1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phân tích thực trạng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

23 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 239,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được thể hiện thành một quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển xã hội loài người 2.. Nhưng họ đều thống

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI

KHOA TRIẾT HỌC

BÀI TIỂU LUẬN

Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất Phân tích thực trạng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay? Phương hướng phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta?

Tên GVHD: Hán Thị Hồng Liên

Họ tên: Hoàng Đinh Phong

Mã sinh viên: 2621230399

Lớp: DD26.01

Trang 2

2 Quan hệ sản xuất

3 Mối liên hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

II Phân tích thực trạng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta

trong giai đoạn hiện nay

1 Nước ta trước thời kì đổi mới

2 Nước ta hiện nay

3 Kết luận

III Phương hướng phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta

1 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được thể hiện thành một quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển xã hội loài người

2 Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong 35 năm qua nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng, phát trển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc

3 Đề xuất một số vấn đề đặt ra về nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất

KẾT LUẬN 20

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Loài người đã trải qua năm phương thức sản xuất đó là: Nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, , tư bản chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa Tư duy phát triển, nhận thức của con người không dừng lại ở một chỗ Từ khi sản xuất chủ yếu bằng hái lượm săn bắt, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu thì ngày nay trình

độ khoa học đạt tới mức tột đỉnh Không ít các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu

đổ sức bỏ công cho các vấn đề này cụ thể là nhận thức con người, trong đó có triết học Với ba trường phái trong lịch sử phát triển của mình chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm và trường phái nhị nguyên luận Nhưng họ đều thống nhất rằng thực chất của triết học đó là sự thống nhất biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất như thống nhất giữa hai mặt đối lập tạo nên chỉnh thể của nền sản xuất xã hội Tác động qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất được Mác và Ănghen khái quát thành qui luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất Từ những lý luận trên đưa Mác - Ănghen vươn lên đỉnh cao trí tuệ của nhân loại Không chỉ trên phương diện triết học mà cả chính trị kinh tế học và chủ nghĩa cộng sản khoa học Dưới những hìnhthức và mức độ khác nhau, dù con người có ý thức và mức độ khác nhau, dù con người có ý thức được hay không thì nhận thức của hai ông về qui luật vẫn xuyên suốt lịch sử phát triển Biện chứng quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất tạo điều kiện cho sinh viên nói chung và em nói riêng có được một nhận thức về sản xuất xã hội Đồng thời mở mang được nhiều lĩnh vực về kinh tế Thấy được vị trí,

ý nghĩa của nó Em mạnh dạn đưa ra nhận định của mình về đề tài "Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

2 Tính cấp thiết của đề tài

Qua phần lí luận trên ta có thể thấy việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hết sức cần thiết Đặc biệt trong thời kỳ hiện nay chủ nghĩa xã hội lại có nhiều thay đổi và biến độngmột trong những nguyên nhân tan rã của hệ thống Xã hội chủ nghĩa là do các nước Chủ nghĩa xã hội đã xây dựng mô hình Chủ nghĩa xã hội không có sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Ở nước ta cũng vậy, sau

1945 miền Bắc tiến lên Chủ nghĩa xã hội và cả nước là sau năm 1975 Trong quá trình đổi mới đất nước, do nóng vội nên Đảng ta đã mắc phải những sai

Trang 4

lầm là duy trì quá lâu quan hệ sản xuất cố hữu đó là chính sách bao cấp tập trung dân chủ Chính vì lẽ đó mà trong suốt những năm đó nền kinh tế nước tachậm phát triển và rơi vào tình trạng khủng hoảng trong những năm đầu thập

kỉ 80 Điều quan trọng hơn là Đảng ta đã nhận thức được điều đó và nhanh chóng thông qua Đại hội Đảng VI và các kỳ đại hội tiếp sau đó Trong thời kỳ quá độ có nhiều vấn đề phức tạp cần phải giải quyết bởi vì nó là bước chuyển tiếp của một hình thái kinh tế- xã hội này sang mội hình thái kinh tế- xã hội khác Cho nên em muốn chọn đề tài “Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất” để nghiên cứu

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến cô Hán Thị Hồng Liên Trongquá trình tìm hiểu và học tập bộ môn Triết học Mác - Lênin, em đã nhận được sự giảng dạy và hướng dẫn rất tận tình, tâm huyết của cô.Cô đã giúp em tích lũy thêm nhiều kiến thức hay và bổ ích Từ những kiến thức mà cô truyền đạt, em xin trình bày lại những gì mình đã tìm hiểu về vấn đề về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng và quan hệ sản xuất gửi đến cô.

