1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MÔN học những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế đề tài vấn đề CHUNG

17 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 192,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì:  Căn cứ vào Điều 1 BLDS 2005: “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhâ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI: VẤN ĐỀ CHUNG BÀI TẬP THÁNG THỨ NHẤT MÔN HỌC: Những quy định chung về luật dân sự, tài sản và thừa kế

GV: Th.S Ngô Thị Anh Vân GVHD: Trần Nhân Chính THỰC HIỆN: Nhóm 4 – Lớp HS46B2 Thành viên:

1 H Trinh Ayũn – 1853801013227

2 Phạm Trần Thành – 2153801013235 (nhóm trưởng)

3 Lương Quốc Uy – 2153801013281

4 Lò Hiển Văn – 2153801013288

5 Đặng Nguyễn Tường Vy – 2153801013292

6 Huỳnh Nguyễn Ngọc Vy – 2153801013295

7 Nguyễn Yến Vy – 2153801013297

TP HỒ CHÍ MINH, NGÀY 25 THÁNG 3 NĂM 2022

Trang 2

Mục lục

Phần 1 Đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự 1

Phần 2 Tuyên bố cá nhân đã chết 2

Phần 3 Tổ hợp tác 10

Phần 4 Những cụm từ viết tắt 14

Trang 3

Phần 1 Đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự

Tình huống: A đe dọa để ép B xác lập một giao dịch dân sự.

1 Những quan hệ nào thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự?

Những quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự là: quan hệ về tài sản và quan

hệ về nhân thân

 Quan hệ tài sản là: Quan hệ giữa người với người về những lợi ích vật chất (dưới dạng

tư liệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng) được tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất của xã hội

 Đặc điểm của quan hệ tài sản:

 Là quan hệ ý chí

 Tính hàng hóa – tiền tệ (tính đền bù ngang giá)

 Là những quan hệ có nội dung kinh tế

 Các nhóm quan hệ tài sản do pháp luật dân sự điều chỉnh bao gồm:

 Quan hệ về quyền đối với tài sản

 Quan hệ về nghĩa vụ và hợp đồng

 Quan hệ về bồi thường thiệt hại

 Quan hệ về dịch chuyển tài sản của người chết cho người còn sống

 Quan hệ nhân thân là: Quan hệ giữa người với người về những lợi ích tinh thần không

có giá trị kinh tế, không tính ra được thành tiền và không thể di chuyển vì nó gắn liền với những cá nhân với những tổ chức nhất định Nó ghi nhận đặc tính riêng biệt và sự đánh giá của xã hội đối với cá nhân hay tổ chức đó

 Đặc điểm của quan hệ nhân thân:

 Liên quan đến những lợi ích không trị giá được thành tiền

 Gắn liền với một chủ thể nhất định, không được chuyển giao trừ trường hợp pháp luật có quy định cho phép

 Các loại quan hệ nhân thân do pháp luật Dân sự điều chỉnh bao gồm:

Trang 4

 Quan hệ nhân thân không gắn với tài sản.

 Quan hệ nhân thân có liên quan đến yếu tố tài sản

2 Quan hệ giữa A và B trên có thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 và BLDS 2015 không? Vì sao?

Quan hệ giữa A và B trên thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 và BLDS 2015 Vì:

Căn cứ vào Điều 1 BLDS 2005: “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp

lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể

về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự).

Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”.

 Và Điều 1 BLDS 2015: “Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản

và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)”

 Ta có thể thấy được rằng: việc A đe dọa để ép B xác lập một giao dịch dân sự là quan hệ không được hình thành trên cơ sở tự do ý chí nên đã vi phạm quan hệ tài sản và vì thế cần

có sự can thiệp của pháp luật để trả lại công bằng cho B đồng thời vô hiệu hóa giao dịch dân

sự đó

Phần 2 Tuyên bố cá nhân đã chết

Tóm tắt bản án:

Quyết định số 272/2018/QĐST-DS ngày 27/4/2018 của Tòa án nhân dân Quận 9 TP Hồ Chí Minh:

Trang 5

- Người yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự là bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông C (chồng) là

đã chết Năm 1985, ông C bỏ đi biệt tích và không có tin tức gì và nơi cư trú cuối cùng là tại quận 9 Năm 2017, Tòa án nhân dân Quận 9 ban hành thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến năm 2018 vẫn không có tin tức gì Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 thì việc bà T yêu cầu Tòa tuyên bố ông C là đã chết là có căn cứ Tòa án quyết định tuyên bố ông C là đã chết, vì không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng nên ngày chết được tính là ngày đầu tiên của năm tiếp theo tức ngày 1/1/1986

Quyết định số 04/2018/QĐST-DS ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa:

- Người yêu cầu giải quyết vụ án dân sự là anh Quản Bá Đ yêu cầu tòa án tuyên bố chị Quản Thị K (chị gái anh Đ) là đã chết Chị gái anh Đ đã bỏ nhà đi khỏi địa phương từ năm 1992 đến nay không có tin tức gì Gia đình anh đã tìm kiếm và thông báo trên phương tiện truyền thông nhiều lần nhưng không có kết quả Đến 6/7/2018, Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn

đã ra quyết định thông báo tìm kiếm 03 kỳ liên tiếp, sau 04 tháng thời hạn kể từ ngày đăng thì chị Quản Thị K vẫn không về và không có tin tức gì Do đó đủ cơ sở để khẳng định chị Quản Thị K đã biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là chị K còn sống Tòa án tuyên bố chị K chết là có cơ sở, căn cứ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 BLDS 2015, vì không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng nên tuyên bố chị K chết ngày 19/11/2018 Chấm dứt các quan hệ về nhân thân, về tài sản, về hôn nhân và gia đình, về thừa kế của chị K

Quyết định số 94/2019/QĐST-VDS ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dân TP Hà Nội.

- Người yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự là bà Phạm Thị K, sinh năm 1957 yêu cầu Tòa án tuyên bố cụ Phạm Văn C (là bố đẻ) đã chết Từ tháng 01 năm 1997 đã bỏ nhà đi từ đó đến nay không trở về nhà, nơi cư trú cuối cùng tại phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội Kể từ khi cụ Phạm Văn C bỏ nhà đi, gia đình bà K đã tìm kiếm nhiều lần nhưng không

có kết quả Năm 2008 gia đình cụ C đã đăng tin tìm cụ C trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức gì Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin

Trang 6

về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết số 69/2019/QĐ-TA ngày 20/02/2019 và thực hiện đăng thông báo tìm kiếm cụ theo Công văn số 70/2019/CV-TA nhưng vẫn không có xác thực việc cụ C còn sống hay đã chết Tại Công văn số 466/BHXH-HBT ngày 25/7/2019 của Bảo hiểm xã hội quận Hai Bà Trưng thể hiện không thực hiện chi trả lương hưu cho cụ C từ tháng 02/1999 do đi vắng lâu ngày không lĩnh lương Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội có Công Văn số 4888/BHXH-KHTC, nội dung đã thể hiện từ tháng 5/1997 đến tháng 1/1999, ông Phạm Văn C không lĩnh lương hưu Như vậy việc chi trả lương hưu cho cụ C chỉ được thực hiện đến hết tháng 4/1997 Căn cứ vào đó, Tòa đã có cơ sở xác định tin tức cuối cùng

về cụ C là tháng 4/1997 Căn cứ vào quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 BLDS 2015 đã quyết định cụ C đã chết, ngày chết được xác định tại khoản 1 Điều 68 BLDS 2015 Từ đó xác định cụ Phạm Văn C đã chết kể từ ngày 01/5/1997

Quyết định số 02/2020/QĐST-DS ngày 13/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh A (huyện Cần Đước, tỉnh Long An).

