Trong quá trình điều trị, các bác sỹ và chuyên viên tâm lý nhận thấy có nhiều những lý do dẫn đến rối loạn này, và phần lớn các bệnh nhi này đều có những sự kiện gây trầm cảm, căng thẳng
Trang 1Yếu tố nguy cơ của rối loạn dạng cơ thể ở vị
thành niên Nguyễn Thị Diệu Anh
Trường Đại học Giáo dục Luận văn Thạc sĩ ngành: Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên Người hướng dẫn: PGS.TS Bahr Weiss, NCS Trần Văn Công
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Trình bày cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài, xây dựng các khái niệm
Tìm hiểu các yếu tố nguy cơ dẫn tới rối loạn dạng cơ thể tuổi vị thành niên Nghiên cứu các thang đo có thể dùng trong nghiên cứu Khảo sát yếu tố nguy cơ của rối loạn
dạng cơ thể bằng các thang đo Xử lý kết quả khảo sát
Keywords: Tâm lý học; Rối loạn dạng cơ thể; Vị thành niên
Content
Phần 1 PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, ngoài sức khỏe thể chất, mọi người quan tâm nhiều hơn tới sức khỏe tinh thần,
vì những khó khăn tinh thần ảnh hưởng đến chức năng sống, đến chất lượng cuộc sống, đến công việc, học tập, sinh hoạt, mối quan hệ Trước những khó khăn đó, có người vượt qua được, nhưng có nhiều người thì không, và khi không vượt qua được, bệnh nhân đã xu hướng phát triển thành bệnh về cơ thể nhưng không tìm ra nguyên nhân về mặt y khoa Bệnh này được gọi là Rối loạn dạng cơ thể
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu rối loạn dạng cơ thể của tuổi vị thành niên Nghiên cứu của Lieb R, Pfister H, M Mastaler, Wittchen H-U về “Rối loạn dạng cơ thể và các rối loạn trong một mẫu dân số đại diện của thanh thiếu niên người trẻ tuổi”, nghiên cứu trên 3.021 người, độ tuổi từ 14 đến 24, đã cho kết quả là có 12.6% vị thành niên có triệu chứng rối loạn dạng cơ thể này [16]
Riêng Bệnh viện Nhi đồng 1, TP.HCM, hầu như ngày nào cũng có bệnh nhân VTN tới khám vì RLDCT Trong quá trình điều trị, các bác sỹ và chuyên viên tâm lý nhận thấy có nhiều những lý do dẫn đến rối loạn này, và phần lớn các bệnh nhi này đều có những sự kiện gây trầm cảm, căng thẳng, lo âu, những cú sốc từ những trải nghiệm trong cuộc đời, từ cách
cư xử của người khác Những điều đó có thể làm phát sinh những triệu chứng đau về cơ thể
Trang 2mặc dù không có tổn thương thực thể, hoặc có thể làm bộc phát, làm nặng thêm, kéo dài tình trạng bệnh lý của một bệnh có sẳn Và RLDCT làm ảnh hưởng đến tinh thần, cản trở học tập, suy giảm chức năng sống, thậm chí dẫn đến tự xác
Tìm ra những yếu tố nào dẫn tới RLDCT sẽ giúp ích cho quá trình điều trị tâm lý cho những VTN này, đó là lý do mà tôi chọn đề tài này để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu những triệu chứng của rối loạn dạng cơ thể ở trẻ vị thành niên
- Tìm hiểu những yếu tố nguy cơ dẫn đến rối loạn dạng cơ thể
3 Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu
3.2.2 Nhóm đối chứng: 61 trẻ vị thành niên thuộc các loại bệnh khác