Tuy nhiên, kiến thức về bộ môn Triết học Mác - Lênin của em vẫn còn những hạn chế nhất định Do đó, không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình hoàn thành bài tiểu luận này Mong cô xem và góp ý để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.

Kính chúc cô hạnh phúc và thành công hơn nữa trong sự nghiệp “trồng người” Kính chúc cô luôn dồi dào sức khỏe để tiếp tục dìu dắt nhiều thế hệ học trò đến những bến bờ tri thức

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam kết toàn bộ nội dung của đề tài là kết quả nghiên cứu của riêng em Các kết quả, số liệu trong đề tài là trung thực và hoàn toàn khách quan Em hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Trang 7

Tư liệu sản xuất là những tư liệu để tiến hành sản xuất, bao gồm tư liệu lao động

và đối tượng lao động Trong đó tư liệu lao động bao gồm công cụ lao động( máy móc,…) và đối tượng lao động khác ( phương tiện vận chuyển và bảoquản sản phẩm……) Đối tượng lao động là những yếu tố nguyên nhiên vật liệu

có sẵn trong tự nhiên (gỗ, than đá,…) hoặc nhân tạo (pôlime,….)

Người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, là người tạo ra và

sử dụng tư liệu lao động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm

Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã khiến cho trithức khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

2. Quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa con người và con người trong quá trìnhsản xuất vật chất Theo một nghĩa chung nhất thì quan hệ sản xuất là một yếu tốcủa phương thức sản xuất, là mặt xã hội của phương thức sản xuất Quan hệ sảnxuất là quan hệ kinh tế của một hình thái kinh tế – xã hội nhất định Mối quanhệ giữa con người và con người trong quan hệ sản xuất bao giờ cũng thể hiệntính chất, bản chất của quan hệ lao động và dưới góc độ chung nhất nó thể hiệnbản chất kinh tế của một hình thái kinh tế – xã hội nhất định Quan hệ sản xuấtmang tính khách quan độc lập với ý thức của con người Kết cấu của quan hệsản xuất bao gồm ba mặt quan hệ cơ bản sau:

Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất Xét về mặt lịch sử quan hệ sở hữu về tưliệu sản xuất đã được thể hiện dưới hai hình thức cơ bản, đó là sở hữu tư nhân

và sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất

Trang 8

Quan hệ tổ chức quản lý sản xuất Quan hệ này hoàn toàn phụ thuộc vào quanhệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất Bởi vì, những chủ thể xã hội nào nắm tư liệusản xuất chủ yếu của xã hội, thì họ sẽ là người nắm vai trò tổ chức và quản lýsản xuất vật chất của xã hội.

Quan hệ phân phối sản phẩm lao động Quan hệ này phụ thuộc vào quan hệ sởhữu đối với tư liệu sản xuất Bới vì, chủ thể xã hội nào nắm tư liệu sản xuất thìđồng thời họ là người có mức hưởng thụ nhiều hơn, và là người có quyền quyếtđịnh phân phối sản phẩm vật chất của xã hội

Trong ba mặt quan hệ của quan hệ sản xuất đều có sự tác động qua lại lẫn nhau.Nhưng quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất là quan hệ giữ vai trò quyết định trongquan hệ sản xuất Đồng thời quan hệ sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội là sựkhác nhau về bản chất và có tính chất đối lập

3. Mối liên hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

– Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệthống nhất biện chứng, ràng buộc và tác động lẫn nhau tạo thành quá trình sảnxuất hiện thực

+ Lực lượng sản xuất cà quan hệ sản xuất là hai mặt tất yếu của quá trình sảnxuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất,còn quan hệ sản xuất là hình thức kinh tế của quá trình đó

+ Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại trong tính quy định lẫn nhau,thống nhất với nhau Đây là yêu cầu tất yếu, phổ biến diễn ra trong mọi quátrình sản xuất hiện thực của xã hội Tương ứng với thực trạng phát triển nhấtđịnh của lực lượng sản xuất cũng tất yếu đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phùhợp với thực trạng đó trên cả ba phương diện: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức –quản lý và phân phối Chỉ có như vậy, lực lượng sản xuất mới có thể được duytrì, khai thác – sử dụng và không ngừng phát triển Ngược lại, lực lượng sảnxuất của một xã hội chỉ có thể được duy trì, khai thác – sử dụng và phát triểntrong một hình thái kinh tế – xã hội nhất định

– Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ biệnchứng trong đó vai trò quyết định thuộc về lực lượng sản xuất, còn quan hệ sảnxuất sẽ giữ vai trò tác động trở lại lực lượng sản xuất

– Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ cóbao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập làm phát sinh mâu thuẫncần được giải quyết để thúc đẩy sự tiếp tục phát triển của lực lượng sản xuất

Trang 9

II Phân tích thực trạng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

1 Nước ta trước thời kì đổi mới.

– Thời kỳ trước đổi mới: Giai đoạn này kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu nay cànggặp nhiều khó khăn sau cuộc chiến tranh nhiều gian khổ Lực lượng sản xuất nước

ta thời kỳ này còn thấp và chưa có nhiều điều kiện để phát triển Cụ thể:

+ Trình độ của người lao động thấp, hầu hết không có chuyên môn, tay nghề, phầnlớn lao động chưa qua đào tạo Lao động chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nôngnghiệp và dựa trên kinh nghiệm ông cha để lại Tư liệu sản xuất nhất là công cụ laođộng ở nước ta thời kỳ này còn thô sơ, lạc hậu

+ Trong hoàn cảnh này, Đảng và Nhà nước đã chủ trương xây dựng quan hệ sảnxuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, bao gồm haithành phần kinh tế: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thànhphần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động

+ Trong thời kỳ đầu, sau giải phóng miền Bắc, bước vào xây dựng chủ nghĩa xãhội, chúng ta đã nhấn mạnh thái quá vai trò “tích cực” của quan hệ sản xuất, dẫnđến chủ trương quan hệ sản xuất phải đi trước, mở đường để tạo động lực cho sựphát triển lực lượng sản xuất

2. Nước ta hiện nay

Rút kinh nghiệm từ những sai lầm ở giai đoạn trước, Đại hội Đảng lần thứ VI năm

1986 đã thừa nhận thẳng thắn những khuyết điểm, chủ trương đổi mới phươngthức quản lý kinh tế Đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới tư duy lýluận của Đảng về con đường và phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta,thể hiện sự nhận thức và vận dụng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuấtvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; đồng thời, đã đặt cơ sở, nền tảngquan trọng để các nhân tố mới ra đời, tạo tiền đề để từng bước phát triển nền kinh

tế của đất nước Chính vì vậy đến nay, nước ta đã đạt được nhiều thành tự to lớn.– Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương, biện pháp để đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá nhằm phát triển lực lượng sản xuất, tạo “cốt vật chất” cho quanhệ sản xuất mới

– Đảng và Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều chính sách và pháp luật để hoànthiện các mặt của quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa về sởhữu, tổ chức – quản lý và phân phối

– Trong những năm đổi mới, nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, biệnpháp để tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia các quan hệ song phương

và tổ chức đa phương, như ASEAN, APEC, ASEM, WTO…, thu hút vmạnh mẽ

Trang 10

vốn đầu tư nước ngoài (FDI, ODA…), xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mởrộng thị trường xuất nhập khẩu, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, cácnguồn lực về vốn, khoa học và công nghệ.

