+ Vũ Thị Thu Hằng Trường Đại học Giáo dục Luận văn ThS ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Sinh học; Mã số: 60 14 10 Người hướng dẫn: PGS.TS.Lê Đình Trung Năm bảo vệ: 2012 A
Trang 11
Xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong dạy học kiến thức mới chương “chuyển hóa vật chất và năng lượng”
sinh học lớp 11,trung học phổ thông
Construction and use of multiple choice questions multiple choice objective in teaching new knowledge program "transformation of matter and energy, grade 11, high school
NXB H : ĐHGD, 2012 Số trang 112 tr +
Vũ Thị Thu Hằng
Trường Đại học Giáo dục Luận văn ThS ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (bộ môn Sinh học);
Mã số: 60 14 10 Người hướng dẫn: PGS.TS.Lê Đình Trung
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Trình bày cơ sở lý luận của việc xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm
khách quan nhiều lựa chọn trong dạy ho ̣c kiến thức mới và da ̣y ho ̣c chương Chuy ển hóa vật chất và năng lượng (Sinh học 11) Trung học phổ thông (THPT) Xác định thực trạng của việc xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học kiến thức mới
ở trường THPT Xây dựng nguyên tắc qui trình xây dựng, và qui trình sử dụng câu hỏi trắc nghiê ̣m khách quan nhiều lựa cho ̣n trong da ̣y ho ̣c kiến thức mới chương C huyển hóa vật chất và năng lượng Sinh học 11 THPT Phân tích nội dung cấu trúc chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng Sinh học 11 – THPT làm cơ sở xây dựng bảng trọng số để xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn vào dạy học kiến thức mới chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng Sinh học 11 THPT Đề xuất được quy trình sử dụng MCQ vào dạy học kiến mới chương chuyển hóa vật chất và năng lượng sinh học 11-THPT Cụ thể hóa quan điểm lý luận vào thiết kế các bài học sử dụ ng câu hỏi trắc nghiê ̣m khách quan làm phương tiện chuyển tải kiến thức mới dạy học chương Chuy ển hóa vật chất và năng lượng Sinh học 11 THPT Thực nghiệm sư phạm để khẳng định hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn trong dạy kiến thức mới để nâng cao chất lượng dạy học
Keywords: Phương pháp dạy học; Câu hỏi trắc nghiệm; Sinh học; Lớp 11
Content
1 Lý do chọn đề tài
1.1.Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh hiện nay
Đất nước ta đang trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhân tố quyết định đến thắng lợi của việc hiện đại hóa đất nước là nguồn nhân lực Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nghành giáo dục đang tiến hành công cuộc cải cách giáo dục đó là đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong Nghị quyết TW4 khóa
VI (1-1993) ,Nghị quyết TW2 khóa VIII (12-1996) được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005)
Trang 22
Trong những năm qua giáo dục đã có nhiều đổi mới xong chưa hiệu quả Một trong những nguyên nhân chính là phương pháp giáo dục còn chưa phù hợp dẫn đến chất lượng đào tạo còn chưa cao ,đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy hết khả năng tự học vốn có của học sinh chuyển từ dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm , trong đó coi trọng việc rèn luyện khả năng tự học tự nghiên cứu ,năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề .Như vậy muốn thực hiện mục tiêu giáo dục thì cần thay đổi phương pháp nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