4 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1 Mô hình hoá (học tập) từ việc bố mẹ/người chăm sóc bị đau bệnh Giả thuyết 2 Trải nghiệm bản thân khi bị đau ốm, được người khác chăm sóc
Giả thuyết 3 Vấn đề nhân cách: trẻ càng có nhân cách dạng nhiễu tâm càng cao thì
càng dễ bị rối loạn dạng cơ thể
Giả thuyết 4 VTN càng có nhiều những trải nghiệm sang chấn, căng thẳng thì càng có
nhiều các triệu chứng của rối loạn dạng cơ thể
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài, xây dựng các khái niệm
5.2 Tìm hiểu các yếu tố nguy cơ dẫn tới rối loạn dạng cơ thể tuổi vị thành niên
5.3 Tìm hiểu các thang đo có thể dùng trong nghiên cứu
5.4 Khảo sát yếu tố nguy cơ của rối loạn dạng cơ thể bằng các thang đo
Trang 35.5 Xử lý kết quả khảo sát
6 Giới hạn nghiên cứu
6.1 Về khách thể nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu có hạn, số mẫu không cao dù người nghiên cứu đã thu thập mẫu
từ nhiều nơi khác nhau
6.2 Về đối tượng nghiên cứu
Đề tài này chỉ tập trung giới hạn trong rối loạn cơ thể hóa, là một trong năm rối loạn nhỏ thuộc rối loạn dạng cơ thể
6.3 Về địa điểm nghiên cứu
Chính vì giới bạn về khách thể nghiên cứu như đã nói ở phần 6.1 và 6.2, người nghiên cứu phải thu thập mẫu ở nhiều nơi, nhất là các bệnh viện, các phòng khám tâm lý, tâm thần nhi, tại TP.HCM
7 Phương pháp và công cụ nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp thống kê được sử dụng để phân tích số liệu định lượng
7.2 Công cụ nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các bảng hỏi sau:
Bảng hỏi 1 = Bảng rối loạn cơ thể hóa ở trẻ em (CSI - Children’s Somatization
Inventory, viết tắt tiếng Anh là CSI)
Bảng hỏi 2 = Bảng mô hình bệnh lý của gia đình (Family model of illness, viết tắt tiếng Anh là FMI)
Bảng hỏi 3 = Bảng củng cố hành vi bệnh (Reinforcement of illness behavior, viết tắt tiếng Anh là RIB)
Bảng hỏi 4 = Bảng hỏi về những sự kiện xảy ra trong cuộc sống của VTN
(Adolescents Life Event Questionnaire, viết tắt tiếng Anh là ALEQ)
Trang 4Bảng hỏi 5 = Thang đo ngắn về sự kiện cuộc đời (Brief Life Event Checklist, viết tắt tiếng Anh là BLEC)
Bảng hỏi 6 = Bảng hỏi về rối loạn căng thẳng sau sang chấn tâm lý (Post-traumatic Stress Disorder, viết tắt tiếng Anh là PTSD)
Bảng hỏi 7 = Thang đo nhân cách 5 nhân tố (NEO-n)
Bảng hỏi 8 = Bảng về áp lực học tập (Academic Pressure, viết tắt tiếng Anh là AP) Bảng hỏi 9 = Bảng liê ̣t kê hành vi tự thuâ ̣t của VTN (Youth Self-Report, viết tắt tiếng Anh là YSR)
Ngoài các bảng hỏi trên, chúng tôi còn vài thông tin cá nhân như:
- Đối với khách thể: họ tên, giới tính, năm sinh, học lớp, nơi ở, trẻ đang sống với ai
- Đối với cha mẹ hoặc người chăm sóc khác của khách thể: năm sinh, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân của bố mẹ
8 Thời gian và địa điểm
8.1 Thời gian: 6 tháng (từ tháng 06 đến tháng 12/2011) 8.2 Địa điểm:
- Thành phố Hồ Chí Minh: Bệnh viện Nhi Đồng 1, Bệnh viện Nhi Đồng
2, Bệnh viện tâm thần
- Hà Nội: Bệnh viện Bạch Mai
9 Đóng góp mới của luận văn
9.1 Đóng góp về mặt lý luận