- Người yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự là ông Đ H yêu cầu Tòa án hủy quyết định tuyên

bố một người là đã chết Năm 2008 do có mâu thuẫn với vợ nên ông đã đi đến Lâm Đồng

và không liên lạc với gia đình tại quyết định số 01/2011/QĐ-MPH

- Ngày 02/3/2011 Tòa án nhân dân huyện C đã tuyên bố mất tích Tại quyết định số: 01/2015/QĐVDS-ST ngày 20/5/2015 Tòa án nhân dân huyện C đã tuyên bố Đ H đã chết và tại bản án số: 28/2011/HNST ngày 14/6/2011 Tòa án nhân dân huyện C đã cho ly hôn giữa

Bà N T và Ông Đ H Ngày 20/11/2019 Ông Đ H đã trở về sinh sống tại A, xã L, huyện C và

có đơn yêu cầu hủy quyết định tuyên bố một người là đã chết Bà N T đã thừa nhận là ông

Đ H còn sống và đồng ý yêu cầu hủy quyết định tuyên bố một người là đã chết Qua đối chiếu kết quả tra cứu hồ sơ hộ khẩu và chứng minh nhân dân đã có đủ căn cứ để xác định ông Đ H còn sống và hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết theo Điều 395 Bộ luật tố tụng dân sự Ông Đ H được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để xác lập lại các thủ tục về nhân thân và hộ tịch

1 Những điểm giống và khác nhau giữa tuyên bố một người mất tích và tuyên bố một người là đã chết.

Trang 7

Giống nhau:

- Tòa án là cơ quan có thẩm quyền tuyên bố cá nhân mất tích hay đã chết

- Việc tuyên bố một người mất tích hay đã chết là khi người đó biệt tích một thời gian dài và không có tin tức xác thực còn sống

- Đều dựa theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan

Khác nhau:

Tiêu chí Tuyên bố một người mất

tích

Tuyên bố một người đã chết

Cơ sở pháp

Điều 68 BLDS 2015 Điều 71 BLDS 2015

Điều kiện về

thời hạn

Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên

Khi một người biệt tích và không có tin tức xác thực còn sống trong bốn trường hợp:

- Sau 03 năm, kể từ ngày tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực

- Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể

từ ngày chiến tranh kết thúc

- Sau 01 năm bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác)

- 05 năm liền trở lên

Thủ tục tìm

kiếm

Áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật

về tố tụng dân sự

Áp dụng giống với trường hợp tuyên bố mất tích

2 Một người biệt tích và không có tin tức xác thực là còn sống trong thời hạn bao lâu thì

có thể bị Tòa án tuyên bố là đã chết?

Trang 8

- Theo điểm d khoản 1 Điều 71 BLDS năm 2015: “Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống thì có thể bị Tòa án tuyên bố là đã chết”

3 Trong các vụ việc trên (quyết định năm 2018 và 2019), cá nhân bị tuyên bố chết biệt tích từ thời điểm nào? Vì sao?

- Theo Quyết định số 272/2018/QĐST-DS ngày 27/4/2018 của Tòa án nhân dân Quận 9 TP

Hồ Chí Minh thì ông Trần Văn C bị tuyên bố là đã chết vào ngày 1/1/1986 vì thuộc trường hợp không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng Nên theo khoản 1 Điều 68 BLDS năm 2015 thì ngày chết của ông C được tính là ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm

có tin tức cuối cùng

- Theo Quyết định số 04/2018/QĐST-DS ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa thì chị Quản Thị K bị tuyên bố là đã chết vào ngày 19/11/2018 Vì căn

cứ theo Điều 71 BLDS năm 2015 thì ngày chết của cá nhân được xác định từ ngày quyết định được niêm yết Ta có thể hiểu như sau: phiên tòa mở vào ngày 9/11/2018, cộng thêm

10 ngày để anh Quản Bá Đ và Viện Kiểm sát cùng cấp kháng cáo, kháng nghị nên ngày 19/11/2018 là ngày bản án chính thức có hiệu lực và cũng là ngày chị K chết theo pháp luật