1.2 Do tiềm năng ưu việt của câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn có thể được áp dụng có hiệu quả vào các khâu của quá trình dạy học Sinh học
Câu hỏi trắc nghiệm khách quan là một phương tiện để chuyền tải nội dung dạy học Bộ câu hỏi TNKQ có thể thực hiện được các mục tiêu hình thành kiến thức mới Khi học sinh muốn trả lời đúng câu hỏi và lí giải đúng phương án trả lời thì cần phải sử dụng kiến thức đã biết và kiến thức SGK để tổng hợp khái quát hóa xác lập phương án đúng Qua đó học sinh có khả năng lập luận để hình thành kiến thức
Sử dụng TNKQ trong khâu hình thành kiến thức mới không phải chỉ dựa vào câu trả lời đúng mới hình thành được kiến thức mà ngay cả trong những câu trả lời sai nếu học sinh lí giải được tại sao sai ,từ cái sai học được cái đúng
Sử dụng TNKQ vào dạy học kiến thức mới đảm bảo thông tin hai chiều giữa người dạy và người học ,làm cơ sở cho việc uốn nắn ,chỉnh sửa những lệch lạc trong nhận thức của học sinh ,là công cụ để kiểm tra khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh
1.3 Do đặc trưng của chương trình Sinh học phổ thông, kiến thức có thể được hình thành qua
lý thuyết và thực nghiệm
Ở nhà trường trung học phổ thông hiện nay sinh học đề cập đến các hiện tượng,quy luật cơ chế di truyền rất phức tạp ở các cấp tổ chức khác nhau Đây là những kiến thức khó vì vậy để học sinh thu nhận được kiến thức một cách chủ động ,tích cực thì phương pháp dạy học cần được đổi mới một cách toàn diện, với những lí do trên đây tôi xin đề ra phương pháp đó là : Sử dụng câu hỏi TNKQ là phương tiện tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh.Phương pháp này được nghiên cứu thực nghiệm trong đề tài : “ Xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong dạy học kiến thức mới chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng sinh học 11 - THPT”
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lược sử tình hình nghiên cứu, sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn MCQ vào dạy học trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình nghiên cứu sử du ̣ng câu hỏi trắc nghiê ̣m khách quan nhiều lựa chọn trên thế giới
Trang 33
Vào thế kỉ 17- 18 khoa học trắc nghiệm đầu tiên được áp dụng ở khoa vật lí tâm lí và sau đó đến động vật học Sang đầu thế kỉ XIX , ở đức và nhiều nước Châu Âu khác đã bắt đầu sử dụng trắc nghiệm trong phòng thí nghiệm sinh học
Quentin Stodola cho rằng nguồn gốc của khoa học đo lường là trắc nghiệm tam lí , giáo dục hiện đại có thể gắn liền với mỗi quan tâm về khoa học vật lý , tâm lý ở cuối thế kỉ XIX
Năm 1897 các trắc nghiệm tâm lý đầu tiên được đưa ra và sử dụng tại Leizig do wichelm weent thiết kế ,các nhà khoa học đã sử dụng thí nghiệm để tiến hành các phép đo về thị giác thính giác , tốc độ phản ứng của cơ thể … Sau đó tiếp tục uáng dụng để nghiên cứu thời gian nhận thức, tốc độ học tập của người học… Cuối thế kỉ XIX Francis Galton đã triển khai các thí nghiệm để
đo các đặc điểm trí tuệ của con người, các thí nghiệm này đã mở ra một hướng đi mới để đi đến các trắc nghiệm về năng lực trí tuệ của cá nhân và sau đó là thí nghiệm theo nhóm
Sang đầu thế kỉ XX, khoa học trắc nghiệm phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới Năm 1904 ALFRED BINET – một nhà tâm lí học người Pháp khi nghiên cứu khảo sát những trẻ