3. Kết luận

Từ những tư tưởng của C.Mác và Ph Ăngghen, Lênin có thể tóm lược những nộidung cốt lõi của mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất như sau:

- Một là, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai thành tố cơ bản cấu

thành nên phương thức sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ thống nhất, ràng buộc lẫn nhau trong quá trình sản xuất xã hội Mỗi phương thức sản xuất hay quá trình sản xuất xã hội không thể tiến hành được nếu thiếu một trong hai thành tố trên Trong đó, lực lượng sản xuất chính là nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ của quá trình này còn quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức kinh tế của quá trình đó Sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi quan hệ sản xuất phải được điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp, thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Chỉ có sự thích ứng, phù hợp đó của quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuấtmới có thể tiếp tục phát triển

- Hai là, trong mỗi phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết

định Tính quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất được thể hiện trên hai mặt thống nhất với nhau: lực lượng sản xuất nào thì quan hệ sản xuất

đó và cũng do đó mà khi lực lượng sản xuất thay đổi thì cũng tất yếu đòi hỏi phải

có những thay đổi nhất định đối với quan hệ sản xuất

- Ba là, quan hệ sản xuất luôn có khả năng tác động ngược trở lại, đối với việc

bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển lực lượng sản xuất Quá trình tác động trởlại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất có thể diễn ra với hai khả năng:tác động tích cực hoặc tiêu cực Khi quan hệ sản xuất phù hợp với nhu cầu khách quan bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển của lực lượng sản xuất thì có tác động tích cực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại, nếu trái với nhu cầu khách quan đó thì nhất định sẽ diễn ra quá trình tác động tiêu cực Lực lượng sản xuất phát triển không ngừng, trong khi đó quan hệ sản xuất lại có tính ổn định tương đối, vì nó gắn với các thiết chế xã hội, lợi ích của giai cấp cầm quyền Quan hệ sản xuất mang tính ổn định tương đối trong bản chất xã hội của nó Chính vì thế

mà Các Mác đã khẳng định: “Tổng hợp lại thì những quan hệ sản xuất hợp thành

cái mà người ta gọi là những quan hệ sản xuất, là xã hội, và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, một xã hội có tính

chất độc đáo riêng biệt Xã hội cổ đại, xã hội phong kiến, xã hội tư bản đều là tổng

thể quan hệ sản xuất như vậy, mỗi tổng thể đó đồng thời lại đại biểu cho một giai đoạn phát triển đặc thù trong lịch sử nhân loại” Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thúc đẩy xã hội loài người phát triển không ngừng như một quá trình lịch sử - tự nhiên

Trang 11

- Bốn là, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là quan hệ

mâu thuẫn biện chứng, tức là mối quan hệ thống nhất của hai mặt đối lập Sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là đi

từ sự thống nhất đến mâu thuẫn và một khi mâu thuẫn được giải quyết thì tái thiết lập sự thống nhất mới; quá trình này lặp đi lặp lại trong lịch sử tạo ra quá trình vận động phát triển của phương thức sản xuất

III Phương hướng phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

ở nước ta.

1 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được thể hiện thành một quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển xã hội loài người

Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được thể hiệnthành một quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển xã hội loài người - quy luật

về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

trong phương thức sản xuất Quy luật này do C Mác phát hiện ra và đó là quy luật

khách quan, cơ bản, phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại và cùng với các quy luật khác làm cho lịch sử loài người vận động từ thấp đến cao, từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn, quy định

sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên.Như chúng ta đã biết: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cấu thành của phương thức sản xuất, có tác động biện chứng với nhau một cách khách quan Quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp ở đây có nghĩa quan hệ sản xuất phải là “hình thức phát triển” tất yếu của lực lượng sản xuất, tạo địa bàn, động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Vềmặt khoa học cần nhận thức sự phù hợp một cách biện chứng, lịch sử - cụ thể, là một quá trình, trong trạng thái động Lực lượng sản xuất là yếu tố động, biến đổi nhanh hơn, còn quan hệ sản xuất là yếu tố tương đối ổn định, biến đổi chậm hơn, thậm chí lạc hậu hơn Do đó, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập biện chứng trong phương thức sản xuất C Mác đã chứng minh vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất, đồng thời cũng chỉ ra tính độc lập tương đối của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất, quy định mục đích xã hội của sản xuất, tácđộng đến lợi ích của người sản xuất, từ đó hình thành một hệ thống những yếu tố hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất trong phương thức sản xuất Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất, quy luật gốc của sự phát triển xã hội Sự biến đổi, phát triển xã hội loài người, xét đến cùng là bắt nguồn từ quy luật này Khác với

Ngày đăng: 28/03/2022, 15:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w