1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KLTN QUAN hệ KINH tế VIỆT NAM – hàn QUỐC (2009 – 2020)

75 18 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6 5. Phương pháp nghiên cứu 6 6. Cấu trúc khóa luận 7 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – HÀN QUỐC 8 (2009 2020) 8 1.1 Cơ sở bên trong 8 1.1.1 Tình hình kinh tế Việt Nam và nhu cầu hợp tác với Hàn Quốc 8 1.1.2 Tình hình kinh tế Hàn Quốc và nhu cầu hợp tác với Việt Nam 12 1.1.3 Khái quát quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc trước năm 2009 17 1.2 Cơ sở bên ngoài 21 1.2.1 Sự gia tăng hợp tác Đông Á 21 1.2.2 Sự phát triển của cộng đồng kinh tế ASEAN 23 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN TỪ 2009 ĐẾN 2020 27 2.1 Trên lĩnh vực thương mại 28 2.2 Trên lĩnh vực đầu tư 35 2.3 Trên một số lĩnh vực khác 38 2.3.1 Hợp tác lao động 38 2.3.2 Về lĩnh vực năng lượng 40 2.3.3 Viện trợ phát triển 41 CHƯƠNG 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – HÀN QUỐC 44 3.1 Những thành tựu và hạn chế 44 3.2 Triển vọng 46 3.2.1 Thời cơ và thách thức 46 3.2.2 Dự báo triển vọng 52 KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Trang 1

HỒ THỊ BÍCH ĐÀO

QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – HÀN QUỐC

(2009 – 2020)

ĐÀ NẴNG, NĂM 2021

Trang 2

HỒ THỊ BÍCH ĐÀO

QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – HÀN QUỐC

(2009 – 2020)

NGÀNH HỌC: QUAN HỆ QUỐC TẾ KHÓA HỌC: K23

MÃ SINH VIÊN: 2320351312

Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ THỤY TRANG

ĐÀ NẴNG, NĂM 2021

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nổ lực của bản thân, đề tài “Quan

hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc (2009-2020)” được hoàn thành nhờ sự

hướng dẫn tận tình, chu đáo của TS Vũ Thụy Trang – Viện Nghiên cứu Châu

Âu - Viện Hàn lâm KHXHNV – Hà Nội

Tác giả xin chân thành cảm ơn Khoa Khoa học xã hội và nhân văn – Đạihọc Duy Tân đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả hoàn thành khóa đại học và thựchiện đề tài này

Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn tư liệu và khả năng nghiên cứu của bảnthân cho nên khóa luận này sẽ không thể tránh khỏi những khiếm khuyết cầnđược góp ý, sửa chữa Kính mong sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô vàbạn đọc để khóa luận này được hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi,những tài liệu tham khảo phục vụ cho khóa luận có nguồn gốc rõ ràng vàđược trích dẫn

Tác giả khóa luận

Hồ Thị Bích Đào

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc khóa luận 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – HÀN QUỐC 8 (2009 - 2020) 8

1.1 Cơ sở bên trong 8

1.1.1 Tình hình kinh tế Việt Nam và nhu cầu hợp tác với Hàn Quốc 8

1.1.2 Tình hình kinh tế Hàn Quốc và nhu cầu hợp tác với Việt Nam 12

1.1.3 Khái quát quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc trước năm 2009 17

1.2 Cơ sở bên ngoài 21

1.2.1 Sự gia tăng hợp tác Đông Á 21

1.2.2 Sự phát triển của cộng đồng kinh tế ASEAN 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN TỪ 2009 ĐẾN 2020 27

2.1 Trên lĩnh vực thương mại 28

2.2 Trên lĩnh vực đầu tư 35

2.3 Trên một số lĩnh vực khác 38

2.3.1 Hợp tác lao động 38

2.3.2 Về lĩnh vực năng lượng 40

2.3.3 Viện trợ phát triển 41

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – HÀN QUỐC 44

3.1 Những thành tựu và hạn chế 44

Trang 6

3.2 Triển vọng 46

3.2.1 Thời cơ và thách thức 46

3.2.2 Dự báo triển vọng 52

KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1.1: Tăng trưởng GDP của Việt Nam (2010-2020) 10Biểu đồ 1.1.2: Quy mô kinh tế và thu nhập bình quân đầu người: GNI per capita và GDP của Hàn Quốc 13Biểu đồ 2.1: Thống kê về kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại Việt Nam – Hàn Quốc từ năm 2013-2017 (Tỷ USD) 31

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

APEC Asia-Pacific Economic

AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng kinh tế ASEAN

ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn khu vực ASEAN

ASEM Asia-Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á - Âu

EAS East Asia Summit Hội nghị cấp cao Đông Á

FTA Free Trade Area Hiệp định thương mại tự do

ODA Offical Development Assistance Viện trợ phát triển chính thức

IMF International Money Fund Quỹ tiền tệ Quốc tế

APSC ASEAN Political – Security

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

KOICA The Korea International

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hàn Quốc là một quốc gia nằm ở phía Nam của bán đảo Triều Tiên, lànền kinh tế lớn thứ 4 châu Á, thứ 9 thế giới trong năm 2020 Đây là quốc gianổi tiếng được nhiều người biết đến bởi tốc độ phát triển kinh tế thần kỳ từmột trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành nước phát triển có thunhập cao chỉ qua vài thế hệ Với Việt Nam là quốc gia có vị trí địa - chiếnlược quan trọng và có tiềm năng phát triển trong khu vực châu Á - Thái BìnhDương nên luôn là tâm điểm chú ý của các nước lớn về nhiều phương diện,trong đó có quốc phòng, an ninh Mặt khác, vị trí của Việt Nam ngày càngđược tăng cường trên thế giới, khu vực, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhậpWTO (tháng 12 năm 2006) Điều đó đã tạo cơ hội thúc đẩy mạnh mẽ quan hệhợp tác của Việt Nam với các quốc gia Đông Á - Thái Bình Dương và thếgiới trong đó có quan hệ với Hàn Quốc

Đặc biệt là những năm đầu thế kỷ 21 đã chứng kiến sự phát triển nhanhchóng trong mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc, là một cặp quan hệnhằm phát triển về cả chiều rộng, cả về chiều sâu và đầy triển vọng trongtương lai Đồng thời, được thể hiện rõ nét qua các chính sách của nhau và cả

về mặt kinh tế, thương mại, đầu tư Vào tháng 12 năm 1992, Việt Nam vàHàn Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Quan hệ hai nước đã cónhững bước tiến vượt bậc từ đối tác bình thường trở thành “đối tác toàn diệntrong thế kỷ 21” vào năm 2001 và vào năm 2009 trở thành “đối tác hợp tácchiến lược” Đến nay, Hàn Quốc là đối tác lớn của Việt Nam trên mọi lĩnhvực: Đứng thứ nhất về lĩnh vực đầu tư, đứng thứ hai về viện trợ ODA và đứngthứ 3 về lĩnh vực thương mại Hàn Quốc đã trở thành một nước công nghiệphóa mới (NIC) “con rồng Châu Á”, có vị thế chính trị, tìm lực kinh tế, khoahọc kỹ thuật ngày càng tăng Đối với Việt Nam, là một thị trường mới mẻ đầy

Trang 10

hấp dẫn, đông dân số, lực lượng lao động dồi dào, có tri thức, đất nước đangchuyển mình trong quá trình đổi mới, chủ động và hội nhập kinh tế quốc tế

Việt Nam – Hàn Quốc đã thật sự tập trung cao vào thúc đẩy quan hệkinh tế, tìm kiếm ra những giải pháp thúc đẩy với hợp tác kinh tế - thươngmại và mặt hỗ trợ đầu tư Hai nước đã phát triển rất nhanh chóng và mạnh kể

từ sau khi thiết lập quan hệ “đối tác chiến lược”, đặc biêt là lĩnh vực kinh tế.Hàn Quốc đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế của ViệtNam, ngược lại, Việt Nam cũng có những đóng góp to lớn cho nền kinh tếHàn Quốc Chính vì vây, mối quan hệ kinh tế Việt Nam và Hàn Quốc đã đểlại nhiều dấn ấn ngày càng rõ nét, hợp tác sâu rộng và hướng đến một mụcđích chung, cùng phấn đấu, cùng hợp tác phát triển vì nền hòa bình trong khuvực và thế giới

Nhận thấy được tầm quan trọng của mối quan hệ Việt Nam – Hàn Quốcsau khi thiết lập chính thức quan hệ “Đối tác chiến lược” phần nào tác độngmạnh mẽ đến nền kinh tế đất nước Việt Nam và Hàn Quốc, tôi đã quyết địnhchọn đề tài “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc từ năm 2009 đến 2020”