em mắc bệnh tâm thần , không có khả năng tiếp thu trí thức bằng cách dạy thông thường ở trường học , cùng với cộng sự ông đã phát minh ra bài trắc nghiệm về trí thông minh Năm 1910 bài trắc nghiệm của BINET được dịch ra ở Mĩ Năm 1916 Lewis Terman đã dịch và soạn bài trắc nghiệm của BINET ra anh ngữ và từ đó bản trắc nghiệm trí thông minh này được gọi là bản: Stanford Binet Mặc dù không phải là các trắc nghiệm được dùng để đo lường thành quả học tập của học sinh phổ thông nhưng trắc nghiệm của Binet đã mở ra con đương để xây dựng trắc nghiệm theo nhóm dùng trong dạy học Những năm sau đó Thom dike đã dùng TNKQ như một phương pháp
“ khách quan nhanh chóng ” để đo trình độ kiến thức của học sinh Các thí nghiệm theo nhóm mang lại nhiều ưu điểm như : Dễ thực hiện , có tính khách quan ,có độ tin cậy cao nên đã phát triển nhanh chóng ở Mĩ Năm 1940 thì các bộ đề thi TNKQ cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế do quá
đề cao , lạm dụng ,sử dụng phương pháp này một cách quá máy móc nên trắc nghiệm đã thất bại
Vì vậy sau thời gian này đã xuất hiện nhiều ý kiến phản đối việc dùng trắc nghiệm trong nhà trường Ở Liên Xô mãi đến năm 1960 mới cho phép phục hồi việc dùng trắc nghiệm khách quan
để kiểm tra kiến thức của học sinh
Vào năm 1964 ,cùng với sự phát triển của công nghệ tin học , Ghecberic và nhiều tác giả khác đã sử dụng máy vi tính để cài đặt chương trình sử lí kết quả chấm điểm , để chỉ ra giá trị của các bài trắc nghiệm và phiếu tự đánh giá thành quả học tập của nó trong dạy học
Ngày nay phương pháp trắc nghiệm khách quan đã trải qua hàng loạt các thí nghiệm trong nhiều lĩnh vực thuộc các đối tượng khác nhau đã khẳng định tính khoa học và vị thế của nó có thể nói việc kiểm tra trong thi cử ở hầu hết các trường hợp các châu lục phần lớn áp dụng phương pháp TNKQ Sau này , với sự phát triển mạnh của công nghệ thông tin ,nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới đã cải tiến việc thực hiện phương pháp TNKQ ở các khâu như : Cài đặt các
Trang 44
chương trình chấm điểm ,xử lí và phân tích kết quả bằng máy tính khiến cho phương pháp trắc nghiệm thực sự trở thành công cụ hữu ích , nhất là đối với chương trình tự học, tự đào tạo
1.1.2.Tình hình nghiên cứu sử du ̣ng câu hỏi trắc nghiê ̣m khách quan nhi ều lựa chọn ở Viê ̣t Nam
Từ những năm 50 của thế kỉ XX , ở miền nam phương pháp trắc nghiệm khách quan được sử dụng sớm hơn so với miền Bắc và đã áp dụng rộng rãi trong các trường học Lần đầu tiên sử dụng trắc nghiệm khách quan thông qua các cuộc khảo sát khả năng ngoại ngữ do các tổ chức quốc tế tài trợ , sau đó phương pháp này được sử dụng phổ biến trong kiểm tra và thi ở bậc trung học , trong dó sinh học là môn được áp dụng đầu tiên
Năm 1963 , Nguyễn Quang Nghĩa xây dựng bộ “ trắc nghiệm vạn vật lớp 12” Năm 1964 Phùng Văn Hướng biên soạn cuốn “ Phương pháp học và thi trắc nghiệm vạn vật lớp 12” Cuối năm 1969 , giáo sư Dương Thiệu Tống đã đưa môn trắc nghiệm và thống kê giáo dục vào giảng dạy ở các lớp cao học và tiến sĩ tại trường Đại học Sài Gòn Từ năm 1970 đã có những công tình vận dụng tắc nghiệm khách quan trong kiểm tra kiến thức học sinh
Ở miền Bắc GS Trần Bá Hoành công bố vào năm 1971 với tác phẩm “ Dùng phương pháp test dể kiểm ta nhận thức học sinh về một số khái niệm trong chương trình sinh học đại cương lớp 9” Sau năm 1975 , một số trường tiểu học và trung học vẫn áp dụng thi trắc nghiệm MCQ trong các bộ môn khoa học tự nhiên