Theo 4 giải thuyết nghiên cứu trên, nếu kết quả nghiên cứu tìm thấy yếu tố nguy cơ nào trong số đó dẫn tới rối loạn dạng cơ thể thường thấy ở vị thành niên, thì đây là một đóng góp mới cho ngành tâm lý lâm sàng tại Việt Nam nói chung, và có thể là một trong những đóng góp về mặt lý luận cho những người có nhu cầu nghiên cứu rối loạn dạng cơ thể sau này
Trang 5Phần một - Mở đầu
Phần hai – Nội dung nghiên cứu
Chương 1 – Cơ sở lý luận Chương 2 – Cơ sở thực tiễn Phần ba – Kết luận và Kiến nghị
Phần hai NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu về rối loạn dạng cơ thể (RLDCT)
Trường hợp điều trị hysteria đầu tiên là của Freud vào năm 1880 với case “hysteria” nổi tiếng Anna O Freud được nhắc đến như người đầu tiên điều trị ra bệnh lý Hysteria, mà ngày nay gọi là Rối loạn chuyển dạng, nằm trong Rối loạn dạng cơ thể Ông nhận thấy có những trải nghiệm đau thương trong quá khứ đối với những bệnh nhân này, điều này được ghi nhận ở những người nghiên cứu sau Freud Tuy nhiên, nguyên nhân về sự dồn nén tình dục không được các nhà tâm lý sau này đồng ý
Trong nghiên cứu “Somatization in Pediatric Primary Care” của TS.John V.Campo, Linda Jansen-MC Williams và TS.Kelly J Kenleher có mô tả về những cá nhân than phiền về những triệu chứng y khoa có thật nhưng không giải thích được từ các xét nghiệm, như đau đầu, đau bụng, đau tay chân, mệt mỏi, các triệu chứng tiêu hóa là rất phổ biến (Alfven, 1993; Eminson và cộng sự, 1996; Garber và cộng sự, 1991; Offord và cộng sự, 1987; Oster, 1972) [14;1093] Những triệu chứng này tăng từ khoảng giữa tuổi thơ bước sang tuổi vị thành niên (Offord và cộng sự, 1987)
Một bài viết khác nói về nguy cơ tự tử của bệnh nhân có RLDCT mà nguyên nhân là
do yếu tố trầm cảm gây nên [20] Những nhà nghiên cứu cho rằng nỗ lực tự sát dường như là một sự kiện thường xuyên trong bệnh nhân mắc chứng RLDCT (Morrison Herbstein, 1988; Purtell, Robins, Cohen, 1951; Woodruff, Clayton và Guze, 1972), tuy nhiên, những bệnh nhân này có RLDCT do nguyên nhân trầm cảm gây ra
Dữ liệu từ một đơn vị Nghiên cứu dịch tễ học tương lai của thanh thiếu niên tại Munich, Đức, với cách thức theo dõi khách thể trung bình 42 tháng, khách thể là những người
có rối loạn tâm lý sau chấn thương, vấn đề xã hội, lạm dụng tình dục, lạm dụng chất, rối loạn
ăn uống, đã cho kết quả là có 48% trong số đó có rối loạn dạng cơ thể, tập trung nhiều ở nữ
Trang 6giới Những tác giả này còn đưa ra nhận xét, đối với những phụ nữ có trải nghiệm lạm dụng chất, rối loạn lo âu, thì đây là yếu tố cho sự khởi đầu của RLDCT [20]
Nói riêng về những nghiên cứu về Rối loạn dạng cơ thể ở trẻ em và VNT, TS.Mary Lynn Dell có nói về thuật ngữ được dùng trong y tế cho RLDCT là mus-somatoform – các triệu chứng cơ thể không rõ nguyên nhân, và triệu chứng này được than phiền rất phổ biến trong cộng đồng và trong bệnh nhân đến khám, trong đó, thanh thiếu niên chiếm 15% [19;44] Những triệu chứng được đề cập ở đây là nhức đầu, đau nửa đầu, đau bụng, nôn ói, mệt mỏi, đau ngực, đau lưng [19;15-59]