để làm khóa luận tốt nghiệp, Chuyên ngành Quan hệ quốc tế

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước

Vào năm 2012, tác giả Park Joon-woo “Korea and Vietnam: theBilateral Relations” tạm dịch: mối quan hệ song phương Hàn Quốc và ViệtNam Trong ấn phẩm này tác giả đã làm rõ về mối quan hệ song phương giữaViệt Nam và Hàn Quốc, là hai quốc gia duy nhất chia sẻ kinh nghiệm tương

tự về quan hệ với Trung Quốc và Mỹ Có chung biên giới với Trung Quốc,Hàn Quốc và Việt Nam có duy trì quan hệ tương đối hòa bình với TrungQuốc trong lịch sử lâu dài của triều cống Khổng Tử hệ thống Với tinh thầnkiên cường, bất khuất, họ đã chịu đựng và sống sót qua bao thách thức từ các

Trang 11

nước láng giềng của họ, và đã thành công trong việc giữ bản sắc và tính toànvẹn của quốc gia của họ Bên cạnh đó tác giả đã chỉ ra được những ưu điểmcũng những những khó khăn phải đối mặt trong mối quan hệ này [44]

Vào năm 2015, đồng tác giả Lee Han-woo, Buitech với cuốn sách “20years of Korea-Vietnam relations, 1992 ~ 2012” tạm dịch: 20 năm quan hệHàn Quốc - Việt Nam, 1992 ~ 2012 Với ấn phẩm này tác giả đã nghiên cứu

về chặng đường 20 năm trong mối quan hệ Việt Nam – Hàn quốc Kể từ khibình thường hóa quan hệ ngoại giao vào tháng 12 năm 1992, Hàn Quốc vàViệt Nam đã và đang phát triển nhanh chóng mối quan hệ hợp tác Tác giả đãkhám phá quá trình hai nước bình thường hóa đến bình thường hóa quan hệngoại giao, phân tích quá trình hai nước tăng cường lợi ích thông qua hợp táckinh tế, mở rộng hiểu biết lẫn nhau thông qua trao đổi văn hóa xã hội và làmsâu sắc thêm hiểu biết lẫn nhau thông qua giao lưu nhân văn [43]

2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Cuốn Quan hệ kinh tế Việt Nam -Hàn Quốc xuất bản năm 2005 do ĐỗHoài Nam làm đồng chủ biên đã phân tích và đánh giá quan hệ kinh tế giữahai nước trên nhiều khía cạnh Tuy nhiên, hướng nghiên cứu chính vẫn tậptrung vào quan hệ thương mại, đầu tư song phương Ở đây các tác giả chorằng sự gia tăng trong quan hệ thương mại đầu tư song phương là kết quả củanhững nỗ lực đến từ hai phía; song việc phân tích bối cảnh quốc tế và cácnhân tố tác động chưa thực sự sâu sắc và chưa có sức thuyết phục; bối cảnhquốc tế chủ yếu chỉ được đề cập tới tình hình thế giới sau chiến tranh lạnh cònnhững biến động của khu vực và quốc tế thời kỳ những năm đầu thế kỷ 21,nhất là sau sự kiện khủng bố tại Mỹ (2001) và hợp tác Đông Á- Thái BìnhDương thì chưa được đề cập đầy đủ

Vào năm 2008, tác giả Trần Thị Duyên “Toàn cầu hóa và chính sáchngoại giao kinh tế của Hàn Quốc trong thập niên cuối thế kỷ XX” Tác giả đã

Trang 12

tập trung nêu rõ những vấn đề toàn cầu hóa diễn ra trong khu vực cùng vớibối cảnh thế giới, phân tích và nêu bật những chính sách ngoại giao kinh tếcủa Hàn Quốc trong giai đoạn này [8].

Vào năm 2009 “Hàn Quốc với khu vực Đông Á sau Chiến tranh lạnh

và quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc” của tác giả Nguyễn Hoàng Giáp Với côngtrình này, các tác giả đã khái quát sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của HànQuốc với Trung Quốc, Nhật Bản, CHDCND Triều Tiên và Hiệp hội các quốcgia Đông Nam Á (ASEAN) Đặc biệt, chính sách và quan hệ của Hàn Quốcđối với các nước Đông Á đã được tập thể tác giả nhìn nhận kỹ lưỡng và đánhgiá khách quan dựa trên ba yếu tố: Một là, sự chuyển dịch nhạy cảm về cáncân so sánh lực lượng ở Đông Á từ sau Chiến tranh lạnh; Hai là, yêu cầu địnhhình lại cơ cấu đối tác kinh tế; Ba là, những toan tính mới trong ý đồ chiếnlược của các nước lớn đối với bán đảo Triều Tiên [1] Qua đó, công trình nàykhẳng định chính sách đối ngoại của Hàn Quốc hướng tới mục tiêu tạo lậpmôi trường khu vực thuận lợi cho phát triển kinh tế ở trong nước; đồng thời,tìm kiếm giải pháp hòa bình cho vấn đề an ninh – chính trị trên bán đảo TriềuTiên

Vào năm 2010, tác giả Ngô Xuân Bình “Quan hệ đối tác toàn diện ViệtNam – Hàn Quốc trong bối cảnh quốc tế mới” Tác giả đã phân tích và nêubật những chuyển biến trong chính sách của Hàn Quốc đối với các nước ĐôngBắc Á, lấy bối cảnh quốc tế làm trung tâm Theo đó, từ chỗ duy trì “quan hệbăng giá” với các nước XHCN (Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên) Trongthời kỳ Chiến tranh lạnh, Hàn Quốc đã chủ động đa dạng hóa quan hệ khi tìnhhình quốc tế trở nên hòa dịu Các tác giả cũng khẳng định, với chính sách đốingoại linh hoạt, Hàn Quốc đang giữ thế chủ động trong việc đưa Đông Bắc Átiến vào kỷ nguyên hòa bình và thịnh vượng thông qua 3 bước: (1) Theo đuổigiao lưu và hợp tác liên Triều, (2) Thiết lập hệ thống hợp tác kinh tế khu vực

Trang 13

và (3) Xây dựng cơ sở hạ tầng cho một trung tâm giao vận và kinh tế Qua bàinghiên cứu này, có thể thấy đây cũng là một điểm sáng trong mối quan hệViệt Nam – Hàn Quốc [1].

Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc từ năm 1992 đến nay và triển vọng pháttriển đến năm 2020 xuất bản 2011 của Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế,Nguyễn Văn Dương Tác giả tập trung phân tích những nhân tố chủ yếu tácđộng đến quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc, bao gồm: tình hình thế giới và khuvực, chính sách đối ngoại của Việt Nam và Hàn Quốc sau chiến tranh Lạnh,thực trạng quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trên các lĩnh vực: chính trị - đốingoại, kinh tế và văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ khi hai nước thiếtlập quan hệ ngoại giao chính thức từ tháng 12-1992 đến nay Tác giả còn giúpbạn đọc hiểu biết thêm về mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong khuônkhổ đối tác, hợp tác chiến lược để thấy rõ những thuận lợi, khó khăn, hạn chế;đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ này cả vềchiều rộng lẫn chiều sâu, phục vụ đắc lực cho chiến lược phát triển của hainước trong tình hình mới [2]

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các học giả trong

và ngoài nước, tác giả mong muốn đi sâu nghiên cứu vấn đề đặt ra một cách

hệ thống và có tính chất chuyên khảo, làm nổi bật lên quan hệ kinh tế ViệtNam - Hàn Quốc sau giai đoạn thiết lập quan hệ “Đối tác chiến lược”

Trang 14

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tập trung làm sáng tỏ mối quan

hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hàn Quốc sau khi mối quan hệ “Đối tác chiếnlược” của hai nước được thiết lập chính thức

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, khóa luận sẽ thực hiện nhữngnhiệm vụ nghiên cứu sau:

_Thứ nhất, tìm hiểu cơ sở mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc(2009 – 2020)

_Thứ hai, phân tích thực trạng quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc(2009 – 2020)

_Thứ ba, đưa ra nhận xét và dự báo triển vọng quan hệ kinh tế giữa ViệtNam và Hàn Quốc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

_Đối tượng nghiên cứu: quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc

_ Phạm vi nghiên cứu

 Phạm vi về lĩnh vực: kinh tế

 Phạm vi về thời gian: 2009-2020

5 Phương pháp nghiên cứu

_ Khóa luận sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lenin, đường lối đối ngoại của Đảng vànhà nước ta để tiếp cận và giải quyết các vấn đề khoa học của đề tài

_ Ngoài ra, khóa luận sẽ kết hợp các phương pháp nghiên cứu như làphương pháp lịch sử, logic, kết hợp với phương pháp liệt kê, phương phápphân tích so sánh và tổng hợp