Năm 1986 , tại khoa Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp thuộc trường Đại học sư phạm Hà Nội đã
tổ chức hội thảo tập huấn với nội dung “ Phương pháp xây dựng hệ thống câu hỏi lựa chọn đa phương án ” do tiến sĩ P.Herath trình bày và hướng dẫn trong trương trình tài trợ của UNPD Sau hội thảo này có nhiều giảng viên triển khai xây dựng và áp dụng trắc nghiệm vào KTDG như : Lê Đình Trung ( 1988) “ Nghiên cứu quy trình và những kết quả bước đầu xây dựng câu hỏi dạng MCQ về một số nội dung kiến thức sinh học ở trường Đại học sư phạm” : Lê Đình Trung và Nguyễn Thị Kim Giang (1998) “ Xây dựng câu hỏi dạng MCQ về nội dung vật chất di tuyền và biến đổi vật chất di tuyền trong trương trình di truyền học ở Đại học sư phạm ”
Từ năm 1990 , trắc nghiệm lượng giá mới thực sự được quan tâm và ứng dụng ở nhiều cấp học Từ sau năm 1990 , với sự giúp đỡ của đề án “ Hỗ trợ hệ thống đào tạo chương trình hợp tác Việt Nam – Thụy Điển” (03/SIDA) Bộ y tế đã mở những lớp tập huấn về kĩ thuật xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho toàn bộ giang viên trường y tế Kết quả đã xây dựng được một
bộ công cụ đáng giá bằng hệ thống câu hỏi test chuyên khoa
Năm 1991- 1995 , Giáo sư Trần Bá Hoành soạn thảo , đưa chính thức bộ câu hỏi trắc nghiệm
Di truyền học và tiến hóa vào SgK lớp 12 chương trình chuyên ban KHTN
Năm 1994 ,Bộ giáo dục và đào tạo phối hợp với viện công nghệ Hoàng Gia Melbourne của Autralia tổ chức các cuộc hội thảo với chủ đề về “Kỹ thuật xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan” tại Thành phố Hồ Chí Minh – Huế - Hà Nội Hội thảo đã trang bị cho giảng viên các tường đại học và Cao đẳng các cơ sở lí luận về trắc nghiệm khách quan Năm 1994-1995 với sự tài trợ
Trang 55
của liên hợp quốc , Đại học tổng hợp Hà Nội mở những lớp dai hạn bồi dưỡng về phương pháp xây dựng câu hỏi test và việc sử dụng nó vào dạy học
Từ năm 1995 đến nay đứng đầu là GS.TS Đặng Ứng Vận đã triển khai xây dựng hệ thống câu hỏi MCQ dùng cho việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên thuộc đại học đại cương Trung tâm
đã thử nghiệm cài đặt hệ thống câu hỏi vào chương trình cua máy tính , sinh viên sử dụng máy vi tính để làm bài Máy chấm điểm và cho kết quả ngay khi làm bài xong Cũng vào những năm này PGS TS Lê Đình Trung với nghiên cứu về sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan MCQ để kiểm ta hiệu quả cua phương pháp giảng dạy tích cực ở phổ thông bằng “ bài toán nhận thức” đã khẳng định kết quả cua trắc nghiệm khách quan trong đánh giá kết quả học tập
Từ năm 2000 đến nay PGS TS Lê Đình Trung và TS Trịnh Nguyên Giao đã chủ biên nhiều cuốn sách dùng cho ôn thi học sinh giỏi , ôn thi tốt nghiệp THPT ,Cao đẳng ,Đại học
….theo hướng TNKQ như : “1111 câu hỏi trắc nghiệm sinh học”, tuyển tập sinh học 1000 câu hỏi
và bài tập ” , “chuyên đề luyện thi đại học”
1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.2.1.Các khái niệm ,phân loại câu hỏi
1.2.1.1 Khái niệm về câu hỏi
Câu hỏi là dạng cấu trúc ngôn ngữ ,diễn đạt một nhu cầu ,một đòi hỏi ,hay một mệnh lệnh cần được giải quyết
Mỗi câu hỏi chứa đựng cả hai yếu tố ,sự có mặt của cái chưa biết cần được giải quyết và điều đã biết liên quan đến điều cần tìm
Trong thực tế đời sống cũng như trong nghiên cứu khoa học ,con người chỉ nêu ra thắc mắc ,tranh luận khi đã biết nhưng chưa đầy đủ , cần biết thêm Sự tương quan giữa cái đã biết và cái chưa biết thúc đẩy việc mở rộng hiểu biết của con người tạo ra các mâu thuẫn cần phải tìm tòi
