Trường hợp có thể tách được phần quyết định về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài nước ngoài thì phần quyết định về vấn đề đư
Trang 1Trường Đại học Luật TP.HCM
Sinh viên:
Lớp:
MSSV:
Giảng viên: Lê Thị Ngọc Hà
BÀI KIỂM TRA CÁ NHÂN 30%
MÔN LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Quyết định số 17/2014/QĐST-KDTM ngày 11/8/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Nguyên đơn: Công ty Tiến Lên
Bị đơn: Công ty Starglobe
Câu 1: Nếu yêu cầu trên được giải quyết theo BLTTDS năm 2015 thì kết luận của Tòa án có thể thay đổi không? Nếu có, các căn cứ để công nhận hoặc không công nhận quyết định trọng tài ở đây là gì?
Nếu yêu cầu trên được giải quyết theo BLTTDS 2015 thì kết luận của Tòa án vẫn không thay đổi Tại các điểm a, d, đ Khoản 1 Điều 459 BLTTDS 2015 là những căn cứ để Tòa án không công nhận Quyết định trọng tài, cụ thể:
“Điều 459 Những trường hợp không công nhận
1 Tòa án không công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài khi xét thấy chứng cứ do bên phải thi hành cung cấp cho Tòa án để phản đối yêu cầu công nhận
là có căn cứ, hợp pháp và phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận
đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên;
…
Trang 2d) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được tuyên về một vụ tranh chấp không được các bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các bên ký kết thỏa thuận trọng tài Trường hợp có thể tách được phần quyết định về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài nước ngoài thì phần quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
đ) Thành phần của Trọng tài nước ngoài, thủ tục giải quyết tranh chấp của Trọng tài nước ngoài không phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được tuyên, nếu thỏa thuận trọng tài không quy định về các vấn đề đó;…” 1
Bởi lẽ, thứ nhất, theo điểm a Khoản 1 Điều 370 BLTTDS 2004, sửa đổi bổ
sung 2011 thì phán quyết của trọng tài nước ngoài không được công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam khi “các bên ký kết thỏa thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên2” Tại điểm này xét thấy không có gì thay đổi so với BLTTDS 2015 Hơn nữa, tại điểm a khoản 1 Điều 5 Công ước New York cũng có quy định tương tự
điểm trên : “Việc công nhận và thi hành quyết định có thể bị từ chối, theo yêu cầu của bên phải thi hành, chỉ khi nào bên đó chuyển tới cơ quan có thẩm quyền nơi việc công nhận và thi hành được yêu cầu, bằng chứng rằng các bên của thỏa thuận nói ở Điều 2, theo pháp luật đối với các bên, không đủ năng lực3” Do vậy, trong trường hợp này, chỉ cần một bên không có năng lực ký kết thỏa thuận trọng tài là quyết định thuộc trường hợp không công nhận, cho thi hành tại Việt Nam
Thứ hai, theo điểm d Khoản 1 Điều 370 BLTTDS 2004, sửa đổi bổ sung 2011
thì phán quyết của trọng tài nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam khi “quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên về một vụ tranh chấp không được các bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các bên ký kết
có sự thay đổi Đồng thời, tại điểm c Khoản 1 Điều 5 Công ước New York cho rằng:
“quyết định giải quyết một tranh chấp không được dự liệu trong các điều khoản của
Trang 3đơn yêu cầu đưa ra trọng tài giải quyết hay nằm ngoài các điều khoản đó, hoặc quyết định trọng tài gồm các quyết định về các vấn đề ngoài phạm vi yêu cầu xét xử bằng trọng tài5” Do vậy, kết luận của Tòa án căn cứ theo BLTTDS 2015 vẫn không thay đổi
Thứ ba, theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 370 BLTTDS 2004, sửa đổi bổ
sung 2011 thì phán quyết của trọng tài nước ngoài cũng không được công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam nếu “thành phần trọng tài nước ngoài, thủ tục giải quyết tranh chấp của trọng tài nước ngoài không phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên, nếu thỏa thuận trọng tài không quy định về các vấn đề đó6”, cho thấy không có gì thay đổi so với điểm đ Khoản 1 Điều 459 BLTTDS 2015 Công ước New York cũng quy định
rằng “Thành phần trọng tài xét xử hoặc thủ tục xét xử trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc, nếu không có thoả thuận đó, không phù hợp với luật của nước tiến hành trọng tài”7 Do vậy, kết luận Tòa án nếu giải quyết theo BLTTDS
2015 cũng không thay đổi
Câu 2: Những tình tiết nào đã được Tòa án sử dụng để minh chứng cho từng căn cứ và đi đến kết luận cuối cùng là không công nhận Quyết định trọng tài? Anh/chị có bình luận gì về việc xây dựng lập luận của Tòa án cho từng căn cứ?