Trang 15

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài được chia làm bachương:

Chương 1 Cơ sở mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc (2009 – 2020)

Chương này tập trung làm rõ cơ sở bên ngoài và cơ sở bên trong hìnhthành mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc sau khi hai nước thiết lậpquan hệ “Đối tác chiến lược” Đồng thời, làm rõ quan hệ kinh tế hai nướctrước năm 2009

Chương 2 Thực trạng quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc (2009 – 2020)

Đây là chương tập trung làm nổi bật những nội dung về quan hệ hợp táckinh tế của Việt Nam – Hàn Quốc trên lĩnh vực thương mại, lĩnh vực đầu tư

và một số lĩnh vực tiêu biểu khác

Chương 3 Triển vọng quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc

Nội dung chính của chương này là nêu rõ những thành tựu, hạn chế quan

hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc Bên cạnh đó, đưa ra những thời cơ, tháchthức và dự báo những triển vọng trong tương lai

Trang 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – HÀN QUỐC (2009 - 2020)

Chương này sẽ tập trung vào tình hình kinh tế Việt Nam, tình hình kinh

tế Hàn Quốc và nhu cầu hợp hợp tác của hai nước trong việc xây dựng vàphát triển mối quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc Kể từ khi ViệtNam và Hàn Quốc chính thức thiết lập mối quan hệ ngoại giao vào năm 1992đến nay, mối quan hệ này vẫn đang phát triển vượt bậc và khá toàn diện trênnhiều lĩnh vực Trong những năm gần đây, Hàn Quốc luôn duy trì là mộttrong những quốc gia đứng nhì trong việc đầu tư tại Việt Nam chỉ sau NhậtBản; và ngược lại Việt Nam cũng dành cho Hàn Quốc nhiều chính sách ưu ái.Điều này, cho thấy mối quan hệ giữa hai nước đã đạt được những thành công

từ khi quan hệ “đối tác chiến lược” có hiệu lực, không chỉ những vấn đề songphương mà còn cả những vấn đề khu vực cũng như thế giới Bên cạnh đó, cònchỉ rõ những cơ sở bên ngoài như sự tăng cường hợp tác Đông Á, sự pháttriển của cộng đồng kinh tế ASEAN

1.1 Cơ sở bên trong

1.1.1 Tình hình kinh tế Việt Nam và nhu cầu hợp tác với Hàn Quốc

 Tình hình kinh tế Việt Nam

Từ 1991 đến năm 2000 tổng sản phẩm trong nước tăng liên tục qua cácnăm với tốc độ tăng bình quân mỗi năm 7,56% Nhờ vậy, đến năm 2000 tổngsản phẩm trong nước đã gấp 2,07 lần năm 1990, không những đạt và vượtmục tiêu tổng quát đề ra cho Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội1991- 2000 là tổng sản phẩm trong nước gấp 2 lần, mà còn đứng vào hàng cácnền kinh tế trong khu vực có tốc độ tăng trưởng cao của thập niên 90 [32] Dotranh thủ được thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, nên kinh tế –

xã hội Việt Nam đã có những biến đổi quan trọng, đạt được nhiều thành tựu

Trang 17

to lớn Kinh tế liên tục tăng trưởng đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém pháttriển, bước vào nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp

Quy mô nền kinh tế ngày càng mở rộng với tốc độ tăng GDP tương đốicao, bình quân năm trong giai đoạn 2001-2010 tăng 7,26%, đạt xấp xỉ tốc độtăng 7,56%/năm của Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội 1991-

2000, đây là một thành tựu phát triển kinh tế rất quan trọng của Việt Namtrong giai đoạn này [25] Tuy nhiên, vào năm 2009 nền kinh tế Việt Nam chịutác động tiêu cực từ hai phía Cùng với những khó khăn do kinh tế thế giớisuy thoái (2008), thu hẹp đáng kể thị trường xuất khẩu, thị trường vốn, thịtrường lao động thì bão lũ xảy ra liên tiếp, dịch bệnh bùng phát ở nhiều địaphương Trong bối cảnh đó, kinh tế Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng5,32%, vượt mục tiêu đề ra và là một trong số rất ít nền kinh tế có tốc độ tăngtrưởng cao của khu vực và trên thế giới Cân đối kinh tế vĩ mô ổn định Mặc

dù nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài giảm 70%, nhưng đầu tư trong nước đãđược khơi thông nên tính chung vốn đầu tư phát triển cả năm đạt 704,2 nghìn

tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2008 và bằng 42,8 GDP Thu ngân sách đạt

dự toán cả năm và bội chi ngân sách bảo đảm được mức Quốc hội đề ra làkhông vượt quá 7% GDP Những kết quả đạt được của năm 2009 đã khẳngđịnh nền kinh tế Việt Nam đã vượt qua giai đoạn khó khăn nhất [33]

Trang 18

Biểu đồ 1.1.1: Tăng trưởng GDP của Việt Nam (2010-2020)

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Kinh tế Việt Nam vẫn đạt kết quả tích cực với việc duy trì tăng trưởng

Có thể thấy rõ, từ năm 2010-2012 tăng trưởng GDP có dấu hiệu giảm nhẹ từ6,78 xuống 5,25, sau đó từ năm 2012-2015 tăng lên đến 6,68 (năm 2015).Trong đó, tăng trưởng GDP giai đoạn năm 2016-2019 thể hiện tăng rõ rệt,đỉnh điểm là hai năm liên tiếp tăng trưởng trên 7% đó là năm 2018 đạt 7.08%đạt mức tăng cao nhất và năm 2019 đạt 7,02%, kim ngạch xuất nhập khẩuvượt mức 500 tỉ USD [36] Nền kinh tế Việt Nam trong năm 2019, kinh tế vĩ

mô rất ổn định thể hiện ở hàng loạt các chỉ số, như lạm phát thấp, kim ngạchthặng dư về cán cân thương mại, thâm hụt ngân sách giảm, tăng trưởng về tíndụng có xu hướng giảm, dự trữ ngoại hối gia tăng Như vậy, không chỉ giữ ổnđịnh kinh tế vĩ mô mà sức chống chịu của nền kinh tế cũng được cải thiện.Mặc dù tăng trưởng GDP năm 2020 đạt thấp nhất trong giai đoạn 2010-2020

là 2,91% nhưng trước những tác động tiêu cực của dịch Covid-19 thì đó làmột thành công của Việt Nam với tốc độ tăng thuộc nhóm nước cao nhất thếgiới [39]

Bên cạnh đó, dựa trên tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường,Việt Nam đã thực thi chính sách đối ngoại rộng mở theo hướng đa phương

Trang 19

hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế và sẵn sàng làm bạn với các quốc giatrên thế giới Chính sách này mang tính nhất quán kể từ khi đổi mới cho đếntận ngày nay Việt Nam chủ trương khai thác ngoại lực để phục vụ trongnước: Thực hiện chính sách bình thường hoá quan hệ ngoại giao với các nướclớn; Coi trọng quan hệ với các nước láng giềng; Thiết lập quan hệ với các thểchế quốc tế; Hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới thông qua việc gianhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các diễn đàn hợp tác songphương và đa phương như ASEAN, APEC, ARF… Điều cần nhấn mạnh là,cho đến nay Việt Nam đã xây dựng và phát triển các quan hệ đối tác chiếnlược ở các tầm, mức khác nhau với một số quốc gia trong đó có Hàn Quốc[8]

 Nhu cầu hợp tác với Hàn Quốc

Việt Nam muốn đẩy mạnh hợp tác kinh tế với Hàn Quốc vì Hàn Quốc

là nền kinh tế lớn thứ 9 của thế giới, là nhà đầu tư lớn đứng thứ hai trong danhsách các quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư lớn vào Việt Nam

Hợp tác kinh tế với Hàn Quốc mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam như

mở rộng thị trường, tiếp cận nguồn vốn đầu tư, cũng như khoa học công nghệcao của Hàn Quốc, thu hút FDI cho phát triển đất nước, đẩy mạnh xuất nhậpkhẩu hàng hóa, đa dạng các mặt hành xuất khẩu của Việt Nam

Việt Nam và Hàn Quốc là hai quốc gia có lịch sử và văn hóa tươngđồng Thêm vào đó, hai nước cũng có những thế mạnh bổ sung cho nhau nhưViệt Nam có nguồn nhân lực dồi dào trong khi Hàn Quốc lại có thế mạnh vềcông nghệ và những thành công về phát triển kinh tế

Mối quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc thể hiện rõ nét hơn thôngqua các hoạt động hợp tác đầu tư, thương mại Đặc biệt, Hàn Quốc là một đốitác lớn và vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam, cho

Trang 20

nên nhu cầu hợp tác của hai quốc gia là điều cấp thiết cả trong hiện tại vàtương lai.

Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc được chứng tỏ qua bốn năm saukhi bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1992, Hàn Quốc đã thựchiện hàng năm hơn 1,3 tỷ đô la thương mại với Việt Nam, khiến Hàn Quốctrở thành đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam, Hàn Quốc cũng là nhàđầu tư nước ngoài lớn thứ tư sau Đài Loan, Nhật Bản và Hồng Kông, đã đầu

tư 1.987 tỷ đô la vào Việt Nam [28] Tốc độ đầu tư của Hàn Quốc vào thịtrường Việt Nam sẽ càng tăng gấp nhiều lần trong những năm tới

Từ năm 2011 đến nay, Hàn Quốc luôn giữ vững ngôi vị là nhà đầu tưnước ngoài lớn nhất tại Việt Nam Nhờ đó, Việt Nam hiện là đối tác thươngmại lớn thứ tư của Hàn Quốc Ngược lại, Hàn Quốc cũng là bạn hàng thươngmại lớn thứ hai của Việt Nam Hàn Quốc đứng thứ 2 về lượng vốn hỗ trợODA cho Việt Nam chỉ đứng sau Nhật Bản Quy mô trao đổi thương mại giữaViệt Nam - Hàn Quốc chiếm hơn 40% tổng quy mô trao đổi thương mại giữaHàn Quốc và các nước ASEAN Hàn Quốc khẳng định Việt Nam là đối tácquan trọng đầy tiềm năng và triển vọng của Hàn Quốc ở Đông Nam Á, chínhphủ Hàn Quốc luôn luôn coi trọng và sẵn sang tiếp tục hợp tác, hỗ trợ ViệtNam trong công cuộc CNH, HĐH đất nước và Việt Nam coi trọng, đánh giácao vai trò, vị trí của Hàn Quốc trong khu vực, chủ trương tăng cường và mởrộng quan hệ hợp tác nhiều mặt với Hàn Quốc, mục tiêu đẩy mạnh cùng gópphần vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở Châu Á Hàn Quốc sẽ luônluôn nhận được sự ủng hộ của Việt Nam thực thi một chính sách tích cựctrong việc ổn định mối quan hệ nội bộ Triều Tiên Hai nước cùng chia sẻ quanđiểm chung về một khu vực không vũ khí hạt nhân của Bán đảo Triều Tiên vàgiải quyết hòa bình về vấn đề hạt nhân của cộng hòa dân chủ nhân dân Triều

Trang 21

Tiên, cùng nổ lực phấn đấu vì một Bán đảo Triều Tiên ổn định, hòa bình vàphát triển [6, tr.22-26]

1.1.2 Tình hình kinh tế Hàn Quốc và nhu cầu hợp tác với Việt Nam

 Tình hình kinh tế Hàn Quốc

Kinh tế Hàn Quốc là một nền kinh tế hỗn hợp phát triển cao [41] đượcđặc trưng bởi các đại tập đoàn sở hữu bởi các gia đình giàu có được gọi là cácChaebol Hàn Quốc là nền kinh tế lớn thứ 4 ở châu Á và đứng thứ 10 thế giớitheo GDP danh nghĩa Cũng là một quốc gia nổi tiếng được nhiều người biếtđến bởi tốc độ tăng trưởng nền kinh tế thần kỳ từ một trong những nướcnghèo nhất thế giới trở thành nước phát triển có thu nhập cao chỉ qua vài thếhệ

Biểu đồ 1.1.2: Quy mô kinh tế và thu nhập bình quân đầu người: GNI

per capita và GDP của Hàn Quốc

Nguồn: Ngân hàng Hàn Quốc

Chính vì vậy, sự phát triển vượt bậc này được ví như là kỳ tích sôngHàn khi nó đã đưa Hàn Quốc sánh ngang với các quốc gia trong OECD và G-

20 [42] “Kỳ tích sông Hàn” được Tổng thống Pác Chơng Hi khởi xướng, kéodài từ thời hậu Chiến tranh Triều Tiên (70s) cho đến thời kì khủng hoảng kinh

Trang 22

tế châu Á năm 1997 Để có được nền kinh tế phát triển được cả thế giới biếtđến với cái tên “Kỳ tích sông Hàn”, Hàn Quốc đã áp dụng Chiến lược pháttriển kinh tế định hướng đối ngoại, sử dụng xuất khẩu làm động lực tăngtrưởng và đóng góp nhiều cho sự chuyển đổi hoàn toàn nền kinh tế của quốcgia này Hàn Quốc vẫn đang tiếp tục thúc đẩy phát triển chính sách kinh tếđịnh hướng đối ngoại Các tập đoàn, công ty Hàn Quốc tích cực xúc tiển đầu

tư và tham gia vào các dự án hay liên doanh ở nước ngoài Đặc biệt trong bốicảnh bất ổn định của thị trường năng lượng lúc bấy giờ, trọng điểm phát triểnhợp tác kinh tế của Hàn Quốc là tài nguyên-năng lượng Hàn Quốc chú trọngđầu tư và tham gia vào các dự án khai thác, sản xuất và mua bán tài nguyên-năng lượng [30]

Kể từ năm 2000, công cuộc cải cách là trọng tâm của chính sách quốcgia Để tạo ra nhiều đổi mới hơn trong các ngành công nghiệp, Hàn Quốcđang xúc tiến các chính sách thân thiện với doanh nghiệp cũng như là cácchính sách củng cố hợp tác giữa các công ty lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ.Trải qua giai đoạn phát triển ngoạn mục trong một thời gian tương đối ngắn,chính phủ Hàn Quốc trong thời gian này đang chú ý tới “chất lượng của tăngtrưởng” “Duy trì sự tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc là những ngành côngnghiệp then chốt và đó được thế giới công nhận Hàn Quốc là quốc gia đóngtàu lớn nhất thế giới; đối với chất bán dẫn: đứng thứ 3 thế giới; hàng điện tử

kỹ thuật số: đứng thứ 4 May mặc, sắt thép và các sản phẩm hóa dầu của HànQuốc đứng thứ 5 nếu xét về tổng giá trị và ô tô đứng thứ 6 thế giới” [12,tr.75]

Ngân hàng trung ương Hàn Quốc (BOK) cho biết, tốc độ tăng trưởngkinh tế của nước này trong năm 2010 đạt 6,1%, mức cao nhất kể từ năm 2002.Theo BOK, nền kinh tế Hàn Quốc đã khởi sắc khi tổng sản phẩm quốc nội(GDP) trong quý IV năm 2010 tăng 4,8%, cao hơn so mức tăng 4,4% của quý

Trang 23

III Trong năm 2010, BOK đã giữ lãi suất cơ bản ở mức thấp kỷ lục nhằmthúc đẩy nền kinh tế phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Bêncạnh đó, khu vực tư nhân cũng khôi phục được động lực tăng trưởng nhờ nhucầu trong nước tăng mạnh Một quan chức của BOK cho rằng, GDP của HànQuốc trong năm 2010 đạt cao còn do tỷ lệ tăng trưởng kinh tế trong năm 2009chỉ đứng ở mức 0,2%, thấp kỷ lục trong 11 năm qua [20].

Dựa theo KBS, động lực chính thúc đẩy nền kinh tế của Hàn Quốc vẫn

là lĩnh vực xuất khẩu Năm 2010, xuất khẩu của Hàn Quốc đã đạt mức thặng

dư cao kỷ lục là 41,2 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 466,4 tỷ USD

và kim ngạch nhập khẩu đạt 425,2 tỷ USD Như vậy, Hàn Quốc đã lập kỷ lụcthặng dư thương mại hai năm liên tiếp Con số này của năm 2009 là 41 tỷUSD Với kết quả này, hiện Hàn Quốc được xếp là nước xuất khẩu lớn thứbảy trên thế giới, tăng hai bậc so năm 2009 Ðiều này còn cho thấy ngành chếtạo của Hàn Quốc đã nâng cao đáng kể năng lực cạnh tranh của mình Giá trịxuất khẩu của Hàn Quốc trong năm 2010 cũng lập kỷ lục mới với mốc kimngạch xuất khẩu đạt 466,4 tỷ USD, tăng gấp ba lần chỉ trong mười năm kể từkhi đạt 150,4 tỷ USD vào năm 2001 Các mặt hàng xuất khẩu chính như chấtbán dẫn, màn hình và phụ tùng ô-tô đều được bán rất chạy, lập kỷ lục trongtừng lĩnh vực riêng và góp phần vào tăng trưởng của toàn bộ khu vực xuấtkhẩu [12]

Hàn Quốc đã nhảy vọt lên thành nước xuất khẩu lớn thứ 7 trên thế giớivào năm 2010 và trong vòng 4 năm liên tiếp từ 2011-2014, Hàn Quốc liên tụcghi nhận thành tích mậu dịch trên 1 nghìn tỷ USD mỗi năm Tuy thành tíchnày đã chững lại vào năm 2015 và 2016 nhưng đã phục hồi mức 1 nghìn tỷUSD vào năm 2017 Năm 2018, kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng yếu nhất ởmức 2.7%, nhưng đến năm 2019 tổng sản phẩm quốc nội (GDP) lên đến1.646,3 tỷ USD [22] Đến năm 2020, nền kinh tế Hàn Quốc có dấu hiệu giảm

Trang 24

sút đáng kể do tình hình dịch COVID-19 đã vượt quá tầm kiểm soát trong khinguồn cung vaccine bị gián đoạn [23].