1.2.1.2 Phân loại câu hỏi
* Dựa vào nhận thức của HS :
* Dựa vào các khâu của quá trình dạy học :
* Dựa vào mức độ tích cực :
*Dựa vào hình thức câu hỏi
1.2.1.3 Khái niệm về câu hỏi trắc nghiệm khách quan
- Trắc nghiệm “test” trong tiếng anh là “thử” hay “phép thử” “sát hạch” : Trong tiếng Hán trắc
nghĩa là “đo lường” , nghiệm là “suy xét” “chứng thực” Theo Trần Bá Hoành trắc nghiệm trong giáo dục là một phương pháp đo để thăm dò một số đặc điểm năng lực ,trí tuệ của HS ( chú ý ,tưởng tượng ,ghi nhớ ,thông minh ,năng khiếu …) hoặc để kiểm tra đánh giá một số kiến thức , kĩ năng ,kĩ xảo ,thái độ của học sinh
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ tập chung nghiên cứu câu hỏi TNKQ
Trang 66
Theo giáo sư Trần Bá Hoành và một số tác giả khác trắc nghiệm được coi là khách quan vì chúng đảm bảo tính khách quan khi chấm điểm chứ không chủ quan như bài trắc nghiệm tự luận Có thể coi kết quả trắc nghiệm là như nhau không phụ thuộc vào người chấm TNKQ có bốn loại chủ yếu ,mỗi hình thức có ưu khuyết điểm của nó
Câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn là dạng câu hỏi có nhiều phương án trả lời để lựa chọn , thí sinh chỉ việc lựa chọn một trong số các phương án đó số phương án càng nhiều thì khả năng
“may rủi” càng ít Hiện nay thường dùng 4- 5 phương án Câu hỏi dạng này có hai phần :Phần gốc ( còn gọi là phần dẫn) và phần lựa chọn Phần gốc là câu hỏi hay câu bỏ lửng (chưa hoàn tất ) phải đặt ra vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho thí sinh hiểu rõ câu hỏi trắc nghiệm
để chon câu trả lời thích hợp Phần lựa chòn gồm nhiều cách giải đáp trong đó có một phương án đúng nhất , những phương án còn lại là “ mồi nhử ” hay “câu nhiễu” Điều quan trọng là làm sao cho các “câu nhiễu” hấp dẫn như nhau đối với HS chưa nắm rõ vấn đề Theo Vũ Đình Luận [ 13] trong một bài trắc nghiệm cần sắp xếp mỗi phương án đúng trong các câu MCQ 5 phương án lựa chọn của bài xấp xỉ 20% ,trường hợp thí sinh chỉ chọn một phương án cố định thì khi tính điểm hiệu chỉnh sẽ có điểm 0 theo công thức sau
Điểm số = Số câu trả lời đúng – Số câu trả lời sai / (số phương án – 1)
Trong giới hạn nghiên cứu của sử dụng các câu hỏi MCQ với 4 phương án lựa chọn ,vì vậy mỗi phương án của bài trắc nghiệm nên xấp xỉ 25%
1.2.2.Quan hệ giữa câu hỏi tự luận và câu hỏi trắc nghiệm
Theo chúng tôi mối quan hệ giữa câu hỏi tự luận và câu hỏi TNKQ : Mối quan hệ giữa câu hỏi tự luận dạng khái quát tổng hợp thực chất là tập hợp của nhiều câu hỏi – trả lời ngắn Câu hỏi – trả lời ngắn tương đương với câu dẫn của câu MCQ nhưng khác phần hỏi , còn câu trả lời đúng là phương án chọn ,các câu nhiễ là câu trả lời chưa chính xác hoặc sai Do đó ,ta có thể viết câu hỏi TNKQ bằng cách lấy chính câu hỏi trả lời ngắn đó sửa chữa thành những câu dẫn , các câu trả lời chưa thật chính xác của học sinh Như vậy thực chất của việc phân tích tri thức cũng có liên quan với logic này , từ một tri thức khó mang tính bao quát có thể là khó với người đọc ,người giáo viên biết chia nhỏ thành những tri thức nhỏ hơn , thì độ khó đã được giảm đáng kể , cuối cùng là những tri thức không thể chia được nữa mà có tác giả gọi là đơn vị tri thức , chính là vận dụng phương pháp ơrixtic ( Heuristic) trong thực nghiệm và chia nhỏ câu hỏi Trong thực nghiệm người ta chia thực nghiệm thành nhiều bước , mỗi bước chỉ đưa ra một mục tiêu thực nghiệm làm cho thực nghiệm ban đầu trở nên ít mục tiêu hơn Phát hiện thêm các điều kiện bổ sung cho mỗi bước thực nghiệm làm cho công việc trở nên sáng tỏ ít mò mẫm Mà “ trắc nghiệm là một phương pháp bán thực nghiệm ” ( Vũ Cao Đàm , phương pháp luận nghiên cứu khoa học ) [3] Nxb khoa học kỹ thuật ,Hà Nội ,1993 ,tr93)