Trong kết quả nghiên cứu “Hội chứng RLDCT ở trẻ em và VTN” của Roselind Lieb, Hildegard Poster và cộng sự cho thấy, các trẻ VNT nữ gặp RLDCT nhiều hơn trẻ VNT nam với giả thuyết là do độ nhạy cảm của giới nữ với sự thay đổi về cơ thể [21;27-52] Tuy nhiên, bài viết chưa cung cấp lý do rõ ràng cho giả thuyết này
1.1.2 Những nghiên cứu về nguyên nhân của Rối loạn dạng cơ thể
Khảo sát cộng đồng về hành vi rối loạn cơ thể hóa trong một dân số nhập cư ở Israel, các tác giả này đã tìm thấy mối liên hệ của RLDCT với triệu chứng đau khổ tâm lý và hành vi tìm kiếm sự trợ giúp được chăm sóc sức khỏe tinh thần Kết quả cho thấy, có 21.9% người có rối loạn cơ thể hóa với các triệu chứng được than phiền nhiều hơn cả là đau tim hoặc đau ngực, cảm giác yếu trong cơ thể, buồn nôn Từ đó, các tác giả này kết luận rằng, rối loạn cơ thể hóa là một vấn đề giữa các cá nhân trong quá trình chuyển đổi giữa các nền văn hóa, và có mối liên hệ với đau khổ tâm lý, với yếu tố nhân khẩu học như giới tính, tuổi tác, tình trạng hôn nhân, thời gian nhập cư [25;385-392]
Khi nghiên cứu về RLDCT VTN, TS Larry L Mullins, TS Roberta A Olson, TS John M.Chaney đã có cái nhìn về phương pháp hệ thống (gia đình) trong việc điều trị các RLDCT cho trẻ em và VTN Nghiên cứu này cho thấy, trong lý thuyết và thực hành lâm sàng, yếu tố gia đình thường bị bỏ qua hoặc không được nhấn mạnh, nhưng thực tế, yếu tố gia đình ảnh hưởng nhiều đến vấn đề bệnh lý của VTN [15;201-212]
Một nghiên cứu khác nói về môi trường gia đình có ảnh hưởng đến RLDCT của VTN,
đó là nghiên cứu của Lisa Terre và William Ghiselli Nghiên cứu này cho thấy gia đình đóng vai trò đáng kể trong rối loạn cơ thể hóa trên 933 trẻ em và VTN [18]
Donald K.Routh của Đại học Lowa đã nghiên cứu nguyên nhân của RLDCT với 20 trẻ
em và thanh thiếu niên bị đau bụng không rõ nguyên nhân (KRNN) và 20 trẻ khác có cơn đau bụng có nguyên nhân Kết quả cho thấy các phụ huynh của các em này có tiền sử đau bụng
Trang 7KRNN, nghiện rượu, rối loạn chống đối xã hội hay rối loạn hành vi, rối loạn kém tập trung hoặc rối loạn cơ thể hóa, trong đó các bà mẹ lại có tỉ lệ nhiều hơn các ông bố Nghiên cứu này còn khẳng định là thêm bằng chứng cho sự tồn tại của tiền chất rối loạn cơ thể hóa trong thời thơ ấu của VTN [12]
Nghiên cứu của Linda K.Reynolds và cộng sự về những than phiền stress và RLDCT trong thanh thiếu niên đô thị có thu nhập thấp, nghiên cứu này cho thấy có sự liên quan giữa stress với những phàn nàn về cơ thể Kết quả chỉ ra rằng, cả nam lẫn nữ đều có rối loạn cơ thể hóa với những triệu chứng như đau bụng, đau đầu, tỉ lệ nữ nhiều hơn nam [17]
Năm 2007, Tiến sỹ Oliver Oyama, Catherine Paltoo và Greengold Julian, Đại học South Florida, Clearwater, Florida [23] khi nghiên cứu về Rối loạn dạng cơ thể, các tác giả này có viết: Giới hạn dữ liệu dịch tễ học cho thấy mối liên hệ gia đình có ảnh hưởng đến, và
lý do thêm nữa là các rối loạn sức khỏe tâm thần khác, chẳng hạn như rối loạn khí sắc, rối
loạn lo âu, rối loạn nhân cách, rối loạn ăn uống