 Nhu cầu hợp tác với Việt Nam

Từ những năm đầu thập niên 90, để thực hiện chiến lược “Toàn cầuhóa”, Hàn Quốc đã triển khai chính sách “hướng Nam”, phát triển mạnh mẽcác quan hệ hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bìnhdương, trong đó có Việt Nam Kể từ khi chính thức thiết lập quan hệ ngoạigiao năm 1992, chính sách ngoại giao kinh tế đối với Việt Nam đã và đangđược Hàn Quốc ngày càng chú trọng và dành nhiều ưu tiên [10]

Việt Nam là một trong những nước được ưu tiên trong chính sách việntrợ phát triển của Hàn Quốc Hàn Quốc đã trở thành nhà tài trợ song phươnglớn thứ hai tại Việt Nam (chỉ sau Nhật Bản) Hàn Quốc đã coi Việt Nam làhình mẫu cung cấp ODA và chọn Việt Nam là một trong 26 nước “Đối tácchiến lược hợp tác ODA” [27] Năm 1991, Hàn Quốc thành lập Cơ quan hợptác quốc tế (KOICA) dưới sự bảo trợ của Bộ Ngoại giao và Thương mại HànQuốc, để thực hiện các hoạt động hợp tác kỹ thuật và viện trợ không hoàn lạicủa chính phủ Hàn Quốc đối với các nước đang phát triển Năm 1994, Vănphòng KOICA Việt Nam được thành lập, là 1 trong 28 văn phòng đại diệncủa KOICA tại 27 nước Thông qua Văn phòng KOICA Việt Nam, KOICAthường xuyên, liên tục cập nhật thông tin về những mong muốn, đề xuất củaViệt Nam nhằm tối đa hóa hiệu quả của các chương trình hợp tác phát triểngiữa hai nước; thực hiện các dự án dựa trên nhu cầu thực tế của Chính phủViệt Nam KOICA liên tục tăng mức viện trợ nhằm giúp Việt Nam phát triểnkinh tế - xã hội và Việt Nam luôn nằm trong top 4 nước nhận viện trợ khônghoàn lại lớn nhất của KOICA

Hàn Quốc rất coi trọng Việt Nam với tư cách thị trường có sức muangày càng tăng, với dân số gần 100 triệu người, có nguồn lao động trẻ dồi

Trang 25

dào, giá rẻ Hàn Quốc coi trọng và thúc đẩy quan hệ hợp tác song phươngViệt Nam - Hàn Quốc vì Việt Nam có vai trò quan trọng ở khu vực ĐôngNam Á và trong ASEAN, hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc đem lại nhiều lợi íchthiết thực cho cả hai nước, nhất là về kinh tế Về mặt kinh doanh, có khoảng3.000 doanh nghiệp Hàn Quốc đang hoạt động tại Việt Nam và khoảng40.000 công nhân Việt Nam đang làm việc ở Hàn Quốc Nhờ những đóng góptích cực của các doanh nghiệp và công nhân này mà mối quan hệ thương mạisong phương và đầu tư giữa hai nước đã đạt được những kết quả ấn tượng.Hàn Quốc đã sớm nhận rõ, Việt Nam là một quốc gia có vị trí địa lý thuậnlợi, khu vực đắc địa trong khu vực Đồng thời, sẽ trở thành “cầu nối” kinh tế -văn hóa giữa Hàn Quốc với khu vực Đông Nam Á và cả bán đảo ĐôngDương.

Hàn Quốc đã đề ra chính sách ngoại giao mới, mềm dẻo và linh hoạthơn, phù hợp với tình hình phát triển của thế giới và khu vực, nhằm mục tiêugiải quyết các vấn đề an ninh và kinh tế đất nước, tạo cơ sở cho việc thốngnhất hai miền Triều Tiên Một trong những hướng mới trong chính sách ngoạigiao của Hàn Quốc thời kỳ ngay sau Chiến tranh lạnh là đa dạng hóa quan hệ.Trước tiên, Chính phủ của Tổng thống Roh Tae Woo (1988-1993) đề ra

“Chính sách phương Bắc (Nordpolitik)”(1), chủ trương “đi đường vòng” bằngcách cải thiện quan hệ với các nước bạn bè của Triều Tiên Hàn Quốc lần lượtthiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô (30-9-1990), với Trung Quốc (24-8-1992), với Việt Nam (22-12-1992) và một số nước XHCN khác, để từng bướctạo lập mối quan hệ mới với Triều Tiên nhằm tiến tới thống nhất hai miềntrong hòa bình

Đối với Hàn Quốc, toàn cầu hóa đã mang lại nhiều lợi ích cho sự pháttriển kinh tế của quốc gia Toàn cầu hóa và chính sách ngoại giao kinh tế củaHàn Quốc nói chung, trong đó có chính sách ngoại giao kinh tế đối với Việt

Trang 26

Nam là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy và phát triển nền kinh tếcủa Hàn Quốc Chính sách ngoại giao kinh tế của Hàn Quốc tập trung vào 3lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế, đó là thương mại, tài chính và hợp tác pháttriển Hàn Quốc luôn coi hợp tác phát triển là xu thế tất yếu của mỗi quốc giatrong bối cảnh toàn cầu hóa [7].

1.1.3 Khái quát quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc trước năm 2009

Đầu thế kỷ XXI, thế giới chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của cáchmạng khoa học công nghệ với mũi nhọn là công nghệ thông tin, kinh tế trithức và toàn cầu hóa Cuộc cách mạng này làm thay đổi tư duy của các nước

về thế giới quan và chiến lược đối ngoại, thay đổi phương thức quan hệ giữacác nước, và là động lực chính đẩy nhanh sự thay đổi tương quan lực lượnggiữa các quốc gia [4] Trong quan hệ quốc tế đa cực sau Chiến tranh lạnh,bình thường hóa quan hệ và thúc đẩy hợp tác phù hợp với lợi ích kinh tế củahai nước và cũng phù hợp với lợi ích chính trị của hai nước. Cả những vấn đềtoàn cầu phức tạp đang thách thức mọi quốc gia trên toàn thế giới Việc giảiquyết các vấn đề toàn cầu đòi hỏi phải có sự đầu tư về phương tiện vật chất,

sự hợp tác quốc tế về mọi mặt không phân biệt chế độ xã hội, tôn giáo, chínhkiến, hệ tư tưởng; đòi hỏi sự nỗ lực tối đa của cả nhân loại về mặt nhận thứclẫn hành động thực tế [3, tr.19] Vì thế, các nước cần thiết lập quan hệ ngoạigiao, trước hết vì nỗ lực phát triển lợi ích kinh tế của các nước và giải quyếtnhững vấn đề trong khu vực, rõ nét là quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam –Hàn Quốc trong đó Việt Nam đang cần cải cách kinh tế, còn Hàn Quốc cần cóthị trường xuất khẩu hàng hóa

Hàn Quốc đã đạt được nhiều thành công thông qua chính sách này, từviệc phụ thuộc nhiều vào Hoa Kỳ và Nhật Bản về kinh tế chuyển sang thiếtlập quan hệ đa phương với các nước thuộc các hệ thống chính trị khác nhau.Chính điều này đã tạo điều kiện cho Hàn Quốc gia nhập Liên hợp quốc và

Trang 27

củng cố vị thế của mình trên trường quốc tế, đi ngược lại nền tảng đó, HànQuốc đã thúc đẩy quá trình thiết lập quan hệ chính thức với Việt Nam