Như vậy : 1 câu hỏi tự luận = n(câu trả lời ngắn ) = m( câu hỏi MCQ)
Trang 77
Chính từ mối quan hệ này , trong quá trình dạy học ,giáo viên biết sử dụng kết hợp câu hỏi tự luận và câu hỏi TNKQ để tích cực hóa hoạt động nhận thức cho học sinh Câu hỏi tự luận ,thí sinh có thể trả lời
tự do theo ý mình (câu hỏi mở : open ended questions) song nếu trong điều kiện tự học một mình thì mỗi người học thường chỉ có một vài phương án trả lời do suy nghĩ chủ quan, người viết câu hỏi TNKQ dạng MCQ nếu viết được nhiều lựa chọn hay ( tuy chỉ là câu hỏi đúng : closed questions ), thì khả năng gợi mở cho người tự học nhiều hướng trả lời khác ngoài suy nghĩ riêng của mình do đó khả năng hiểu vấn đề trở nên thấu đáo hơn người học có thể tự đặt câu hỏi cho mình là một biến thể khác của câu hỏi
tự luận của GV về chủ đề đang học Chính vì lẽ đó việc kết hợp câu hỏi tự luận với câu hỏi trắc nghiệm
có lợi thế trong tự học có hướng dẫn hay không có hướng dẫn
Trước đây trong dạy học người ta thường dùng loại câu hỏi trắc nghiệm tự luận hay còn gọi là câu hỏi mở Trong nghiên cứu của mình , chúng tôi sử dụng câu hỏi TNKQ hay còn gọi là câu hỏi đóng dạng MCQ trong mọi khâu của quá trình dạy học : hình thành tri thức mới ,hoàn thiện tri thức mới ( củng cố ,ôn tập ) và kiểm tra đánh giá Nếu sử dụng hợp lí , thì câu hỏi đóng dạng MCQ còn có khả năng tiết kiệm thời gian trong dạy học ,và còn có khả năng rèn cho người học khả năng suy nghĩ nhiều hướng ,rèn luyện khả năng diễn đạt lý giải phương án chọn mà n hiều người khi sử dụng TNKQ cho rằng nó không có khả năng này ,song phải được sử dụng hợp lý Việc xây dựng được một ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đủ lớn bao phủ nội dung một giáo trình , có độ tin cậy cao có ý nghĩa rất lớn trong cải tiến phương pháp dạy học Theo Lê Đức Ngọc [10]: Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cùng với chương trình chi tiết soạn kỹ ,chúng là kiến thức môn học Ngân hàng câu hỏi càng nhiều thì hiệu quả đối với dạy học càng cao
1.2.3.Vai trò của câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong dạy học kiến thức mới
-Vai trò của câu hỏi trắc nghiệm
Trắc nghiệm là phương pháp để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh (HS) như chú ý, tưởng tượng,ghi nhớ , thông minh, năng khiếu….hoặc để kiểm tra ,đánh giá một số kiến thức ,kĩ năng , kĩ xảo,thái độ của HS
TNKQ là một dạng trắc nghiệm trong đó mỗi câu hỏi kèm theo câu trả lời Loại câu hỏi này nhằm cung cấp cho HS một phần hay tất cả thông tin hoặc điền them một vài từ, loại này còn gọi là câu hỏi đóng
+TNKQ là một phương tiện truyền tải nội dung dạy học
+ TNKQ là một phương tiện hữu ích trong việc rèn luyện kĩ năng cho HS
+ TNKQ phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, rèn luyện năng lực tự học tự nghiên cứu cho HS
1.2.4 Tiêu chuẩn của câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để dạy học kiến thức mới
