ góc độphân tích tài chính, là doanh thu từ phí cầu đường (nếu có tổ chức thu phí)
2.4.1.7 Xác định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính.
a Giá trị hiện tại ròng (F-NPV).
Khái niệm: Giá trị hiện tại ròng (hay hiện giá thuần) là lợi nhuận của dự án tính
về thời đỉểm hiện tại Giá trị hiện tại ròng được xác định bằng tổng giá trị hiện tại củacác khoản thu ròng so với tổng giá trị hiện tại của các khoản chi phí đầu tư
r: suất chiết khấu của dự án
Rt: giá trị thu ròng ở năm thứ t, được xác định bằng lợi nhuận sau thuế ở năm thứ tcộng khấu hao ở năm thứ t
Rt = LNst
t + KHt
Trang 32LNtst: lợi nhuận sau thuế, bằng lợi nhuận trước thuế trừ thuế thu nhập doanhnghiệp.
KHt: khấu hao ở năm t
n: tuổi thọ của phương án theo quy định
Bt: khoản thu ở năm t, bao gồm: doanh thu bán hàng ở năm t; giá trị thu hồi khithanh lý tài sản do hết tuổi thọ hay do thời gian tồn tại của dự án đã kết thúc; vốn lưuđộng đã bỏ ra ở năm đầu và phải thu lại ở cuối đời dự án
Ct: khoản chi ở năm t, bao gồm: chi phí đầu tư để mua sắm hay xây dựng tài sản
cố định (máy móc, nhà xưởng) ở thời điểm đầu và các thời điểm t, cũng như mộtkhỏan vốn lưu động tối thiểu bỏ ra ban đầu để khai thác dự án Chi phí vận hành(không bao gồm khấu hao cơ bản)
Như vậy, hiệu số thu chi Bt – Ct = Rt (ở các năm không có chi phí đầu tư và cáckhoản thu hồi đặc biệt) thực chất chỉ bao gồm hai khoản: khấu hao cơ bản và lợinhuận
Đánh giá dự án:
- Nếu F-NPV > 0 => Dự án khả thi (có lợi nhuận)
- Nếu F-NPV = 0 => Dự án không có lời (hoà vốn)
- Nếu F-NPV < 0 => Dự án không khả thi (bị lỗ vốn)
Ưu điểm:
Chỉ tiêu F-NPV cho chủ đầu tư biết được tổng lợi ích đạt được tính về gía trị hiệntại khi đầu tư dự án, nó đo lường trực tiếp phần lợi nhuận mà dự án đóng góp vào tàisản của cổ đông; xếp hạng các dự án phù hợp với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Vìvậy, F-NPV thường là chỉ tiêu đầu tiên và chủ yếu mà người phân tích đưa ra để quyếtđịnh lựa chọn hay loại bỏ một dự án đầu tư
- F-NPV phụ thuộc vào hệ số chiết khấu, mà trên thực tế hệ số này chịu ảnhhưởng của nhiều yếu tố khác nhau Vì vậy, nó khó tránh khỏi những hạn chế do tính
Trang 33chủ quan hay chưa xem xét vấn đề một cách toàn diện của người đề xuất hệ số này (cóthể là người lập hay người phân tích dự án).
b Suất thu hồi nội bộ (F-IRR).
Khái niệm: Suất thu hồi nội bộ là lãi suất tối đa để khả năng sinh lời của dự ánđạt được hoà vốn, tức là ứng với r = F-IRR thì F-NPV = 0
F-IRR: được tìm ra ở đường cong F-NPV và trục hoành r
F-NPV1, F-NPV2: Giá trị lợi ích ròng hàng năm tương ứng với giá trị r1 và r2
r1, r2: suất chiết khấu ước tính ở mức thấp và mức cao mà tại đó F-NPV có giá trịdương và giá trị âm gần 0
Trang 34- Nếu F-IRR > r => Dự án có khả thi.
- Nếu F-IRR = r => Dự án hoà vốn
- Nếu F-IRR < r => Dự án không khả thi
Tỷ suất nội hoàn càng cao, tính kinh tế của dự án càng cao
- Có thể tính đến nhân tố trượt giá và lạm phát bằng cách thay đổi các chỉ tiêucủa dòng tiền tệ và suất thu lợi tối thiểu r
- Giúp chúng ta có thể tìm được phương án tốt nhất theo cả hai chỉ tiêu F-IRR vàF-NPW trong các điều kiện nhất định
- Khó ước lượng chính xác các chỉ tiêu cho cả đời dự án
- Phương pháp này nâng đỡ các dự án ít vốn đầu tư, ngắn hạn, có tỷ suất doanhlợi cao so với các dự án tuy cần nhiều vốn, dài hạn, có tỷ suất sinh lời thấp nhưng hiệu
số thu chi cả đời dự án (số tuyệt đối) cao, nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu F-IRR một cáchthuần tuý
- Đã giả định các hiệu số thu chi dương qua các năm (thu nhập hoàn vốn N)được đầu tư lại ngay vào phương án với suất chiết khấu bằng chính trị số F-IRR cầntìm Điều này không phù hợp với thực tế nếu F-IRR tìm ra quá lớn
- Việc xác định trị số F-IRR tương đối phức tạp, nhất là với dòng tiền tệ đổi dấunhiều lần
Trang 35c Tỷ số lợi ích trên chi phí (F-B/C).
Khái niệm: Tỷ số lợi ích trên chi phí hay tỷ số thu chi là tỷ số giữa giá trị tươngđương của lợi ích trên giá trị tương đương của chi phí Giá trị tương đương ở đây cóthể quy về hiện tại, tương lai hay giá trị san đều hàng năm
Cách xác định:
F - 0
0
(1 )/
(1 )
n
t t
t n
t t
- Nếu F-B/C > 1 => F-NPV > 0 và F-IRR > r, dự án khả thi
- Nếu F-B/C = 1 => Dự án được chọn hay loại bỏ tuỳ thuộc vào mục đích củachủ đầu tư
- Nếu F-B/C <1 => F-NPV < 0 và F-IRR < r => Dự án không khả thi
d Thời gian hoàn vốn (F-T hv ).
Khái niệm: Là khoảng thời gian cần thiết để tổng lợi ích thu được bằng tổngchi phí bỏ ra Đây cũng chính là khoảng thời gian cần thiết để F-NPV = 0
F-PVCt(n): tổng giá hiện tại của các khoản chi phí đầu tư tính đến năm thứ n
Trang 36n: năm bắt đầu có F-NPV dương.
F-PVRt(n-1): tổng giá trị hiện tại của các khoản thu ròng tính đến năm thứ n-1
F-PVRt(n): tổng giá trị hiện tại của các khoản thu ròng tính đến năm thứ n
Đánh giá dự án:
- Nếu F-Thv > thời gian quy định => dự án không chấp nhận
- Nếu F-Thv = thời gian quy định => dự án có thể được xem xét chấp nhận hoặckhông
- Nếu F-Thv < thời gian quy định => dự án được chấp nhận
- Bỏ qua những khoản thu nhập ngoài thời gian hoàn vốn của dự án
- Yếu tố rủi ro đối với dòng kim lưu của dự án không được xem xét
- Không đo lường trực tiếp tác động của dự án đối với thu nhập của cổ đông
2.4.2 Phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội.
Phân tích kinh tế - xã hội là việc xem xét đánh giá dự án xuất phát từ lợi ích củatoàn bộ nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội
Tương tự như phân tích tài chính, để phân tích kinh tế xã hội cần xác định cácthông số cần thiết phục vụ cho việc phân tích này
2.4.2.1 Lợi ích kinh tế - xã hội.
a Lợi ích do giảm chi phí khai thác.
Chi phí khai thác được giảm do nhiều yếu tố khác nhau Ví dụ khi cải thiện đườngsắt hay đường bộ thì làm giảm chi phí khai thác xe cộ Các dạng dự án khác nhau thìlượng giảm chi phí khai thác cũng khác nhau Tuy nhiên ta có thể xét việc giảm chiphí theo 3 trường hợp sau: trường hợp có lưu lượng vận tải bình thường, trường hợp
Trang 37có lưu lượng vận tải phát sinh và trường hợp có lưu lựơng vận tải cảm ứng Ở đây chỉxem xét hai trường hợp là:
Với lưu lượng vận tải bình thường:
Là lưu lượng (hàng hoá, xe cộ, hành khách…) mà ta có thể quan sát được trênđường nếu không xuất hiện dự án
Chi phí khai thác được giảm là sự so sánh với tình trạng trước khi có dự án và tìnhtrạng có dự án với một lưu lượng hành khách bình thường Cụ thể trong dự án giao
thông vận tải, giá trị tiết kiệm được của chi phí vận chuyển hành khách được tính như
sau:
1( ) ( ) ( T S )
B t Q t C C (2.8)Trong đó:
B1(t)HK: Lợi ích thu được (ở năm t) do tiết kiệm chi phí vận chuyển hành khách
1( ) ( ) ( T S )
B t P t C C (2.9)Trong đó:
B1(t)HH: Lợi ích thu được (ở năm t) do tiết kiệm chi phí vận chuyển hàng hoá
HH: Chi phí vận chuyển cho một tấn-km trong trường hợp có dự án
Với lưu lượng vận tải cảm ứng.
Là lưu lượng (hàng hóa, hành khách, xe cộ,…) đã tồn tại trước khi có dự án, song
chúng được khai thác ở các dự án khác Chi phí khai thác giảm được đối với luồng hành khách cảm ứng được tính như sau:
2( ) 0.5 ( S T ) ( T S )
B t Q Q C C (2.10)
Trang 38b Lợi ích do tiết kiệm thời gian.
Đối với phương tiện: việc giảm thời gian của phương tiện (bao gồm thời gianvận hành và thời gian chờ đợi), sẽ rút ngắn thời gian hoạt động, nghĩa là làm tăngnăng lực vận tải của phương tiện Lợi ích do giảm thời gian của phương tiện được xácđịnh như sau:
( T S)
B N t t G (2.12)Trong đó:
BPT: Lợi ích của dự án đem lại do rút ngắn thời gian của phương tiện trong nămtính toán
Trang 39N
: Lưu lượng xe loại i trong năm tính toán
tiT, tiS: Thời gian vận chuyển của loại phương tiện thứ i đang xét trong trường hợptrước và sau khi có dự án
Gxe-g: Giá trị một xe-giờ của phương tiện i đang xét
c Lợi ích do giảm tai nạn.
Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ tai nạn giao thông thường khá cao, gây ra tổnthất không nhỏ về người và tiền của Nguyên nhân của tai nạn giao thông có một phần
do lỗi của con người, phần lớn còn lại là do hệ thống giao thông không đáp ứng nổinhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hoá, dẫn đến tình trạng mạng lưới đường lướiđường giao thông trở nên quá tải và mật độ phương tiện giao thông ngày càng dàyđặc, Ở nước ta, tai nạn giao thông chủ yếu là tai nạn đường bộ do phương tiện vận tải
cá nhân (xe đạp, xe máy) và ôtô gây ra chiếm tỷ lệ cao
Chính vì vậy, dự án phát triển giao thông vận tải là một nhân tố quan trọng gópphần giảm bớt mật độ phương tiện vận tải cá nhân, hạn chế tai nạn giao thông
Lợi ích do giảm tai nạn giao thông được xác định như sau:
d Lợi ích của người sử dụng.
Trong trường hợp có dự án đầu tư phát triển giao thông vận tải, lợi ích chủ yếucủa người sử dụng thu được là lợi ích do tiết kiệm thời gian nhiều dự án giao thôngvận tải, dẫn đến kết quả tiết kiệm khá nhiều thời gian vận chuyển hành khách và thờigian vận chuyển hàng hoá của chủ hàng Đối với người có phương tiện vận tải cánhân, họ còn tiết kiệm được thời gian vận hành của phương tiện Tốc độ khai thác củaphương tiện đi lại, tình trạng tắc nghẽn giao thông đã làm mất khá nhiều thời gian củahành khách và các phương tiện lưu thông trên đường Vì thời gian cũng chính là tiềnbạc nên lợi ích đem lại do tiết kiệm thời gian có thể biểu hiện qua đồng tiền
Trang 40Đối với hành khách đi trên phương tiện vận tải thì lợi ích thu đựơc là tiết kiệmthời gian đi trên phương tiện, giảm thời gian chờ đợi của hành khách tại các điểm đỗ.Lợi ích của người sử dụng do rút ngắn thời gian vận chuyển bao gồm:
Lợi ích do tiết kiệm thời gian đi lại của hành khách:
- Giá trị một giờ của hành khách được xác định dựa trên thu nhập bình quântháng của họ chia cho số giờ làm việc bình quân trong tháng Việc xác định chính xácgiá trị một giờ của hành khách rất phức tạp, thông thường để xác định chỉ tiêu này,người ta chia hành khách thành các nhóm: hành khách làm việc và hành khách khônglàm việc (hành khách đi du lịch, nghỉ ngơi) và hành khách đi buôn
- Với hành khách đang làm việc kỹ thuật thì giá trị thời gian tiết kiệm có thểđược tính như tiền lương họ được trả (lương ngày hay lương giờ)
- Đối với hành khách là thương gia thì thời gian tiết kiệm được của họ tính bằngthu nhập (ngày hoặc giờ) của họ
- Đối với hành khách khác, thời gian tiết kiệm được và giá trị của nó rất khó xácđịnh
- Lợi ích do tiết kiệm thời gian đi lại của hành khách được xác định như sau:
B t( )HK Q t( )HK T G HK g (2.14)B(t)HK: Hiệu quả kinh tế do rút ngắn thời gian đi lại của hành khách
0.7-GHK-g: giá trị một giờ của hành khách
Lợi ích do tiết kiệm thời gian vận chuyển.
Do tiết kiệm thời gian làm giảm ứ đọng hàng hoá trong quá trình vận chuyển vìlàm chậm thời gian tham gia vào quá trình sản xuất, đồng thời cũng làm giảm hao hụthàng hoá và mức độ hao hụt của chúng phụ thuộc vào thời gian vận chuyển trênđường