Về kinh tế, Hàn Quốc đã trở thành đối tác kinh tế quan trọng của ViệtNam Trong vòng 15 năm sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao (1992-2007),Hàn Quốc luôn đứng trong danh sách nhóm 5 nước có quan hệ kinh tế quy

mô lớn nhất với Việt Nam Hai nước đã thành lập Uỷ ban liên Chính phủ vềHợp tác Kinh tế và Khoa học kỹ thuật Việt Nam Hàn Quốc để thúc đẩy hợptác kinh tế song phương Hai bên đã ký nhiều hiệp định quan trọng như: Hiệpđịnh hợp tác kinh tế khoa học kỹ thuật (02/1993), Hiệp định khuyến khích vàbảo hộ đầu tư sửa đổi (9/2003), Hiệp định Hàng không, Hiệp định Thươngmại (5/1993), Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần (5/1994), Hiệp định Văn hoá(8/1994), Hiệp định Vận tải biển (4/1995), Hiệp định Hải quan (3/1995), Hiệpđịnh về hợp tác du lịch (8/2002), Hiệp định hợp tác dẫn độ tội phạm (9/2003),Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự (9/2003), Hiệp định về viện trợ khônghoàn lại và hợp tác kỹ thuật (4/2005)…

Về hợp tác phát triển, đến nay, Hàn Quốc đã cấp và cam kết cấp 188triệu USD tín dụng ưu đãi và viện trợ không hoàn lại 80 triệu USD; quyếtđịnh trong giai đoạn 2006- 2009 tăng mức cung cấp tín dụng ưu đãi cho ViệtNam lên 100 triệu USD/năm, viện trợ không hoàn lại 9,5 triệu USD/năm

Về hợp tác đầu tư, đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc vào Việt Nam, HànQuốc luôn nằm trong số 5 nước và vùng lãnh thổ có tổng vốn đầu tư trực tiếplớn nhất vào Việt Nam Tính đến tháng 12/200, tổng vốn đầu tư trực tiếp củaHàn Quốc vào Việt Nam đã đạt con số 13,3 tỉ USD chiếm hơn 10% tổng luỹ

kế vốn FDI vào Việt Nam kể từ năm 1988, và từ chỗ luôn đứng sau Đài Loan,Singapore và Nhật Bản trước năm 2006, Hàn Quốc trong thời gian này đã lànước có tổng vốn FDI lớn nhất vào Việt Nam Xét về lượng vốn FDI đăng kýhàng năm, trong những năm gần đây Hàn Quốc thường đứng thứ 2 hoặc thứ

Trang 28

3, nhưng từ năm 2006 Hàn Quốc đã vượt lên dẫn đầu về lượng vốn đăng kýmới và tăng vốn vào Việt Nam Xét về số lượng các dự án, tính đến tháng12/2009 Hàn Quốc có hơn 2300 dự án hiện đang còn hiệu lực, trong đó cónhững dự án có quy mô cỡ lớn và rất lớn; có những dự án với số vốn đầu tưlên tới xấp xỉ 1 tỷ USD Xét về cơ cấu ngành đầu tư, vốn đầu tư của HànQuốc tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp chế biến và bất động vớihơn 70% tổng số vốn; tiếp theo là vào các ngành dịch vụ với hơn 20% tổng sốvốn, và phần còn lại dưới 10% vào các ngành nông, lâm, ngư nghiệp [5].

Về thương mại, kể từ những năm 1980 Việt Nam đã có sự trao đổi mậudịch với Hàn Quốc Song quan hệ thương mại giữa hai nước chỉ thực sự pháttriển kể từ đầu những năm 1990 sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giaochính thức Kể từ đó đến nay, quan hệ thương mại giữa hai nước ngày càngphát triển Tổng giá trị mậu dịch hai chiều của Việt Nam với Hàn Quốc hàngnăm luôn tăng so với năm trước với tốc độ tăng trung bình hàng năm đạt18,43% trong giai đoạn 1995-2008 Trong khoảng thời gian này, chỉ có 2 năm

1997 và 1998, kim ngạch mậu dịch hai chiều giữa hai nước giảm chút ít mộtphần do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực Đến năm

1991 đạt 250 triệu USD, năm 1992 đạt 490 triệu USD, năm 1993 đạt 818 triệuUSD, năm 1995 đạt 1,5 tỷ USD, năm 1996 đạt 1,8 tỷ USD, năm 1997 đạt 1,9

tỷ USD, năm 1999 đạt 1,5 tỷ USD, năm 2000 đạt 1,7 tỷ USD, năm 2001 đạt2,1 tỷ USD, năm 2002 đạt 2,75 tỷ USD, năm 2003 kim ngạch thương mai đạtđến 3,116 USD (tăng gấp 6 lần so với năm 1992), năm 2004 đạt 4 tỷ USD,năm 2005 đạt 4,125 tỷ USD (Tăng gấp 8 lần so với năm 1992) [36]

Năm 2006, kim ngạch buôn bán giữa hai nước ước đạt gần 5 tỷ USD,gấp 10 lần so với kim ngạch tại thời điểm hai nước thiết lập quan hệ ngoạigiao chính thức năm 1992 Lúc bấy giờ, hai bên đang nỗ lực tìm các giảipháp khắc phục tình trạng nhập siêu của Việt Nam [8] Và kinh ngạch xuất

Trang 29

khẩu hai nước năm 2007 đạt hơn 7 tỷ đô la, trong đó giá trị hàng hóa của ViệtNam xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 700 triệu USD, nhập khẩu từ Hàn Quốchơn 6 tỉ USD Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 35 của Hàn Quốc.

Về hợp tác lao động: Trong thời gian này, Việt Nam có gần 50 nghìnlao động đang làm việc tại Hàn Quốc và con số này hiện đang tăng dần quatừng năm Ngày 25/5/2004, Việt Nam và Hàn Quốc ký thoả thuận mới về đưalao động Việt Nam sang Hàn Quốc theo Luật cấp phép lao động (EPS) củaHàn Quốc

Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hàn Quốc sau khi thiết lập quan hệ đốingoại năm 1992 và trở thành quan hệ “đối tác toàn diện” năm 2001 đã tạo ranhững bước nhảy vọt trong hợp tác kinh tế của hai nước, rõ nét nhất là kimngạch thương mại hai nước tăng trưởng mạnh cũng như lượng vốn đầu tư củaHàn Quốc dành cho Việt Nam, nhằm giúp Việt Nam cải thiện phát triển đấtnước Cả hai đều không ngừng nỗ lực, đồng hành cùng nhau và tìm ra nhữnggiải pháp triệt để giải quyết vấn đề kinh tế của nhau

1.2 Cơ sở bên ngoài

1.2.1 Sự gia tăng hợp tác Đông Á

Khu vực Đông Á bao gồm 18 nền kinh tế (7 nền kinh tế thuộc ĐôngBắc Á và 11 nền kinh tế thuộc Đông Nam Á) với dân số 2,15 tỷ người(khoảng 1/3 dân số thế giới) và tổng GDP trên 13 nghìn tỷ USD (chiếm gần1/4 GDP của toàn thế giới) Đông Á cũng chiếm tới gần 30% tổng thương mạicủa thế giới và hàng năm thu hút gần 1/3 tổng FDI toàn cầu Đây là khu vực

có hai nền kinh tế hàng đầu thế giới (sau Mỹ) là Nhật Bản và Trung Quốc.Trung Quốc hiện đã vươn lên thành nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu và

dự trữ ngoại tệ với tổng số 2.450.000 tỷ USD [17] Qua đó ta thấy được, đây

là thị trường lao động lớn với lượng dân số chiếm 1/3 dân số thế giới, dẫn đến

Trang 30

thị trường tiêu thụ rộng lớn, cùng với nền thương mại phát triển nhanh và hấpdẫn, thu hút được 1/3 tổng FDI toàn cầu.