1.2.4.1 Các tiêu chuẩn của câu hỏi MCQ để dạy học kiến thức mới
* Tiêu chuẩn định lượng của mỗi câu hỏi MCQ :
+ Phải chọn các câu hỏi khó : Độ khó trong khoảng 25% đến 75% ,độ khó trung bình với bốn phương án chọn là 62,5% , độ phân biệt từ 0,2 trở lên
Trang 88
+ Mỗi câu hỏi phải có độ nhiễu thích hợp để đảm bảo độ khó và độ phân biệt Tiêu chuẩn cho các câu hỏi nhiễu tối thiểu có 3% đến 5% tổng số thí sinh phải chọn một trong các câu nhiễu của câu trắc nghiệm mà đối với họ tỏ ra là có vẻ là hợp lí, số lượng này càng sớm càng tốt
* Tiêu chuẩn định tính
1.2.4.2 Tiêu chuẩn của một bài trắc nghiệm MCQ dùng để kiểm tra kết quả học tập của học sinh
sau khi sử dụng MCQ dạy học kiến thức mới
* Tiêu chuẩn về nội dung khoa học :
- Tính giá trị : Đo lường và đánh giá được điều cần đo ,cần đánh giá
- Tính khả thi : nghĩa là có thể thực thi trong dạy và học ỏe trường học
- Tính định lượng : Kết quả phải đo lường được , thể hiện bằng các số đo
- Tính lí giải : Phải thích kết quả thu được bằng các nhận định
- Tính công bằng : toàn bộ tháí sinh có cơ hội như nhau để tiếp cân các kiến thức được trắc nghiệm
- Tính kinh tế : triển khai ít tốn kém
- Tính chính xác : các kiến thức được trắc nghiệm phải có tính chính xác và đúng đắn
* Tiêu chuẩn về mặt sƣ phạm
- Tính giáo dục : Bồi dưỡng năng lực trí tuệ cho học sinh ,gây được sự hào hứng trong học tập ,
tăng cường khả năng tự học ,tự nghiên cứu tự kiểm tra đánh giá
- Tính phù hợp : Phải có sự phù hợp về mặt tâm lí , trình độ nhận thức của đối tượng được kiểm tra đánh giá
- Tính đơn giản ,đễ hiểu : Ngôn ngữ thuật ngữ ,khái niệm trình bày phải đảm bảo rõ ràng , minh bạch ,chỉ có một lối hiểu duy nhất đúng
- Tính hệ thống logic : Nội dung các câu hỏi phải nằm trong một hệ thống kiến thức nhất định
- Tính linh hoạt ,mềm dẻo : bài trắc nghiệm có thể được gia công sư phạm để dùng vào các mục đích khác nhau trong quá trình dạy học
Trong một đề trắc nghiệm ,để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau một thời gian học tập theo phương pháp thực nghiệm của đề tài nghiên cứu , thì số các câu hỏi trong đề và các loại tri thức như sau : khoảng 60-70% là kiến thức cơ bản ; khoảng 20-30% là kiến thức tổng hợp ở mức tring bình , khoảng 10% kiến thức ở mức độ nâng cao để phân loại học sinh khá giỏi
1.3 Cơ sở thực tiễn
Điều tra thực trạng về khả năng sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều trong dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức và kiểm tra đánh giá
1.3.1.Thực trạng dạy học môn sinh học ở THPT
1.3.1.1 Thực trạng về sử dụng phương pháp dạy học môn sinh học của GV ở THPT
Để tìm hiểu thực trạng về sử dụng phương pháp dạy môn sinh học của GV ở THPT hiện nay ,chúng tôi đã tiến hành dự giờ ,trao đổi với GV ,tham khảo các giáo án của GV ,Sử dụng phiếu
Trang 99
điều tra đối với GV và HS của trường THPT Nguyễn Khuyến ,các trường ở huyện Vĩnh bảo THPT Vĩnh Bảo ,THPT Cộng hiền trong năm học 2011-2012
Chúng tôi khảo sát ở
-Trường THPT nguyễn Khuyến( 20 GV)
- Trường THPT Vĩnh bảo (20 GV)
- Trường THPT Cộng Hiền ( 20 GV)
Bảng 1.1 Kết quả điều tra thực trạng việc sử dụng các phương pháp dạy học Sinh học của GV THPT
Mức độ sử dụng
Phương
pháp
Sử dụng thường xuyên
Ít sử dụng Không sử dụng
Dùng CH MCQ để dạy học
bài mới
Qua bảng 1.1 cho thấy