- Đối với căn cứ tại điểm a Khoản 1 Điều 459 BLTTDS 2015 “Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên”, có những tình tiết sau:
+ Theo thỏa thuận trọng tài tại Điều 14 Hợp đồng số SGL/TLS - 07/11 của Công ty Tiến Lên và Công ty Starglobe chỉ thỏa thuận tranh chấp sẽ được giải quyết bởi Trọng tài Thụy Sĩ mà không thỏa thuận cụ thể về ngôn ngữ trọng tài, địa điểm trọng tài và luật áp dụng hay số lượng trọng tài viên giải quyết tranh chấp
5 điểm c khoản 1 Điều 5 Công ước New York 1958.
6 điểm đ Khoản 1 Điều 370 BLTTDS 2004, sđ, bs 2011.
7 điểm d khoản 1 Điều 5 Công ước New York 1958.
Trang 4+ Công ty Tiến Lên ủy quyền cho ông Besson là luật sư tham gia tố tụng Trọng tài nhưng trong nội dung ủy quyền không trao quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận Trọng tài cho ông Besson
+ Việc ông Besson đã thỏa thuận và ký kết điều khoản trọng tài chi tiết về ngôn ngữ, địa điểm, luật áp dụng và số lượng trọng tài viên với Công ty Starglobe là vượt quá phạm vi ủy quyền và cũng không được ông Hà – Chủ tịch Hội đồng quản trị, đại diện theo pháp luật của công ty chấp nhận
Việc xây dựng lập luận trong căn cứ này của Tòa án là hợp lý Bởi lẽ, thỏa thuận trọng tài đã được xác lập vào ngày 13/10/2011, thể hiện tại Điều 14 của hợp đồng số SGL/TLS – 07/11 và hợp đồng này được đại diện 2 bên công ty
ký kết Tuy nhiên, trong trường hợp này hai bên chỉ thỏa thuận tranh chấp sẽ được giải quyết bởi Trọng tài Thụy Sĩ, không thỏa thuận cụ thể về ngôn ngữ trọng tài, luật áp dụng hay số lượng trọng tài viên giải quyết tranh chấp, mà người bổ sung thỏa thuận trọng tài là lại ông Besson, người không được trao quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận trọng tài, đồng thời người có thẩm quyền xác lập cũng không chấp nhận
Do đó, việc ông Besson đã tự thỏa thuận và ký kết điều khoản trọng tài là không có thẩm quyền Như vậy, việc thỏa thuận trọng tài vô hiệu vì người xác lập trọng tài không có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 2 Điều 18 Luật TTTM
- Đối với căn cứ tại điểm đ Khoản 1 Điều 459 BLTTDS 2015“…thủ tục giải quyết tranh chấp của Trọng tài nước ngoài không phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được tuyên, nếu thỏa thuận trọng tài không quy định về các vấn đề đó”, gồm những tình tiết sau:
+ Theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Quy tắc Tố tụng Trọng tài Thụy Sỹ, Trọng tài viên phải gửi thông báo đến trước cho các bên để thông tin ngày, giờ và địa điểm của phiên xử giải quyết tranh chấp
Trang 5+ Tại phiên xét xử, Trọng tài viên duy nhất chỉ gửi giấy triệu tập Luật sư (người được ủy quyền tham gia tố tụng) mà không triệu tập người đại diện hợp pháp của Công ty Tiến Lên là ông Hà đến tham gia phiên xử
+ Trong phiên xử của Trọng tài, người đại diện hợp pháp của Công ty Tiến Lên không có mặt do không được Trọng tài viên duy nhất triệu tập, nhưng Trọng tài viên duy nhất vẫn tiến hành phiên xử giải quyết tranh chấp
Từ đó cho thấy Tòa án đã kết luận “Trọng tài viên duy nhất đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trọng tài” là không hợp lý
Theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Quy tắc Tố tụng Trọng tài Thụy Sỹ, Trọng
tài viên phải gửi thông báo đến trước cho các bên “Các bên” ở đây có thể
hiểu là nguyên đơn và bị đơn Tuy nhiên phía Công ty Tiến Lên đã ủy quyền cho ông Besson là luật sư tham gia tố tụng và Trọng tài viên cũng đã gửi giấy triệu tập cho ông Besson Theo như BLTTDS 2015, Luật sư tham gia tố tụng với vai trò là Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, quyền và nghĩa vụ sẽ khác với vai trò là Luật sư - người được ủy quyền theo pháp luật Mặt khác, trong Trọng tài, ông Besson tham gia với tư cách là người được ủy quyền tham gia tố tụng của Công ty Tiến Lên
Do vậy trong trường hợp này, theo Quy tắc tố tụng Trọng tài Thụy Sĩ, Trọng tài viên không gửi giấy triệu tập người đại diện hợp pháp mà chỉ gửi cho ông Besson và người đại diện hợp pháp không có mặt tại phiên xử mà Trọng tài vẫn tiến hành xét xử là hợp lý, không thuộc căn cứ để kết luận Trọng tài viên
đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trọng tài và cho rằng thỏa thuận trọng tài này vô hiệu
Câu 3: Anh/chị có thể rút ra những kinh nghiệm gì cho việc đàm phán ký kết thỏa thuận trọng tài và tham gia tố tụng trọng tài sau này từ việc đọc hiểu và bình luận Quyết định trên?
Khi các bên lựa chọn trọng tài nước ngoài thì một số vấn đề pháp lý phát sinh
và chủ yếu được điều chỉnh bởi BLTTDS và Công ước New York Bởi vậy, qua bình luận Quyết định trên, chúng ta bên cần phải đàm phán kỹ lưỡng để có một thỏa thuận
Trang 6trọng tài chi tiết, đảm bảo có thể thực hiện được khi có tranh chấp xảy ra trong việc đàm phán ký kết thỏa thuận trọng tài và tham gia tố tụng, cụ thể
- Sử dụng ngôn ngữ trọng tài (Điều 10 Luật TTTM 2010): Nếu trong thỏa thuận, các bên sử dụng ngôn ngữ mà họ dùng để giao tiếp hằng ngày thì không có vấn đề gì xảy ra Tuy nhiên, trong trường hợp có yếu tố nước ngoài, thì việc lựa chọn thỏa thuận ngôn ngữ trọng tài rất quan trọng Nếu một hợp đồng soạn thảo bằng hai ngôn ngữ khác nhau (ngôn ngữ của mỗi bên) với nội dung tương đương Một khi tranh chấp phát sinh, các bên rất khó thỏa thuận về ngôn ngữ chung bởi mỗi bên đều muốn đạt được lợi ích của mình từ việc lựa chọn đó Vì vậy, để tránh những khó khăn nói trên, khi ký kết thỏa thuận và tham gia tố tụng trọng tài, ngôn ngữ trọng tài nên được quy định cụ thể trong điều khoản trọng tài
- Lựa chọn luật áp dụng (Điều 14 Luật TTTM 2010): Luật áp dụng sẽ xác định giá trị pháp lý của các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Việc thỏa thuận luật áp dụng rất quan trọng, khi thực hiện hợp đồng, các bên cần phải biết luật nào áp dụng bởi các điều khoản hợp đồng không phải lúc nào cũng quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ tương ứng của các bên Trong thỏa thuận trọng tài, mặc dù luật áp dụng sẽ do các bên tự lựa chọn Tùy theo khả năng đàm phán, luật áp dụng có thể là luật của quốc gia của một bên Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về luật
áp dụng thì Hội đồng trọng tài sẽ quyết định luật phù hợp nhất với quan hệ hợp đồng Như vậy, khi ký kết thỏa thuận trọng tài, giải pháp tốt nhất là các bên nên quyết định trước luật áp dụng, lực chọn luật áp dụng sao cho dễ tiếp cận, được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong thương mại quốc tế và phù hợp với quan hệ thương mại cụ thể giữa các bên Các bên cần chủ động tìm hiểu kỹ để lường trước được các rủi ro và bất lợi
có thể xảy ra khi thỏa thuận, từ đó hình thành những điều kiện tốt nhất để tiến hành thỏa thuận trọng tài và tham gia tố tụng trọng tài Nếu không tìm hiểu kỹ mà đặt bút
ký một cách vô tư, khi tranh chấp phát sinh có thể gánh chịu những hậu quả bất lợi
- Địa điểm trọng tài (Điều 11 Luật TTTM 2010): Trong các vụ liên quan đến trọng tài quốc tế, việc lựa chọn địa điểm tiến hành trọng tài đồng nghĩa với việc lựa chọn luật của quốc gia tại nơi tiến hành trọng tài, điều này là một trong những trở lại đối với các bên chủ thể tranh chấp có yếu tố nước ngoài, yếu tố quốc tế cũng như đối với các trọng tài viên Việt Nam Bởi vậy, chúng ta nên thỏa thuận cụ thể địa điểm
Trang 7trọng tài để tránh một số rủi ro không mong muốn xảy ra, dễ dẫn đến xảy ra mâu thuẫn giữa hai bên và hướng giải quyết để khắc phục việc thỏa thuận này sẽ khó khăn hơn, hai bên khó ngồi lại để thương lượng với việc lập lại thỏa thuận trọng tài
- Thẩm quyền ký kết: Thỏa thuận trọng tài là cơ sở pháp lý để thực hiện phán quyết của trọng tài, phán quyết của trọng tài là kết luận cuối cùng của hội đồng trọng tài về giải quyết tranh chấp Vì vậy, để tránh tình trạng thỏa thuận không có hiệu lực, thì cần phải xác định rõ ràng chính xác người ký kết thỏa thuận trọng tài phải là người có thẩm quyền ký kết theo quy định của pháp luật, để hợp đồng thỏa thuận có
đủ căn cứ để xác lập, tránh tình trạng thỏa thuận không có hiệu lực Một khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu sẽ dẫn đến hiệu quả là vụ việc không thuộc thẩm quyền của trọng tài Nếu các bên tranh chấp không thỏa thuận lại về thỏa thuận trọng tài thì tranh chấp sẽ được giải quyết theo thủ tục chung
Kết luận, khi đàm pháp ký kết thỏa thuận trọng tài và tham gia tố tụng, một điều khoản trọng tài rõ ràng, đầy đủ và chặt chẽ sẽ đảm bảo tranh chấp phát sinh được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả
Trang 8BÀI KIỂM TRA CÁ NHÂN 30%
MÔN LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Quyết định số 17/2014/QĐST-KDTM ngày 11/8/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Nguyên đơn: Công ty Tiến Lên
Bị đơn: Công ty Starglobe
Câu 1: Nếu yêu cầu trên được giải quyết theo BLTTDS năm 2015 thì kết luận của Tòa án có thể thay đổi không? Nếu có, các căn cứ để công nhận hoặc không công nhận quyết định trọng tài ở đây là gì?
Nếu yêu cầu trên được giải quyết theo BLTTDS 2015 thì kết luận của Tòa án vẫn không thay đổi Tại các điểm a, d, đ Khoản 1 Điều 459 BLTTDS 2015 là những căn cứ để Tòa án không công nhận Quyết định trọng tài, cụ thể:
“Điều 459 Những trường hợp không công nhận
1 Tòa án không công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài khi xét thấy chứng cứ do bên phải thi hành cung cấp cho Tòa án để phản đối yêu cầu công nhận
là có căn cứ, hợp pháp và phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận
đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên;
…
d) Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được tuyên về một vụ tranh chấp không được các bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các bên ký kết thỏa thuận trọng tài Trường hợp có thể tách được phần quyết định về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài nước ngoài thì phần quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
Trang 9đ) Thành phần của Trọng tài nước ngoài, thủ tục giải quyết tranh chấp của Trọng tài nước ngoài không phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được tuyên, nếu thỏa thuận trọng tài không quy định về các vấn đề đó;…” 8
Bởi lẽ, thứ nhất, theo điểm a Khoản 1 Điều 370 BLTTDS 2004, sửa đổi bổ
sung 2011 thì phán quyết của trọng tài nước ngoài không được công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam khi “các bên ký kết thỏa thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên9” Tại điểm này xét thấy không có gì thay đổi so với BLTTDS 2015 Hơn nữa, tại điểm a khoản 1 Điều 5 Công ước New York cũng có quy định tương tự
điểm trên : “Việc công nhận và thi hành quyết định có thể bị từ chối, theo yêu cầu của bên phải thi hành, chỉ khi nào bên đó chuyển tới cơ quan có thẩm quyền nơi việc công nhận và thi hành được yêu cầu, bằng chứng rằng các bên của thỏa thuận nói ở Điều 2, theo pháp luật đối với các bên, không đủ năng lực10” Do vậy, trong trường hợp này, chỉ cần một bên không có năng lực ký kết thỏa thuận trọng tài là quyết định thuộc trường hợp không công nhận, cho thi hành tại Việt Nam
Thứ hai, theo điểm d Khoản 1 Điều 370 BLTTDS 2004, sửa đổi bổ sung 2011
thì phán quyết của trọng tài nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam khi “quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên về một vụ tranh chấp không được các bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các bên ký kết thỏa thuận11” Điểm này so với điểm d Khoản 1 Điều 459 BLTTDS 2015 cũng không
có sự thay đổi Đồng thời, tại điểm c Khoản 1 Điều 5 Công ước New York cho rằng:
“quyết định giải quyết một tranh chấp không được dự liệu trong các điều khoản của đơn yêu cầu đưa ra trọng tài giải quyết hay nằm ngoài các điều khoản đó, hoặc quyết định trọng tài gồm các quyết định về các vấn đề ngoài phạm vi yêu cầu xét xử bằng trọng tài12” Do vậy, kết luận của Tòa án căn cứ theo BLTTDS 2015 vẫn không thay đổi
10 điểm a khoản 1 Điều 5 Công ước New York 1958.
12 điểm c khoản 1 Điều 5 Công ước New York 1958.
Trang 10Thứ ba, theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 370 BLTTDS 2004, sửa đổi bổ
sung 2011 thì phán quyết của trọng tài nước ngoài cũng không được công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam nếu “thành phần trọng tài nước ngoài, thủ tục giải quyết tranh chấp của trọng tài nước ngoài không phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên, nếu thỏa thuận trọng tài không quy định về các vấn đề đó13”, cho thấy không có gì thay đổi so với điểm đ Khoản 1 Điều 459 BLTTDS 2015 Công ước New York cũng quy định
rằng “Thành phần trọng tài xét xử hoặc thủ tục xét xử trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên hoặc, nếu không có thoả thuận đó, không phù hợp với luật của nước tiến hành trọng tài”14 Do vậy, kết luận Tòa án nếu giải quyết theo
BLTTDS 2015 cũng không thay đổi
Câu 2: Những tình tiết nào đã được Tòa án sử dụng để minh chứng cho từng căn cứ và đi đến kết luận cuối cùng là không công nhận Quyết định trọng tài? Anh/chị có bình luận gì về việc xây dựng lập luận của Tòa án cho từng căn cứ?
- Đối với căn cứ tại điểm a Khoản 1 Điều 459 BLTTDS 2015 “Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận đó theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên”, có những tình tiết sau:
+ Theo thỏa thuận trọng tài tại Điều 14 Hợp đồng số SGL/TLS - 07/11 của Công ty Tiến Lên và Công ty Starglobe chỉ thỏa thuận tranh chấp sẽ được giải quyết bởi Trọng tài Thụy Sĩ mà không thỏa thuận cụ thể về ngôn ngữ trọng tài, địa điểm trọng tài và luật áp dụng hay số lượng trọng tài viên giải quyết tranh chấp
+ Công ty Tiến Lên ủy quyền cho ông Besson là luật sư tham gia tố tụng Trọng tài nhưng trong nội dung ủy quyền không trao quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận Trọng tài cho ông Besson
+ Việc ông Besson đã thỏa thuận và ký kết điều khoản trọng tài chi tiết về ngôn ngữ, địa điểm, luật áp dụng và số lượng trọng tài viên với Công ty Starglobe là vượt quá phạm vi ủy quyền và cũng không được ông Hà – Chủ tịch Hội đồng quản trị, đại diện theo pháp luật của công ty chấp nhận