Đông Á trở thành khu vực thu hút sự quan tâm đặc biệt của thế giới,không chỉ vì đây là địa bàn chiến lược quan trọng có nhiều vấn đề nổi cộm vềchính trị - an ninh, mà còn vì là khu vực phát triển đầy năng động, đạt đượcnhững thành công ngoạn mục về phát triển kinh tế, trở thành một đầu tàu củakinh tế thế giới, đóng góp rất quan trọng vào sự tăng trưởng toàn cầu [9] Mặc

dù vậy, cũng thấy rõ các nền kinh tế Đông Á đang phải đối mặt với nhiềuthách thức lớn bao gồm các vấn đề toàn cầu cấp bách lúc bấy giờ như biến đổikhí hậu, cạn kiệt tài nguyên, v.v Với đặc điểm nổi bật là hướng ngoại, kinh tếĐông Á cũng dễ bị tổn thương trước các rủi ro kinh tế toàn cầu Điều đó, đòihỏi từng nền kinh tế Đông Á cần tăng cường chất lượng quản trị, đổi mới môhình phát triển để tăng trưởng nhanh, cân bằng và bền vững, mặt khác phảidành nhiều ưu tiên hơn và tham gia nhiều hơn nữa trong hợp tác quốc tế đểđối phó với các vấn đề toàn cầu

Vào năm 2010 chủ đề của Diễn đàn Kinh tế thế giới về Đông Á –

“Nâng cao vai trò của châu Á”, là hoàn toàn phù hợp với bối cảnh của khuvực chúng ta Từ năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tếtoàn cầu đã gây ra những tổn thất to lớn, tác động sâu sắc tới mọi mặt của đờisống thế giới, nhưng cũng làm bộc lộ rõ những khiếm khuyết của hệ thốngkinh tế-tài chính toàn cầu cũng như của từng nền kinh tế, đồng thời thúc đẩyquá trình cải cách thể chế và mô hình kinh tế nhằm bảo đảm cho sự phát triểnnhanh, cân bằng và bền vững hơn

Với quy mô kinh tế tăng nhanh, Đông Á sẽ ngày càng có ảnh hưởng lớnhơn và do đó có điều kiện để tham gia ngày càng tích cực hơn vào các cơ chếhợp tác quốc tế Vai trò toàn cầu của Đông Á đã được thể hiện qua các nướcthành viên tại các cơ chế như LHQ, G20, WTO, v.v Đặc biệt, với bốn thành

Trang 31

viên và đại diện ASEAN tại G20, Đông Á có khả năng đóng góp tích cực vàđáng kể cho việc kiến tạo một cấu trúc mới hiệu quả hơn, dân chủ hơn chonền quản trị toàn cầu.

Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ 21, vận hội mới thực sự đã tớivới Đông Á, và đây là lúc Đông Á có thể tự tin gánh vác những trọng trách tolớn hơn trong quản trị toàn cầu Để có thể có một vai trò lãnh đạo quan trọng

và xứng đáng hơn trong hệ thống chính trị - kinh tế toàn cầu, mỗi thành viêncủa cộng đồng Đông Á cần nâng cao vai trò và năng lực lãnh đạo của mình,với tầm nhìn xa trông rộng và hành động nhạy bén, trước hết là ở tầm quốcgia và khu vực Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng, nhưng conđường phía trước còn dài và đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, đòi hỏiphải có những cách tiếp cận mới, sự sáng tạo và tư duy đột phá Kỳ vọng vàoDiễn đàn Kinh tế thế giới về Đông Á sẽ đưa ra nhiều ý tưởng, tạo động lựcmới cho sự phát triển bền vững và đều khắp của khu vực [16]

Việt Nam và Hàn Quốc là hai quốc gia thuộc khu vực Đông Á, đềuđang chịu tác động mạnh mẽ của sự chuyển biến chung của khu vực, cùngđứng trước những thách thức và những cơ hội hợp tác mới Trong lúc đó, ViệtNam và Hàn Quốc cần nhanh chóng nắm lấy thời cơ, đề ra giải pháp nhằmphát huy vai trò tích cực trong hợp tác khu vực, nhất là tăng cường hơn nữaquan hệ hợp tác song phương Việt Nam - Hàn Quốc hướng tới hòa bình vàthịnh vượng chung

1.2.2 Sự phát triển của cộng đồng kinh tế ASEAN

ASEAN là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á được thành lập ngày 8tháng 8 năm 1967, là tổ chức liên kết của khu vực Đông Nam Á, được tạodựng với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ủng hộ hòa bình khu vực, vàphát triển văn hóa giữa các thành viên Tổ chức này gồm có 10 nước thànhviên: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Myanmar, Việt

Trang 32

Nam, Lào, Brunei, Cambodia Sự hợp tác ở các nhóm nước ở khu vực ChâuÁ-Thái Bình Dương và Châu Á ngày càng tăng ASEAN có xu hướng đẩymạnh liên kết sâu rộng và toàn diện hơn để tăng sức mạnh như một cộngđồng.

Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community, AEC) làmột khối kinh tế khu vực của 10 quốc gia thành viên Năm 1992: khái niệmhội nhập kinh tế ASEAN lần đầu tiên được đưa ra trong Hiệp định khung vềThúc đẩy Hợp tác Kinh tế ASEAN ký tại Singapore Hiệp định này nhấnmạnh tầm quan trọng trong hợp tác trong các lĩnh vực thương mại, côngnghiệp, năng lượng và khoáng sản, tài chính và ngân hàng, thực phẩm, nôngnghiệp và lâm nghiệp, giao thông và truyền thông Hiệp định về Chương trình

Ưu đãi Thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) được ký kết, sau đó được thaythế bởi Hiệp định về Thương mại Hàng hoá ASEAN 2010 Vào năm 1995:Hiệp định khung về Dịch vụ ASEAN được ký kết Đến năm 1998: Hiệp địnhkhung về Đầu tư ASEAN được ký kết, sau đó được thay thế bởi Hiệp địnhĐầu tư toàn diện ASEAN 2012

Tháng 10/2003, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợpASEAN II (Tuyên bố Bali II), với Cộng đồng Kinh tế (AEC) là một trong batrụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu đề ratrong Tầm nhìn ASEAN 2020 Hai trụ cột còn lại là: Cộng đồng Chính trị -

An ninh ASEAN (APSC) và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN (ASCC).Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12 tại Cebu (Philippines) vào tháng 1/

2007 đã thông qua quyết định đẩy nhanh quá trình hình thành AEC vào năm

2015 thay vì năm 2020, đồng thời hướng tới mức độ hội nhập kinh tế trongASEAN sâu rộng hơn so vs ý tưởng ban đầu (ASEAN 2008) Các nhà lãnhđạo ASEAN đã cụ thể con đường hiện thực hóa AEC thông qua Tuyên bố

Cha Am/Hua Hin và lộ trình xây dựng AEC (ASEAN Community Roadmap)

Trang 33

và thông qua Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint) đến năm

2015 Ngày 22/11/2015: Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27, cácnhà lãnh đạo ASEAN đã ký kết Tuyên bố Kuala Lumpur về việc thành lậpAEC ASEAN chính thức được thành lập vào ngày 31 tháng 12 năm 2015,khi bản tuyên bố thành lập chính thức có hiệu lực

Có thể thấy đây là khu vực phát triển sôi động trên thế giới với hơn 640triệu dân, tổng GDP khoảng 2.480 tỷ USD và kim ngạch thương mại đạt2.530 tỷ USD vào năm 2014 Ở chiều ngược lại, đây là đối tác thương mạicung cấp nguồn hàng hoá lớn thứ 3 cho các doanh nghiệp Việt Nam, sauTrung Quốc và Hàn Quốc [13]

Cộng đồng kinh tế ASEAN chính là sự phát triển tất yếu trong nổ lựcnhằm tăng cường liên kết kinh tế ASEAN và đưa tổ chức này lên một tầm caomới Sự thành công của AEC sẽ có ý nghĩa tích cực khẳng định vị thế địachính trị và quan trọng về kinh tế trong xu thế phát triển toàn cầu của khu vựcĐông Nam Á Mặc dù vậy, những thách thức đặt ra về thể chế nếu khôngđược điều chỉnh và khắc phục thì có thể sẽ gây ra những trở lực cho sự vậnhành của AEC nói riêng và của Cộng đồng ASEAN nói chung

Một điều hết sức tích cực là trong bối cảnh khủng hoảng vừa qua đãchứng kiến hợp tác khu vực ở Đông Á có xu hướng được đẩy mạnh, thôngqua nhiều cơ chế như: ASEAN+3, ASEAN+1, Cấp cao Đông Á, các cơ chếhợp tác tiểu vùng, các tam - tứ giác phát triển, và các hiệp định mậu dịch tự

do đa phương hoặc song phương ASEAN đã luôn chứng tỏ được vai tròtrung tâm, vị thế chủ đạo, đóng góp hiệu quả đối với tiến trình xây dựng thểchế khu vực ở Đông Á và các thể chế liên khu vực ở châu Á - Thái BìnhDương Ngoài ra, ASEAN còn là "hạt nhân" của nhiều tiến trình hợp tác quốc

tế như: APEC, ASEM, ASE, ASEAN + 3, EAS

Trang 34

Tiểu kết chương 1

Trong bối cảnh đó, Hàn Quốc và Việt Nam là hai quốc gia thuộc khuvực Đông Á Hàn Quốc là một nền kinh tế lớn nằm trong top 20 của thế giới,với những bước đột phá về công nghệ và nền kinh tế thị trường lớn Hợp táckinh tế với Hàn Quốc mang lại nhiều lợi ích lớn cho Việt Nam đó là mở rộngthị trường, tiếp cận nguồn vốn đầu tư, khoa học công nghệ cao của Hàn Quốc,thu hút FDI cho phát triển đất nước, đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa, đadạng các mặt hành xuất khẩu của Việt Nam Đối với Hàn Quốc, Việt Nam làmột thị trường mới, có độ mở cao, với tư cách thị trường có sức mua ngàycàng tăng; là đất nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú có nguồnlực lao động dồi dào, giá rẻ Bên cạnh đó, Việt Nam là một quốc gia có vị tríđịa lý thuận lợi, khu vực đắc địa trong khu vực, sẽ trở thành “cầu nối” kinh tế