- Nhìn chung nhận thức của GV về đổi mới PPDH đã có chuyển biến rõ rệt song khi vận dụng chúng vào thực tế dạy học còn nhiều hạn chế Số GV sử dụng phương pháp thuyết trình thường xuyên giảm hẳn ,nhưng các phương pháp hỏi đáp – thông báo ,tái hiện – không được coi là phương pháp có giá trị sư phạm cao lại được đa số GV sử dùng thường xuyên Rất ít giờ GV dạy hoàn toàn bằng phương pháp dạy học tích cực Đặc biệt là phương pháp dùng MCQ để dạy học kiến thức mới
Các GV đều cho rằng việc đổi mới PPDH là cần thiết khi tham gia giảng dạy chương trình sinh học mới nhưng phần lớn họ lại rất lúng túng trong việc xác định rõ đổi mới bắt đầu từ đâu ,đổi mới theo cách nào Ảnh hưởng của quan niệm “ GV là người hiểu rõ nhất ” làm cho GV có xu
Trang 1010
hướng áp dụng PPDH lấy GV làm trung tâm còn HS thụ động tiếp thu kiến thức nên không thể ngay lập tức thay đổi cách
nghĩ cách làm của GV
1.3.1.2 Thực trạng về việc sử dụng câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn vào dạy học Sinh học của GV
Qua điều tra cho thấy việc sử dụng câu hỏi TNKQ trong quá trình dạy học còn hạn chế Đa số
GV được điều tra đều sử dụng câu hỏi tự luận trang các khâu của quá trình dạy học , đặc biệt
là khâu dạy học kiến thức mới và ôn tập củng cố Câu hỏi TNKQ dạng MCQ chủ yếu được sử dụng và dừng lại ở khâu KT-ĐG Qua điều tra một số GV có thâm niên dạy học ,chúng tôi nhận thấy câu hỏi TNKQ sở dĩ chưa được sử dụng rộng rãi trong quá trình dạy học là do một
số nguyên nhân sau :
- Việc biên soạn câu hỏi TNKQ khó ,đòi hỏi GV phải có nhiều kinh nghiệm ,khả năng và cũng phải bỏ ra tương đối nhiều thời gian và công sức mới có thể viết được những câu hỏi hay ,đúng kĩ thuật và có độ tin cậy cao
- Đối với chương trình sinh học cải cách thì cũng chưa có ngân hàng câu hỏi TNKQ hoàn chỉnh và đúng chuẩn để sử dụng vào các khâu trong quá trình dạy học
- Trong khâu dạy học kiến thức mới thì việc sử dụng câu hỏi TNKQ là rất mới mẻ so với đa
số GV và do đó cũng chưa có quy trình cụ thể để áp dụng phương pháp này
1.3.2 Điều tra thực trạng về việc học môn Sinh học của học sinh ở trường THPT
Để tìm hiểu thực trạng về việc học môn Sinh học của HS ở trường THPT ,tôi đã tiến hành khảo sát bằng nhiều hình thức như trao đổi trực tiếp ,dự giờ ,sử dụng phiếu điều tra đối với 200 HS khối
11 ,12 trường THPT Nguyễn Khuyến ,THPT Vĩnh Bảo ,THPT Cộng Hiền trong năm học
2011-2012 Kết quả điều tra được trình bày ở bảng 1.2
Bảng 1.2: Kết quả điều tra tình hình học tập môn Sinh học của HS
1.3.3 Thực trạng về việc sử dụng câu hỏi TNKQ MCQ trong dạy học kiến thức mới ở trường THPT
Qua thăm dò ở 3 trường THPT ở Huyện Vĩnh Bảo ( THPT Nguyễn Khuyến ,THPT Vĩnh Bảo ,THPT Cộng Hiền ) Chúng tôi nhận thấy giáo viên dạy bài mới vẫn chủ yếu bằng phương pháp thuyết trình ,giải thích minh họa , có ít người sử dụng MCQ để dạy bài mới Đa số GV chỉ sử dụng câu hỏi TNKQ để đánh giá và củng cố bài học ,trong khi đó chủ trương đổi mới phương pháp dạy học là toàn diện từ nội dung ,phương pháp và cách thức KTĐG Vì vậy việc sử dụng câu hỏi trắc nghiệm MCQ trong dạy học kiến thức mới là điều cần được đề cập và nghiên cứu kỹ Cho đến nay vẫn còn ít nghiên cứu đề cập đến việc sử dụng MCQ trong dạy bài mới ở các trường THPT Để giải quyết những mâu thuẫn hiện cố và phát huy tốt PPDH tích cực ,tăng cường tính tư duy và tự học của HS THPT ,chúng tôi đã xây dựng hệ thống MCQ sử dụng vào các mục đích khác nhau trong quá trình dạy học ,đặc biệt là việc sử dụng MCQ để dạy bài mới chương Chuyển