Bác sỹ tâm thần William R Yates, Đại học Oklahoma Đại học Y khoa tại Tulsa [25] nhận thấy di truyền và ảnh hưởng đến môi trường xuất hiện có thể coi là yếu tố góp phần Trẻ
em lớn lên ở trong gia đình có cha mẹ đã từng bị rối loạn dạng cơ thể có nguy cơ cao cho việc phát bệnh này về sau Lạm dụng tình dục có thể được kết hợp với tăng nguy cơ bị rối loạn dạng cơ thể sau này trong đời Nghèo khả năng diễn đạt cảm xúc có thể dẫn đến rối loạn dạng
cơ thể Lạm dụng rượu và ma túy thường gặp ở bệnh nhân rối loạn dạng cơ thể Bệnh nhân có thể cố gắng để điều trị triệu chứng đau của họ với rượu hoặc các thuốc khác Rối loạn lo âu và rối loạn tâm trạng thường bao gồm các triệu chứng thể chất
Nghiên cứu của Dale L Johnson [11] cũng có bàn luận về nguyên nhân dẫn tới Rối loạn dạng cơ thể Tác giả đã tìm thấy một thành phần là do di truyền Ngoài ra, triệu chứng xuất hiện có liên quan tới đặc tính như chống đối xã hội là nói dối, phá hoại, trộm cắp, và vô trách nhiệm Bệnh nhân là nhân chứng chấn thương hoặc chấn thương tâm lý
Bác sỹ nhi Scott Stuart, Russell Noyes trong nghiên cứu về “Gắn bó và giao tiếp trong Rối loạn chuyển dạng” [7] đã xem xét các nghiên cứu về thời thơ ấu và những đóng góp cá nhân cho rối loạn dạng cơ thể, cũng như nghiên cứu về ảnh hưởng xã hội trong quá trình trưởng thành
Ngoài ra, tiếp xúc chấn thương, chẳng hạn như lạm dụng thể chất hay tình dục, có thể cũng sẵn xử lý người để đáp ứng với stress Triệu chứng của bệnh nhân cũng có thể là biểu hiện của rối loạn chức năng gia đình
Các tác giả này còn đưa ra những nguyên nhân có thể dẫn tới rối loạn dạng cơ thể ở tuổi vị thành niên như sau: Bệnh tật thời ấu thơ, cha mẹ bảo bọc có thể củng cố thêm hành vi
Trang 8của bệnh tật trong thời ấu thơ mà khi lớn lên sẽ thành kém thích nghi, thiếu sự chăm sóc đủ của cha mẹ hoặc bị bạo hành gia đình, học tập theo mô hình đau ốm của cha mẹ, chấn thương thời thơ ấu, đặc điểm nhân cách cũng là một lý do có thể dẫn tới rối loạn dạng cơ thể, như nhân cách kịch tính, sự ảnh hưởng của môi trường gia đình
Tại Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu về Rối loạn dạng cơ thể được công bố chính thức Bác sỹ Ngô Tích Linh [3] đưa ra các bệnh lý thường gặp về mặt tâm thể như Tiêu hoá (loét tá tràng, viêm đại tràng kích thích), Hệ tuần hoàn (cao huyết áp, nhồi máu cơ tim), Da liễu (chàm sơ sinh, vẩy nến, lupus ban đỏ Ông có nói về những nguyên nhân sâu xa dẫn đến như đặc điểm nhân cách của bệnh nhân, yếu tố di truyền, những sang chấn, yếu tố gây khó khăn tâm lý
GS.TS.Bahr Weiss và cộng sự nói về hiện tượng hysteria tập thể Kết quả nghiên cứu cho thấy, các em có triệu chứng cơ thể thường có vấn đề nhân cách và liên quan đến củng cố
từ cha mẹ, bạn bè [2]
Cử nhân Nguyễn Thị Diệu Anh nghiên cứu về RLDCT và ghi nhận những yếu tố nguy
cơ được tìm thấy là những sự cố, sang chấn trước đây như rối loạn mối quan hệ mẹ con trong những năm đầu đời, những lo lắng, ám ảnh về sự chia ly, xa cách, bị lạm dụng tình dục, bạo hành