- văn hóa giữa Hàn Quốc với khu vực Đông Nam Á và cả bán đảo ĐôngDương Nên Hàn Quốc coi Việt Nam là một trong những đối tác quan trọngtrong khu vực

Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đã phát triển mạnh mẽ từ khi quan hệngoại giao giữa hai nước được xác lập vào năm 1992 Từ mối quan hệ toàndiện đã nâng tầm quan hệ song phương thành đối tác chiến lược Sự tương tác

và hội nhập giữa hai nước đã đạt được những kết quả hết sức ấn tượng HànQuốc đã trở thành đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam Trong vòng 16năm sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao (1992-2008), Hàn Quốc luôn đứngtrong danh sách nhóm 5 nước có quan hệ kinh tế quy mô lớn nhất với ViệtNam Hai nước đã thành lập Uỷ ban liên Chính phủ về Hợp tác Kinh tế vàKhoa học kỹ thuật Việt Nam Hàn Quốc để thúc đẩy hợp tác kinh tế songphương, cùng với những chính sách đầu tư đầy ưu đãi cũng như những việntrợ của Hàn Quốc dành cho Việt Nam

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ

VIỆT NAM – HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN TỪ 2009 ĐẾN 2020

Trên thực tế, sự phát triển trong mối quạn hệ Việt Nam – Hàn Quốc đã

để lại không ít bước ngoặt to lớn Hàn Quốc đã trở thành đối tác kinh tế quantrọng của Việt Nam Trong vòng 16 năm sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao(1992-2008), Hàn Quốc luôn đứng trong danh sách nhóm 5 nước có quan hệkinh tế quy mô lớn nhất với Việt Nam Từ năm 2009, hai quốc gia đã nângcấp mối quan hệ lên thành quan hệ “Đối tác chiến lược” thể hiện sự tin cậytrong hợp tác, quan hệ hữu nghị tạo ra nhiều lợi ích, góp phần duy trì hòa bình

và ổn định trong khu vực Đông Á Có thể nói, đây là giai đoạn thịnh vượngnhất trong lịch sử kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao Hàn Quốc

và Việt Nam đã cùng tạo ra nhiều đóng góp lớn cho nền kinh tế của nhau.Điều này, thể hiện rõ nét qua những con số, thành quả và những chính sách,hiệp định được ký kết cùng với những chuyến viếng thăm của các nhà lãnhđạo cấp của hai quốc gia sẽ là tiền đề cho sự phát triển kinh tế Việt Nam –HànQuốc

Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc Lee Myung Bak và Phu nhân đã thămchính thức Việt Nam từ ngày 20 đến ngày 22 tháng 10 năm 2009 Nhânchuyến thăm Việt Nam lần này của Tổng thống Lee Myung Bak, hai vịNguyên thủ đã thoả thuận nâng cấp quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc lênthành quan hệ “Đối tác hợp tác chiến lược” vì hoà bình, ổn định và phát triển[40] Về hợp tác kinh tế, phía Hàn Quốc đánh giá cao nỗ lực của phía ViệtNam trong việc phát triển cơ chế kinh tế thị trường thông qua việc thực hiệnchính sách cải cách-mở cửa trong hơn 20 năm qua và công nhận Việt Nam lànước có nền kinh tế thị trường Hai bên nhất trí trong năm 2009 sẽ bắt đầutrao đổi ý kiến về việc thành lập Tổ công tác chung để nghiên cứu khả năng

Trang 36

thúc đẩy và tính khả thi của “Hiệp định thương mại tự do Hàn Quốc-ViệtNam” nhằm mở rộng hợp tác kinh tế thương mại đầu tư.

2.1 Trên lĩnh vực thương mại

Hàn Quốc và Việt Nam có chung mối quan tâm trong việc đóng gópvào sự thành công của hai hiệp định thương mại tự do với tiến trình chung và

sự thịnh vượng của khu vực Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - HànQuốc là một trong ba kênh FTA đã đàm phán thành công, bao gồm: Hiệp địnhthương mại tự do ASEAN - Hàn Quốc (VKFTA), Hiệp định đối tác kinh tếtoàn diện khu vực (RCEP) và Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương(TPP) Thời điểm này, quá trình đàm phán được tiến hành giữa Hàn Quốc vàASEAN để đạt được mức độ tự do hóa cao hơn Mặt khác, đàm phán RCEP

đẫ diễn ra, gồm 16 nước trong đó có Việt Nam và Hàn Quốc

Vào cuối năm 2014, Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam

và Hàn Quốc đã được thông qua Tổng thống Park Geun Hye và Thủ tướngNguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố hai nước đàm phán thành công Hiệp địnhthương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc khi hai nhà lãnh đạo gặp gỡ trongcuộc đối thoại song phương vào tháng 12/2014 tại Busan (Hàn Quốc) nhândịp cuộc họp thượng đỉnh kỷ niệm quan hệ Hàn Quốc - ASEAN Đây là sựkiện quan trọng mở ra tầm cao mới trong quan hệ kinh tế Việt Nam - HànQuốc Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc không chỉ mở rộng

cơ hội thương mại và đầu tư giữa hai nước mà còn làm sâu sắc thêm sự hợptác trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả công nghiệp và năng lượng [14; tr.4]

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) được kýkết ngày 5/5/2015 và chính thức có hiệu lực từ ngày 20/12/2015 So với FTAASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), trong VKFTA Việt Nam và Hàn Quốc dànhthêm nhiều ưu đãi cho nhau trong cả lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ và đầu tư.Tuy nhiên, VKFTA không thay thế AKFTA mà cả hai FTA này đều cùng có

Trang 37

hiệu lực và doanh nghiệp có thể tùy chọn sử dụng FTA nào có lợi hơn.Thương mại hai chiều Việt Nam - Hàn Quốc liên tục có sự tăng trưởng mạnhtrong những năm sau 2015, đặc biệt kể từ khi Hiệp định Thương mại tự doViệt Nam - Hàn Quốc (KVFTA) đi vào thực thi vào cuối năm 2015.

Về cơ bản, các cam kết thuế quan trong VKFTA được xây dựng trênnền các cam kết thuế quan trong FTA ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), nhưngvới mức độ tự do hóa cao hơn Nói cách khác, VKFTA sẽ cắt giảm thêm một

số dòng thuế mà trong AKFTA chưa được cắt giảm hoặc mức độ cắt giảmcòn hạn chế Cụ thể, so với AKFTA, trong VKFTA: Đối với Hàn Quốc sẽ xóa

bỏ thêm cho Việt Nam 506 dòng thuế (chiếm 4,14% biểu thuế và tươngđương với 5,5% tổng kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam vào Hàn Quốc năm2012) Việt Nam sẽ xóa bỏ thêm cho Hàn Quốc 265 dòng thuế (chiếm 2,2%biểu thuế và tương đương với 5,91% tổng kim ngạch nhập khẩu vào từ HànQuốc vào Việt Nam năm 2012) Vì vậy, tổng hợp cả các cam kết trongVKFTA và AKFTA thì Hàn Quốc sẽ xóa bỏ cho Việt Nam 11.679 dòng thuế(chiếm 95,44% biểu thuế và tương đương với 97,22% tổng kim ngạch nhậpkhẩu từ Việt Nam vào Hàn Quốc năm 2012), còn Việt Nam sẽ xóa bỏ choHàn Quốc 8.521 dòng thuế (chiếm 89,15% biểu thuế và tương đương 92,72%tổng kim ngạch nhập khẩu từ Hàn Quốc vào Việt Nam năm 2012) Chú ý: -Trong quá trình thực thi VKFTA, hai Bên có thể tham vấn và xây dựng Thỏathuận bổ sung để đẩy nhanh hơn tốc độ cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế quan [29]

Trong trường hợp một bên đơn phương đẩy nhanh việc cắt giảm hoặcxóa bỏ thuế quan và đã thực hiện các thủ tục thông báo chính thức cho Bênkia như quy định tại Hiệp định thì việc cắt giảm hoặc xóa bỏ đó sau khi chínhthức có hiệu lực sẽ không được rút lại Mỗi Bên không được phép tăng thuếhay áp đặt thêm các loại thuế mới đối với hàng hóa của Bên kia trừ các trườnghợp sau: + Tăng các loại thuế mà trước đó đã đơn phương giảm thuế nhưng

Ngày đăng: 28/03/2022, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w