1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch diễn án dân sự 07 ly hôn hoàng thị hảo và nguyễn văn nguyệt

12 53 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 268,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên đơn không đề nghị chia giá trị tài sản trên đất, riêng về quyền sử dụng đất thì nguyên đơn yêu cầu chia ½ quyền sử dụng đất là 108 m2, nguyên đơn đồng ý nhận phần không có tài sản

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

-o0o -BÀI THU HOẠCH DIỄN

ÁN

KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ THAM GIA GIẢI QUYẾT VỤ, VIỆC DÂN SỰ

HỒ SƠ VỤ ÁN HÔN NHÂN GIA ĐÌNH (HỒ SƠ: LS.DS 07/B4.TH4_DA1/HNGĐ)

VAI DIỄN: LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP

CHO BỊ ĐƠN

Họ và tên : Ngày sinh :

Số báo danh : Lớp Luật sư : Ngày diễn án :

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm

MỤC LỤC

Trang 2

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ 2

1 Tóm tắt nội dung vụ án 2

1.1 Tóm tắt nội dung vụ án 2

1.2 Tư cách đương sự 3

1.3 Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn 3

1.4 Chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 4

1.5 Ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 4

1.6 Chứng cứ để chứng minh của bị đơn 4

1.7 Những vấn đề nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận được: 4

2 Kết quả nghiên cứu hồ sơ 5

2.1 Quan hệ pháp luật tranh chấp 5

2.2 Thời hiệu khởi kiện 5

2.3 Thẩm quyền của Tòa án 5

2.4 Văn bản luật áp dụng 6

II.KẾ HOẠCH HỎI CỦA LUẬT SƯ 6

1 Hỏi nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Hảo 6

2 Hỏi bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nguyệt 7

3 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thoa 7

4 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đại diện UBND TP Hải Dương 7

III BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ BỊ ĐƠN 8

Trang 3

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ

1 Tóm tắt nội dung vụ án

1.1 Tóm tắt nội dung vụ án

Nguyên đơn: Hoàng Thị Hảo, sinh năm: 15/11/1978

Địa chỉ: Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Bị đơn: Nguyễn Văn Nguyệt, Sinh năm: 08/01/1976

Địa chỉ: Thôn Thượng Trệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương Ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Hoàng Thị Hảo qua thời gian tìm hiểu nhau và được hai bên gia đình đồng ý đã đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương ngày 26/03/1999, trên cơ sở tự nguyện (BL02)

Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống rất hạnh phúc Nhưng về sau thì giữa hai

vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi cọ, bất đồng quan điểm với nhau Nên hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2014

Trong thời gian chung sống, hai vợ chồng có hai con chung là: cháu Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04/01/2000) và cháu Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13/06/2007)

Cháu Nhi có đơn đề nghị được ở với bà Hảo (BL 30) Kể từ khi ông Nguyệt và

bà Hảo ly thân thì cháu Nhi đang sống cùng bà Hảo

Cháu Đức Anh có đơn đề nghị được ở với bà Hảo, sau làm đơn đề nghị được ở với ông Nguyệt (BL 31 và BL 32) Kể từ khi ly thân, cháu Đức Anh sống cùng ông Nguyệt

Về tài sản chung:

Về phía nguyên đơn cho rằng: Trong thời kỳ chung sống hai bên đã tạo lập được khối tài sản như sau: Quyền sử dụng đất tại thửa đất tọa lạc tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương; Thửa 496, tờ bản đồ 01, diện tích 216 m2 và tài sản gắn liền trên đất bao gồm: 01 căn nhà cấp 04 diện tích 18 m2 mái ngối, 01 gian bếp và nhà

vệ sinh 10 m2, 01 giếng khơi, 01 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6 m2 Nguyên đơn không đề nghị chia giá trị tài sản trên đất, riêng về quyền sử dụng đất thì nguyên đơn yêu cầu chia ½ quyền sử dụng đất là 108 m2, nguyên đơn đồng ý nhận phần không có tài sản trên đất