1.2 Một số vấn đề lý luận về Rối loạn dạng cơ thể tuổi vị thành niên
1.2.1 Rối loạn dạng cơ thể
c Nguyên nhân của các triệu chứng của rối loạn dạng cơ thể:
(1) Mô hình hoá từ bố mẹ (2) Mang chức năng của cơ chế phòng vệ [7;152]
(3) Có nguồn gốc từ vô thức [7;152]
Trang 9(4) Sự tham gia của yếu tố stress [7;157]
1.2.2 Tuổi vị thành niên
Ở Việt Nam vị thành niên là lứa tuổi từ 10 đến 19 tuổi Về mặt luật pháp vị thành niên
là dưới 18 tuổi
b Những vấn đề của tuổi vị thành niên:
b1 Đặc điểm tâm – sinh lý tuổi VTN:
(a) Đặc điểm sinh lý:
- Đặc điểm về hoạt động: trong giai đoạn dậy thì, trẻ VTN phát triển thể chất tốt nên có nhiều sức lực cơ bắp, nhiều năng lượng, góp phần làm tăng nhu cầu hoạt động của các em
- Đặc điểm về tính dục: được chia thành 3 giai đoạn tính dục là: ái kỷ, tính dục đồng giới, tính dục khác giới
(b) Đặc điểm tâm lý:
b1 Sự hình thành và phát triển bản sắc riêng: thể hiện ở nhu cầu được ghi nhận, nhu
cầu thể hiện bản thân
b3 Khủng hoảng bản sắc của tuổi vị thành niên:
Loại khủng hoảng này xảy ra cuối tuổi thanh thiếu niên Đây là một sự kiện bình thường trong sự phát triển nhân cách của vị thành niên, mà nếu không vượt qua được giai đoạn này sẽ là điều bất thường và bất lợi cho vị thành niên trong sự phát triển bản sắc và nhân cách về sau Không có bản sắc, hoặc bản sắc không rõ ràng thường biểu hiện bằng các hành vi như bỏ nhà đi, lo lắng, trầm cảm, bất bình, các hành vi gây hấn
1.2.3 Một số khái niệm khác có liên quan:
a Trầm cảm: mô ̣t bê ̣nh lý của não bô ̣ , thuô ̣c rối loa ̣n khí sắc ảnh hưởng
đến suy nghĩ, cảm xúc, thái độ cư xử và sức khỏe của bệnh nhân [4]
Trang 10b Căng thẳng (stress): là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ
thể trước những tình huống căng [35] Stress trở thành bệnh lý khi tình thuống stress xuất hiện bất ngờ và quá mạnh hoặc không mạnh nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần, vượt quá khả năng chịu đựng của đối tượng gây ra các rối loạn cơ thể, tâm thần và rối loạn
ứng xử
c Rối loạn stress sau sang chấn: là một rối loạn tâm lý, biểu hiện bằng
các triệu chứng lo âu rõ rệt sau khi phải đương đầu với sự kiện gây tổn thương và vẫn tiếp tục kéo dài sau đó khi sự kiện đã kết thúc từ lâu [36]
d Nhân cách: là một tập hợp những nét tâm lý riêng biệt của từng cá nhân Từ những nét tâm lý đă ̣c thù đó , ta có thể đoán được cảm xúc , thái độ, hành vi của họ bất kể điều kiện về thời điểm cũng như bối cảnh [4]
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.1 Công cụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những công trình nghiên cứu trước đây
- Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, xác định các khái niệm và những vấn đề liên quan
- Sử dụng những thang đánh giá đã được thích nghi và sử dụng trong một số nghiên cứu trong chương trình “Phát triển khoa học Tâm lý lâm sàng của Việt Nam” bởi GS.TS Bahr Weiss và các cộng sự
2.2 Quy trình thu thập dữ liệu
2.2.1 Giai đoạn 1 - Giai đoạn nghiên cứu lý luận Thời gian: 2 tháng (06 và