4 Cho biết tầm quan trọng của việc xác định ngày chết của một cá nhân? Nêu cơ sở pháp lý và ví dụ minh họa.

- Theo quy định khoản 2 Điều 71 BLDS 2015 quy định: “Căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết” Có nghĩa là việc xác định trong từng trường hợp cụ thể là khác nhau chứ không thể cùng quy

về một ngày là ngày mà bản án có hiệu lực pháp luật Do còn nhiều vướng mắc trong việc tuyên bố chết, đặc biệt là việc xác định ngày cá nhân đó chết là do quy định của pháp luật còn chung chung, dẫn đến nhiều cách hiểu chưa thống nhất Việc xác định ngày chết của một cá nhân liên quan đến quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của người đó Nếu ngày chết không được xác định đúng hoặc hợp lý thì sẽ gây ra nhiều xung đột pháp luật hay xáo trộn không cần thiết trong xã hội Ví dụ: Ông A đang có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì bỗng dưng mất tích Năm 2005, Tòa án tuyên bố ông A mất tích theo yêu cầu của vợ cũ của ông

A, và tài sản của ông A đã giao lại cho cha mẹ ông A quản lý Năm 2007, do có tranh chấp

về nghĩa vụ cấp dưỡng và Tòa án buộc cha mẹ ông A sử dụng tài sản của ông A để tiếp tục

Trang 9

thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Đến năm 2010, Tòa án giải quyết yêu cầu tuyên bố chết, theo như cách xác định ngày chết như trên thì Tòa sẽ tuyên ông A chết vào năm 2005 và việc này sẽ mâu thuẫn với bản án đã buộc cha mẹ ông A tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Bởi vì khi ông A chết thì nghĩa vụ cấp dưỡng cũng đương nhiên chấm dứt

5 Tòa án xác định ngày chết của các cá nhân bị tuyên bố chết là ngày nào? Đoạn nào của các Quyết định trên (quyết định năm 2018 và 2019) cho câu trả lời?

Theo quy định tại Điều 71 BLDS 2015 thì việc tuyên bố một người đã chết được quy định cụ thể như sau:

1) Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người

là đã chết trong trường hợp sau đây:

a Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống

b Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống

c Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

d Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này

2) Căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết

3) Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về

hộ tịch

Cụ thể:

- Quyết định số 272/2018/QĐST-DS ngày 27/4/2018 của Tòa án nhân dân Quận 9 TP Hồ Chí Minh:

Trang 10

“Về việc xác định ngày chết của ông C: Bà T và ông T xác định ông C bỏ nhà đi cuối năm

1985, Công an phường Phước Bình, Quận 9 không xác định được ngày, tháng ông C vắng mặt tại địa phương Đây là thuộc trường hợp không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng của ông C Do đó, ngày chết của ông C được tính là ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng, như vậy ngày chết của ông C là ngày 1/1/1986”

- Quyết định số 04/2018/QĐST-DS ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa:

“Tuyên bố chị Quản Thị K – sinh năm 1969 chết ngày 19/11/2018

Ngày 19/11/2018 là ngày làm căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ về nhân thân,

về tài sản, về hôn nhân gia đình, về thừa kế của chị Quản Thị K”

6 Đối với hoàn cảnh như trong các quyết định trên (quyết định năm 2018 và 2019), pháp luật nước ngoài xác định ngày chết là ngày nào?

Đối với hoàn cảnh như trong các quyết định trên (quyết định năm 2018 và 2019), pháp luật nước ngoài xác định ngày chết là:

- Đối với nước Đức: mất tích 10 năm kể từ tin tức cuối cùng còn sống (05 năm đối với người già hơn 80 tuổi)

- Đối với nước Trung Quốc: mất tích 04 năm kể từ tin tức cuối cùng còn sống

7 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định ngày chết trong các Quyết định trên (quyết định năm 2018 và 2019).

- Quyết định của Tòa án về việc tuyên bố ông Trần Văn C đã chết vào ngày 01/01/1986 là

chính xác vì nó được xác định tại điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 và Điều 72 Bộ luật dân

sự 2015

- Quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chị Quản Thị K đã chết vào ngày 19/11/2018 là vô

lý vì theo khoản 1 Điều 69 của Bộ luật dân sự 2015 có quy định: “…nếu không xác định

được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp

Ngày đăng: 28/03/2022, 16:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w