Bị đơn cho rằng: Trong thời kỳ hôn nhân, hai bên đã tạo lập được khối tài sản gắn lền trên đất, cụ thể như sau: 01 căn nhà cấp 04 diện tích 18 m2 mái ngối, 01 gian bếp và nhà vệ sinh 10 m2, 01 giếng khơi, 01 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6 m2 Còn thửa đất 496 tờ bản đồ số 1 có nguồn gốc đất là của bố mẹ bị đơn và các anh chị em của bị đơn góp tiền mua của UBND xã Thượng Đạt vào năm 1994 Vào năm 1999 nguyên đơn và bị đơn ra ở trên đất và xây dựng nhà và bếp nêu trên là chỉ cho ở nhờ Năm 2005 UBND xã Thượng Đạt và UBND huyện Nam Sách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyệt và bà Hảo Ông Nguyệt không đứng ra kê khai chỉ đến khi xã thông báo thì ông ra xã ký và nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Do không đồng ý đây là tài sản chung của vợ chồng nên ông không đồng ý chia theo yêu cầu của bà Hảo Bị đơn đồng ý chia đôi phần tài sản trên đất, bị đơn đồng ý trả phần chênh lệch bằng tiền cho nguyên đơn, cụ thể là bị đơn sẽ trả cho nguyên đơn

Trang 4

số tiền 2.050.000 đồng (Số tiền này căn cứ vào BL 162 Biên bản thỏa thuận giá trị tài sản và không yêu cầu Tòa án định giá tài sản Cụ thể, trong biên bản các bên thống nhất các tài sản trên đất có giá là 4.100.000 đồng)

1.2 Tư cách đương sự

Nguyên đơn: Hoàng Thị Hảo, sinh năm: 15/11/1978

CMND số: 141978672

Địa chỉ: Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Bị đơn: Nguyễn Văn Nguyệt, Sinh năm: 08/01/1976

CMND số: 142533710

Địa chỉ: Thôn Thượng Trệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- UBND thành phố Hải Dương – Đại diện

- Bà Nguyễn Thị Thoa (mẹ ruột bị đơn)

- Ông Nguyễn Văn Cang (cha ruột bị đơn)

Cùng địa chỉ: Khu dân cư số 2, thôn Thượng Trệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

 Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Bích – cán bộ địa chính xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Theo quy định tại khoản 2, Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “Nguyên

đơn là người khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền

và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm” Bà Hoàng Thị Hảo đã nộp đơn khởi kiện

đến Tòa án nhân thành phố Hải Dương yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Nguyệt, vì tình cảm giữa bà Hảo và ông Nguyệt không còn, bà Hảo khai rằng ông Nguyệt thường xuyên đánh đập vợ con Bởi vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hảo bị xâm phạm, nên bà Hảo có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn

Theo quy định tại khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Bị đơn là

người bị nguyên đơn khởi kiện Như vậy, bà Hảo kiện ông Nguyệt ra Tòa án nhân dân

thành phố Hải Dương Nên ông Nguyệt là bị đơn

1.3 Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn

Ngày 02/01/2016 bà Hoàng Thị Hảo nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, yêu cầu:

- Cho bà ly hôn với ông Nguyễn Văn Nguyệt

- Về việc nuôi con: Yêu cầu được nuôi 2 con Nguyễn Thị Nhi; Nguyễn Đức Anh

và không yêu cầu ông Nguyễn Văn Nguyệt cấp dưỡng

- Về tài sản chung: Yêu cầu chia đôi tài sản chung của ông bà là quyền sử dụng đất tại thửa đất 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 do UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005, mỗi người 108 m2, không đề nghị chia giá trị tài sản trên đất

Trang 5

1.4 Chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Để chứng minh cho yêu cầu của phía nguyên đơn là có căn cứ Nguyên đơn đưa

ra những tài liệu, chứng cứ chứng cứ gồm:

- 01 bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (BL 02);

- 01 bản sao Giấy khai sinh cháu Nguyễn Thị Nhi (BL 04);

- 01 bản sao Giấy khai sinh cháu Nguyễn Đức Anh (BL 03);

- 01 bản sao Sổ hộ khẩu gia đình (BL 05-07)

- 01 bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (BL 08-11);

- 01 đơn đề nghị của cháu Nguyễn Thị Nhi (BL 30);

- 01 đơn đề nghị của cháu Nguyễn Đức Anh (BL 31);

1.5 Ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Về ly hôn: Về phía Ông Nguyệt cho rằng nguyên nhân của mâu thuẫn vợ chồng ông và gia đình nhà bố mẹ bà Hảo nên ông đồng ý ly hôn với bà Hảo

Về việc nuôi con: Ông Nguyệt đề nghị được nuôi cháu Nguyễn Đức Anh, riêng cháu Nguyễn Thị Nhi giao cho bà Hảo nuôi dưỡng và không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai

Về tài sản chung: Ông Nguyệt cho rằng tài sản chung của ông, bà chỉ có 01 căn nhà cấp 04 diện tích 18 m2 mái ngối, 01 gian bếp và nhà vệ sinh 10 m2, 01 giếng khơi,

01 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6 m2 và ông đồng ý các tài sản này chia đôi, ai sử dụng thì trả phần tiền chênh lệch Cụ thể, ông Nguyệt sẽ trả cho bà Hảo số tiền 2.050.000 đồng Còn quyền sử dụng đất tại thửa đất 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 do UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005 đây không phải là tài sản chung của hai vợ chồng ông Nguồn gốc này là do bố mẹ ông Nguyệt mua của UBND xã Thượng Đạt vào năm 1994 Năm 1999 hai vợ chồng mới xây nhà

và ở tại mảnh đất đó Vợ chồng ông ra xây dựng nhà ở trên mảnh đất đó nhưng chưa được bố mẹ tuyên bố cho vợ chồng mảnh đất trên Năm 2005 UBND xã Thượng Đạt

và UBND huyện Nam Sách tự làm giấy chứng nhận QSDĐ mang tên vợ chồng ông bà nhưng không ai khiếu kiện và có ý kiến gì Bà Hảo đề nghị chia đôi thửa đất trên ông Nguyệt không đồng ý vì cho rằng quyền sử dụng đất trên là của bố mẹ ông

1.6 Chứng cứ để chứng minh của bị đơn

- 01 bản tự khai của bị đơn (BL 24);

- 01 bức thư của bà Thoa - mẹ Bị đơn (BL 143-145);

- 01 đơn đề nghị của cháu Đức Anh (BL 32)

1.7 Những vấn đề nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận được:

Thứ nhất, về nợ chung: giữa nguyên đơn và bị đơn xác nhận số tiền nợ ngân hàng

nông nghiệp và phát triển nông thôn là 30.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh

Nguyên đơn đã trả 10.000.000 đồng và lãi phát sinh Bị đơn đã trả 10.000.000 đồng và lãi phát sinh Vậy, nợ chung còn lại là 10.000.000 đồng và lãi phát sinh, nên các bên đã thống nhất mỗi bên trả 5.000.000 đồng và lãi phát sinh

Trang 6

Ngày 28/06/2016 phía nguyên đơn và bị đơn đã thanh toán hết số tiền nợ (cả gốc

và lãi) và Ngân hàng cũng đã trả ông Nguyệt Giấy CNQSDĐ Vì vậy, phần nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết

Thứ hai, Theo biên bản thỏa thuận ngày 20/06/2016 (BL 162), không yêu cầu

Tòa án giải quyết đối với diện tích 1950m2 đất thuê khoán của UBND xã Thượng Đạt tại Bãi Nam, khu dân cư số 2, Thượng Trệt

Thứ ba, Do thỏa thuận, thống nhất được với nhau về giá trị tài sản nên không yêu

cầu định giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất 496, tờ bản đồ

số 1 tại thôn Thượng Trệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương

2 Kết quả nghiên cứu hồ sơ

2.1 Quan hệ pháp luật tranh chấp

Tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

“Điều 28 Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của

Tòa án:

1 Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.”

 Vậy quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản”

2.2 Thời hiệu khởi kiện

Tại khoản 1 điều 155 Bộ Luật dân sự 2015 quy định:

“Điều 155 Không áp dụng thời hiệu khởi kiện

1 Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản.”

Và tại khoản 1 Điều 39 Bộ Luật dân sự 2015 quy định:

“Điều 39 Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình

1 Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình.

Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình.”

 Vậy tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản” không áp dụng thời hiệu khởi kiện

2.3 Thẩm quyền của Tòa án

Tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

“Điều 28 Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của

Tòa án

1 Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.”

Từ những căn cứ trên đây, giữa bà Hảo và ông Nguyệt là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Căn cứ tại điểm a, khoản 1 điều 35 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015:

“Điều 35 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

Trang 7

1 Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của

Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;”

Vậy, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết

Tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 về Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, quy định:

“1 Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này.”

Vậy, Thẩm quyền Tòa án theo lãnh thổ thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nơi bị đơn cư trú

 Vậy thẩm quyền giải quyết là TAND cấp huyện, nơi bị đơn cư trú Cụ thể là Tòa

án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương có thẩm quyền giải quyết

2.4 Văn bản luật áp dụng

- Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Bộ luật dân sự 2015;

- Luật hôn nhân gia đình 2014;

- Luật đất đai năm 2003;

- Luật đất đai năm 2013;

- Luật chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em năm 2004;

- Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hôn nhân gia đình;

- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của TANDTC, VKSNDTC và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;

- Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật TTDS và Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 về việc thi hành Bộ luật TTHC;

II KẾ HOẠCH HỎI CỦA LUẬT SƯ

1 Hỏi nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Hảo

1) Bà Hảo cho biết sau mỗi lần chị ghen tuông và bỏ về nhà bố mẹ đẻ thì ông

Nguyệt có qua xin lỗi và thuyết phục chị về nhà hay không?

2) Hiện tại bé Nhi còn đang đi học không?

3) Công việc hiện tại của chị là gì? Thời gian làm việc và thu nhập hiện tại của

chị ra sao?

Trang 8

4) Ngoài khoản thu nhập chị vừa nêu trên thì chị còn khoản thu nhập nào khác

nữa không?

5) Đối với khoản thu nhập hiện tại của chị thì chị có đảm bảo được cuộc sống

của chị và đảm bảo chăm sóc được cho 02 cháu hay không?

6) Khi chị và ông Nguyệt ly thân, thì 02 cháu có mong muốn ở với ai không? 7) Vậy tại sao cháu Đức Anh lại có đơn đề nghị muốn ở với ông Nguyệt?

8) Khi chưa ly thân, ông Nguyệt có quan tâm chăm sóc vợ con hay không? 9) Bên phía gia đình ông Nguyệt có cho vợ chồng chị thửa đất số 496 tờ bản đồ

số 01 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương hay không?

10) Có bất cứ văn bản nào thể hiện việc ông Cang và bà Thoa tặng cho mảnh đất

trên cho vợ chồng chị không?

11) Theo biên bản ngày 23/02/2016 chị cho rằng thửa đất trên được bố mẹ ông

Nguyệt tặng cho vợ chồng anh chị Nhưng tại biên bản hòa giải 19/05/2016 chị lại khai rằng bố mẹ ông Nguyệt không có bất kì cuộc họp hay tuyên bố tặng cho thửa đất trên cho vợ chồng anh chị Chị có thấy lời khai mình có mâu thuẫn hay không?

12) Chị có thực hiện bất kỳ thủ tục nào để được UBND cấp Giấy chứng nhận

QSDĐ không?

13) Anh chị đã sử dụng và xây dựng những gì trên mảnh đất này?

2 Hỏi bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nguyệt

1) Anh có dùng lời lẽ xúc phạm vợ con, thậm chí là dùng vũ lực với vợ con

mỗi khi đi chơi về không?

2) Công việc hiện tại của anh là gì? Thời gian và thu nhập ra sao?

3) Nếu anh đi làm về muộn có ai chăm sóc cháu Đức Anh không?

4) Hiện tại, anh có cho cháu Đức Anh đi học không?

5) Anh có thường liên lạc trao đổi về chuyện học tập của cháu Đức Anh với

giáo viên chủ nhiệm và nhà trường không?

6) Anh có biết cháu Đức Anh muốn ở với anh không?

7) Tại sao anh không yêu cầu bà Hảo cấp dưỡng nuôi con?

8) Từ khi anh chị sinh sống trên thửa đất 496 tờ bản đồ số 01 tại xã Thượng

Đạt, thành phố Hải Dương, bà Hảo có bỏ công sức ra bồi đắp thửa đất này hay không?

9) Nguồn gốc thửa đất số 496 tờ bản đồ số 01 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải

Dương có từ đâu?

10) Anh có thực hiện bất kỳ thủ tục nào để UBND cấp Giấy chứng nhận QSDĐ

hay không?

3 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thoa

1) Nguồn gốc đất tại thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương có từ đâu?

2) Có phải vợ chồng bà cho vợ chồng ông Nguyệt và bà Hảo thửa đất này không? 3) Tại sao bà khẳng định thửa đất trên là của vợ chồng bà?

4 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đại diện UBND TP Hải Dương

Trang 9

1) Trước khi cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, ủy ban nhân dân có nhận được đơn đề nghị cấp từ ông Nguyệt và bà Hảo không?

2) Việc cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyệt và bà Hảo được căn cứ trên quy định pháp luật nào?

III BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ BỊ ĐƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO BỊ ĐƠN LÀ ÔNG

NGUYỄN VĂN NGUYỆT

Kính thưa: - Hội đồng xét xử;

- Thưa đại diện Viện kiểm sát;

- Thưa Luật sư đồng nghiệp!

Tôi tên là Nguyễn Thị X, thuộc VPLS ABC và Cộng sự, thuộc đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh Tôi tham gia phiên tòa ngày hôm nay với tư cách là Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn Nguyệt là bị đơn trong vụ án

Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án cũng như diễn biến tại phiên tòa hôm nay, tôi xin trình bày một số ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là ông Nguyễn Văn Nguyệt như sau:

Về ly hôn: Bị đơn đồng ý về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Tuy nhiên, lý do dẫn đến

việc ly hôn là giữa hai người không còn tình cảm, không còn hạnh phúc và do tính hay ghen tuông của bà Hảo chỉ vì những lời trêu chọc của bạn bè với ông Nguyệt, bà Hảo nhiều lần bỏ về nhà mẹ đẻ, không chăm sóc con cái, từ đó những mâu thuẫn trong gia đình ngày càng căng thẳng nên ông Nguyệt đồng ý ly hôn với bà Hảo Đề nghị HĐXX đồng ý cho ông Nguyệt và bà Hảo ly hôn căn cứ tại khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

“1 Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Về vấn đề nuôi con chung: Tôi xin khẳng định lại rằng, bị đơn luôn quan tâm chăm

sóc các cháu, không đánh đập hay bạo hành các cháu Bị đơn không có ngăn cấm việc cháu Đức Anh gặp bà Hảo như lời bà Hảo trình bày

Về điều kiện nuôi con của bà Hảo Bà Hảo không đủ điều kiện để nuôi 02 cháu Điều này được thể hiện như sau: thu nhập của bà Hảo hiện tại là từ 4-6 triệu/ tháng, ngoài ra không có thu nhập nào khác (BL 125, BL 126) Chỉ với khoảng thu nhập như vậy, chỉ đáp ứng đủ điều kiện của bà Hảo, không đủ điều kiện để nuôi 02 cháu Ngoài

Trang 10

ra, mỗi ngày bà Hảo phải làm việc từ 8-12h/ ngày chưa kể những ngày bà Hảo phải tăng ca Như vậy, bà Hảo không đủ thời gian để chăm sóc các con Việc chăm sóc các con không thể giao phó cho ông bà ngoại chăm sóc được Không ai có thể chăm sóc các cháu tốt như bố mẹ các cháu Hiện tại, bà Hảo vẫn đang ở nhà bố mẹ đẻ, không có nơi ở ổn định để có môi trường tốt cho các cháu phát triển

Về điều kiện nuôi con của ông Nguyệt: Hiện tại ông Nguyệt đang làm nông nghiệp và chăn nuôi tại nhà, có nhà ở và thu nhập ổn định 5 triệu/ tháng, có thời gian đưa con đi học và quan tâm đến việc học vủa con (BL 104) Ngoài ra, nhà ông Nguyệt gần nhà ông bà nội, ông bà nội sẽ giúp ông Nguyệt trông nom các cháu Tại Điều 15

Luật Trẻ em 2016 quy định:“Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát

triển toàn diện”

Vì vậy, với điều kiện của ông Nguyệt thì ông Nguyệt có điều kiện nhiều hơn để đảm bảo quyền được nuôi dưỡng để phát triển toàn diện cho con

Xét về nguyện vọng cháu Đức Anh (BL số 32) ngày 25/1/2016 thì cháu Đức

Anh có nguyện vọng được ở với anh Nguyễn Văn Nguyệt “vì sợ mẹ sẽ không cho đi

học như chị Nhi”.

Theo quy định khoản 2 điều 81 luật hôn nhân và gia đình xác định: “Vợ, chồng

thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Do đó, để các cháu có thể phát triển tốt nhất thì các cháu phải được tạo điều kiện

cả về vật chất và tinh thần Không thể để bà Hảo nuôi cả 2 cháu trong khi bà Hảo vừa

đi làm xa lại không có thời gian cũng như mức thu nhập không đảm bảo cho việc chăm sóc các cháu

Từ các lẽ trên, xét về lý lẫn về tình, xét đến quyền lợi về mọi mặt đối với con chung của nguyên đơn và bị đơn, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Đức Anh cho bị đơn nuôi dưỡng và chăm sóc, không cần nguyên đơn cấp dưỡng Bị đơn đồng ý

để nguyên đơn nuôi dưỡng cháu Nhi và sẽ không cấp dưỡng cho cháu

Về tài sản chung

Thứ nhất, Về nguồn gốc đất: Căn cứ theo biên bản của UBND xã Thượng Đạt về

việc xét duyệt nguồn gốc đất của ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Hoàng Thị Hảo ngày 08/06/2016 thì thửa đất 496, tờ bản đồ số 1 là do ông Nguyễn Văn Cang và bà Nguyễn Thị Thoa nộp tiền mua đất với giá 1.500.000 một suất với diện tích 216m2 (BL 147) Đồng thời số tiền mua này là do 2 con trai bà Thoa đóng góp mua cụ thể là anh Nguyễn Văn Quyết góp 1.000.000 đồng và anh Nguyễn Văn Chuyển góp 500.000 đồng Bà Thoa là người đi nộp trực tiếp cho UBND xã Việc mua bán này diễn ra trước khi ông Nguyệt và bà Hảo kết hôn Đồng thời theo lời khai của bà Hảo, ông Nguyệt, bà Thoa, anh Chuyển đều cho rằng nguồn gốc đất trên là do bà Thoa mua bằng tiền của anh Chuyển và anh Quyết Ông Nguyệt và bà Hảo khai rằng, khi cấp Giấy chứng nhận QSDĐ thì không phải ông Nguyệt hay bà Hảo đứng ra kê khai xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ mà do UBND xã Thượng Đạt và UBND xã Nam Sách tự cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Nguyệt và bà Hảo Ông Nguyệt không đồng ý với yêu cầu chia đôi tài sản là thửa đất 496, tờ bản đồ số 1 do đây là tài sản của bố mẹ

bị đơn, không phải là tài sản chung của vợ chồng ông Nguyệt và bà Hảo Do đó, kính

Ngày đăng: 28/03/2022, 13:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w