Trang 11Trong nhóm nghiên cứu, nữ chiếm 63.5% Kết quả này tương đối phù hợp với những nghiên cứu trước về tỉ lệ nam và nữ, và hầu như nghiên cứu nào cũng cho thấy nữ chiếm tỉ lệ nhiều hơn nam
2.3.2 Phân bố nơi ở của khách thể:
Đông Nam Bộ, Miền Trung – Tây Nguyên, Miền Bắc, trong đó, tỉ lệ ở TP.HCM chiếm cao nhất, hơn 30%
2.3.3 Độ tuổi của khách thể
Số tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là 17, chiếm gần 50%, và độ tuổi từ 15, 16 và 17 chiếm tỉ lệ cao, gần 93% tổng khách thể Độ tuổi ít nhất là 10, 11 và 18, tỉ lệ tương đương nhau, là 0.9% Cho nên, so sánh đặc điểm tâm lý với giai đoạn đầu hoặc giai đoạn cuối, thì giai đoạn giữa này có rất nhiều những điều làm các em hoang mang, tìm kiếm về chính mình Phải chăng, chính vì điều này khiến trẻ VTN giai đoạn này có nhiều vấn đề tâm lý, mà cụ thể ở đây là RLDCT hơn những giai đoạn khác
2.3.4 Tình trạng hôn nhân của bố mẹ:
Trang 12Ta thấy, trong nhóm nghiên cứu có 7.7% cha mẹ ly hôn, 1.9% cha mẹ đang ly thân, 3.8% vì một lý do nào đó mà cha mẹ không ở chung, tổng các con số lại là 13.4% cha mẹ không ở cùng nhau, và 73.1% là cha mẹ vẫn ở chung nhà với nhau Như vậy, hiện trạng cha mẹ ở cùng nhau của nhóm nghiên cứu vẫn chiếm đa số
2.3.5 Nghề nghiệp của bố mẹ:
Trong những số liệu thu thập được, có thể nói nghề nghiệp của bố mẹ rất đa dạng Đối với nghề nghiệp của bố, thì nổi trội là nghề làm nông, chiếm hơn 22%, còn đối với mẹ thì làm nội trợ chiếm tỉ lệ cao hơn cả, gần 24%
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Hiện trạng RLDCT ở VTN thông qua 2 bảng hỏi CSI và YSR-C/K
Bảng 1: Các triệu chứng cơ thể thường gặp ở VNT qua thang đo SCI:
Các triệu chứng cơ thể Điểm trung bình
Nhóm nghiên cứu
Điểm trung bình Nhóm đối chứng Thần kinh:
Nhức đầu
Xỉu hoặc chóng mặt
2.13 1.37
1.38 0.37
0.54 0.46 0.3
0.66 0.16 0.28 1.23 0.08
Trang 13Nôn ói
Cảm giác bụng chướng
Thức ăn khiến buồn nôn
0.92 0.92 0.96
0.2 0.52 0.21
Cảm giác đau:
Cảm thấy giảm sinh lực, chậm
Đau lưng
Cảm giác tê hoặc như kiến bò
Yếu phần nào đó trong cơ thể
Đau ở gối, khuỷu tay, các khớp
Đau tay hoặc chân
1.77 1.80 1.25 1.84 1.65 1.40
1.05 1.05 0.56 0.68 0.84 0.87 Nhìn vào bảng trên, ta thấy, trong nhóm nghiên cứu, triệu chứng nhức đầu có số trung bình cao hơn cả, là 2.13 Những triệu chứng ít gặp hơn thuộc về triệu chứng tiêu hoá là táo bón, tiêu chảy, khó nuốt, buồn nôn, nôn ói, bụng chướng Thực tế lâm sàng cho thấy, trẻ VTN bị RLDCT thì chủ yếu là tình trạng nhức đầu, đau bụng, ngất xỉu, khó thở
Bảng 2 Các triệu chứng cơ thể thường gặp ở VNT qua thang đo YSR:
Các triệu chứng cơ thể Điểm trung bình
Nhóm nghiên cứu
Điểm trung bình Nhóm đối chứng
0.95 0.98 0.68 0.63 0.67 0.43 0.35 0.28 0.21 0.22 Đối với bảng hỏi này, trong nhóm nghiên cứu, ta thấy triệu chứng mệt mỏi KRNN là nhiều nhất, 1.12, triệu chứng choáng váng, chóng mặt và đau nhức trong cơ thể KRNN cao thứ hai, và đau đầu là triệu chứng thấp hơn cả
3.2 Mối liên hệ giữa RLDCT và tình hình sức khỏe (mô hình hóa bệnh lý) của cha mẹ hoặc người chăm sóc khác của VTN: