Lý do chọn đề tài: Tiếng Việt là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng ở bậc Tiểu học, làphương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức của các môn học khác, là mộtcông cụ
Trang 1MỤC LỤC
Trang I Đặt vấn đề 1 Lí do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4 Phương pháp nghiên cứu
II Giải quyết vấn đề 1 Cở sở lí luận
2 Thực trạng vấn đề
3 Các biện pháp tiến hành
4 Hiệu quả SKKN
III Kết luận và kiến nghị 1 Kết luận 20
2 Kiến nghị 2
IV Tài liệu tham khảo
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài:
Tiếng Việt là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng ở bậc Tiểu học, làphương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức của các môn học khác, là mộtcông cụ hữu hiệu trong hoạt động và giao tiếp của học sinh, giúp các em tự tin
và chủ động hoà nhập vơi các hoạt động trong trường học
Chương trình Tiếng Việt lơp 4 gồm nhiều phân môn, mỗi phân môn cómột nhiệm vụ riêng Phân môn Luyện từ và câu cung cấp toàn bộ kiến thức vềquy tắc cấu tạo từ, biến đổi từ, kết hợp từ thành cụm từ, câu - đơn vị nhỏ nhất đểthể hiện chức năng giao tiếp Dạy từ và câu là một yếu tố quan trọng để pháttriển năng lực trí tuệ, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người học sinh Vìvậy ngay từ ngày đầu đến trường, học sinh đã được làm quen vơi từ và câu quaviệc học âm, vần, tiếng, từ ở lơp 1; các mô hình câu đơn giản, các biện phápnghệ thuật quen thuộc như so sánh, nhân hóa ở lơp 2, 3; các từ loại cơ bản hoặcnghĩa của từ, cấu trúc câu,… ở lơp 4, 5 Học từ và câu giúp học sinh tiểu học cóhiểu biết về quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp
Học sinh muốn nói và viết thành câu trươc hết phải nắm vững cấu tạo của
từ (đơn vị nhỏ của câu) Là một giáo viên được nhà trường phân công dạy lơp 4,tôi thấy việc giảng dạy cho học sinh nắm rõ khái niệm từ, biết vận dụng vốn từvào thực hành giao tiếp là điều hết sức quan trọng Mặt khác, học sinh muốn viếtcâu đúng ngữ pháp, câu có hình ảnh, có cảm xúc phải hiểu rõ từ, phân biệt được
từ Trong phân môn Luyện từ và câu lơp 4, từ được chia làm hai loại: từ đơn và
từ phưc Từ phức gồm hai loại là “Từ ghép” và “Từ láy” Dạy học sinh nắm
vững khái niệm về từ đơn, từ ghép, từ láy, phân biệt được những từ này và vận
dụng được chúng vào hoạt động giao tiếp là một vấn đề vô cùng khó khăn
Trong phạm vi đề tài này, tôi muốn trình bày “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 4 phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy” mà tôi đã tiến hành trong
năm học vừa qua
2 Mục đích nghiên cứu
Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy việc nghiên cứu nắm vững mục tiêu củamôn học, mục tiêu cần đạt trong từng tiết dạy, từng bài dạy và vận dụng linhhoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sẽ đạt được hiệu quả thiếtthực Đó là:
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Luyện từ và câu
- Kích thích học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức, hoạt động nhiều hơnbằng chính năng lực của mình
Trang 3- Giúp học sinh yêu thích học Tiếng Việt, hứng thú vơi phân môn Luyện
từ và câu, phát triển ngôn ngữ trí tuệ của trẻ em
Đề tài này nhằm giúp giáo viên tìm ra phương pháp giảng dạy hiệu quảnhất, phù hợp vơi khả năng nhận thức của học sinh, tạo hứng thú học tập chohọc sinh; phát hiện và sửa chữa kịp thời những sai sót mà học sinh mắc phải
trong quá trình tiếp thu kiến thức về từ đơn, từ ghép, từ láy đồng thời mở rộng kiến thức về Tiếng Việt cho chính bản thân giáo viên, đề xuất một số biện pháp
khắc phục hạn chế trong việc dạy học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu quá trình dạy học Tiếng Việt (phân môn Luyện từ và câu) lơp 4 ởtrường Tiểu học và những lỗi học sinh thường mắc trong quá trình học tập
- Học sinh lơp 4 của trường Tiểu học
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu tài liệu:
- Sách giáo khoa, Sách giáo viên Tiếng Việt 4
- Chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học ở Tiểu học
- Một số tài liệu bồi dưỡng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học
4.2 Lựa chọn phương pháp.
Kết hợp sử dụng các phương pháp:
+ Trực quan
+ Đàm thoại, gợi mở
+ Giao tiếp: thảo luận nhóm, trò chơi, phân vai
4.3 Đồ dùng dạy học
- Sách giáo khoa Tiếng Việt 4
- Giáo án điện tử, máy projector,
4.4 Thực nghiệm
+ Soạn giáo án 3 tiết:
- Tiết 1: Từ đơn và từ phức (tuần 3)
- Tiết 2: Từ ghép và từ láy (tuần 4)
- Tiết 3: Luyện tập về từ ghép và từ láy (tuần 4)
+ Tổ chức dạy: lơp 4 trường Tiểu học
+ Tổ chức kiểm tra
Trang 4II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lí luận
Từ và câu có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Từ làđơn vị trung tâm của ngôn ngữ Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiện chứcnăng giao tiếp Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầmquan trọng của việc dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học
Từ năm 2005 - 2006, học sinh lơp 4 đã được học theo chương trình sáchgiáo khoa mơi Phân môn Từ ngữ và Ngữ pháp trươc kia đã được tích hợp thànhphân môn Luyện từ và câu Cơ sở của việc sát nhập này xuất phát từ mối quanhệ chặt chẽ giữa từ và câu trong giao tiếp đồng thời coi trọng yêu cầu thực hànhcủa môn học Chính vì vậy, học sinh được làm quen vơi từ và câu ngay từ lơp 1
và được học vơi tư cách là một phân môn độc lập của môn Tiếng Việt từ lơp 2đến lơp 5
Mức độ yêu cầu của nội dung luyện từ ở mỗi khối lơp có sự phân cấp rõrệt Nó như một vòng xoáy trôn ốc, càng lên lơp cao nội dung càng được mởrộng, khái quát và nâng cao hơn
Ở lơp Hai, mức độ yêu cầu của nội dung luyện từ là:
- Học sinh học khoảng 300 đến 350 từ mơi (kể cả thành ngữ và tục ngữ) thuộc
các chủ điểm trong sách giáo khoa như Học sinh, Bạn bè, Muông thu,
- Nhận biết ý nghĩa chung của từng lơp từ: chỉ người, vật và sự vật nói chung(danh từ); chỉ hoạt động, trạng thái (động từ); chỉ đặc điểm, tính chất (tính từ).Tuy nhiên chưa yêu cầu học sinh biết các khái niệm danh từ, động từ và tính từ
- Nhận biết tên riêng và biết viết hoa tên riêng
- Làm quen vơi cách giải nghĩa từ thông thường: giải nghĩa bằng cách địnhnghĩa, bằng cách mô tả trực tiếp (thông qua hình ảnh hoặc lời tả), bằng cách tìm
từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa,
Sang lơp Ba, nội dung luyện từ tiếp tục những nội dung đã học ở lơp Hainhưng được nâng cao hơn:
- Học sinh học khoảng 400 đến 450 từ mơi (kể cả thành ngữ và tục ngữ) thuộc
các chủ điểm trong sách giáo khoa như Măng non, Mái ấm, Ngôi nhà chung,
- Nhận biết nghĩa của một số thành ngữ và tục ngữ gắn vơi các chủ điểm và dêhiểu hơn đối vơi học sinh
- Nhận biết nghĩa của một số biện pháp tu từ phổ biến: so sánh, nhân hóa
- Nhận biết sâu hơn ý nghĩa chung của từng lơp từ đã học ở lơp Hai
- Tiếp tục làm quen vơi các cách giải nghĩa từ thông thường: giải nghĩa bằngcách định nghĩa, bằng cách mô tả trực tiếp (thông qua hình ảnh hoặc lời tả), bằng cách tìm từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa,
Trang 5Bươc sang lơp Bốn, các nội dung về luyện từ ở lơp Hai, Ba vẫn tiếp tụcđược rèn luyện nhưng nội dung đã được khái quát hơn Sách giáo khoa TiếngViệt Bốn đã có những bài lí thuyết riêng để cung cấp kiến thức mơi cho học sinh
về tiếng , từ và câu,… Bố cục của mỗi bài được sắp xếp rất hợp lí gồm ba phần:nhận xét, ghi nhơ và luyện tập Các khái niệm từ đơn, từ phức, từ ghép, từ láy,danh từ, động từ, tính từ, chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, câu khiến, câu hỏi,…đãđược sử dụng Khi đã có các định nghĩa cụ thể về tiếng, từ, câu,… như vậy thìviệc phân biệt đúng cấu tạo của từ, phân biệt đúng từ loại, các kiểu câu,… đòihỏi học sinh phải có sự tư duy khái quát hơn nhiều so vơi các lơp dươi Chính vìvậy người giáo viên cần có những biện pháp thích hợp để giúp các em khắcphục những khó khăn trong việc học Luyện từ và câu nói chung và phân biệt Từđơn, từ ghép, từ láy nói riêng
Cấu trúc các bài học trong phân môn Luyện từ và câu lơp 4 được thể hiệntừng phần cụ thể, vơi hai loại bài học có định hương rõ ràng đó là:
+ Bài dạy lí thuyết gồm ba phần: Nhận xét, ghi nhơ, luyện tập Nhận xét làphần cung cấp ngữ liệu và nêu câu hỏi gợi ý cho học sinh phân tích nhằm rút rakiến thức lí thuyết Ghi nhơ là phần chốt lại những điểm chính yếu về kiến thứcđược rút ra từ việc phân tích ngữ liệu Luyện tập là phần bài tập nhằm củng cốvà vận dụng kiến thức đã học
+ Bài hương dẫn thực hành: được thể hiện ở các bài học mở rộng và hệ thốnghóa vốn từ
Chính vì vậy đã giúp giáo viên thuận lợi hơn trong quá trình truyền thụ kiếnthức cho học sinh
+ Học sinh:
- Học sinh đã được học Luyện từ và câu từ các lơp dươi nên các em biết cáchlĩnh hội kiến thức và luyện tập thực hành dươi sự hương dẫn của giáo viên;nhiều học sinh ham học hỏi, có tư duy sáng tạo
- Sự quan tâm sát sao của phụ huynh học sinh cũng góp phần nâng cao hiệuquả dạy học phân môn Luyên từ và câu nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung
Trang 6- Học sinh toàn trường đều được học 2 buổi/ngày Buổi sáng học nội dungmơi, buổi chiều được luyện tập củng cố để khắc sâu kiến thức Từ đó giúp các
em có khả năng giải quyết thành thạo các bài tập thực hành và vận dụng linhhoạt vào các bài tập có tính chất phân hóa
2.2 Khó khăn
a Giáo viên:
Do số học sinh của trường khá đông, thiếu phòng học, học sinh phải nghỉ họclân phiên nên việc dự giờ thăm lơp, học hỏi chuyên môn của đồng nghiệp cònhạn chế Trong tiết dạy, hoạt động của cô - trò đôi lúc thiếu nhịp nhàng
b Học sinh:
Môn Tiếng Việt là một môn tích hợp nhiều kiến thức tiếng Việt, mặc dù các
em chưa cần hiểu sâu vấn đề nhưng các em cần phải nắm vững những kiến thức
cơ bản theo Chuẩn kiến thức kĩ năng
Khái niệm cấu tạo từ hay từ đơn, từ ghép, từ láy là một khái niệm mơi đối vơi
học sinh lơp 4 vì ở lơp 1, 2, 3 học sinh chỉ học về âm, tiếng, từ
Số lượng kiến thức dành cho dạng bài về từ đơn, từ ghép, từ láy là không
nhiều Trong chương trình hiện hành, nội dung được tích hợp nên kiến thức về
từ đơn, từ phưc được học trong 2 tiết, thêm 1 tiết tìm hiểu về từ ghép tổng hợp
và từ ghép phân loại Chính vì thế, Trong quá trình giảng dạy phần từ đơn, từghép, từ láy tôi thấy học sinh còn mắc phải những lỗi sau:
- Kĩ năng nhận diện từ, phân cách các đơn vị từ trong câu còn nhiều sai lệch nhưmột từ ghép lại xác định thành 2 từ đơn hoặc từ đơn lại xác định thành từ ghép
- Nhầm lẫn từ ghép thành từ láy khi cả hai tiếng có bộ phận âm đầu giống nhaunhư các từ: bãi bờ, sổ sách, đi đứng,…
- Chưa nhận dạng được một số từ láy, đặc biệt là các từ láy khuyết phụ âm đầunhư: ầm ĩ, ồn ào, …
- Học sinh không phân biệt được từ ghép phân loại và từ ghép tổng hợp, từ đãcho có tiếng gốc là một động từ hay một tính từ
- Một số học sinh còn nhút nhát, chưa mạnh dạn, khả năng giao tiếp của các emcòn hạn chế nên ảnh hưởng đến quá trình tiếp thu kiến thức mơi; một số phụhuynh chưa thực sự quan tâm đến con em mình
- Khả năng ghi nhơ của học sinh chưa tốt vì sau khi học riêng khái niệm ở từngbài cụ thể thì các em vận dụng giải quyết bài tập khá tốt nhưng một thời gianquay lại ôn tập thì học sinh lúng túng, nhầm lẫn giữa từ láy – từ ghép, một từghép vơi hai từ đơn,…
Trang 7Từ những thuận lợi và khó trên, tôi cũng mạnh dạn nêu ra một số biện phápdạy học sau để các các bạn đồng nghiệp tham khảo và góp ý.
3 Các biện pháp đã tiến hành
3.1 Nghiên cứu nôi dung, chương trình
3.1.1 Nôi dung:
Như ta đã biết, từ có thể phân loại theo nhiều cách: phân loại dựa vào ý
nghĩa khái quát và hoạt động ngữ pháp, ta có các lơp từ theo từ loại; phân loại
dựa vào nghĩa, ta có các lơp từ theo chủ đề, tiểu chủ đề; phân loại theo các lơpnghĩa, ta có các lơp từ như đồng nghĩa, trái nghĩa,…; phân loại theo nguồn gốc,
ta có từ thuần Việt, từ Hán Việt; phân loại theo phạm vi sử dụng, ta được từ địa
phương, từ toàn dân Từ ghép và từ láy, từ đơn và từ phưc là kết quả phân loại từ
theo cấu tạo
- Từ láy là sản phẩm của phương thức láy, là phương thức láy lại toàn bộ
hay bộ phận hình thức ngữ âm của hình vị gốc (hình vị gốc là hình vị mangnghĩa từ vựng) Ví dụ: xanh xanh xanh, may may mắn, rối bối rối,…
- Từ ghép là sản phẩm của phương thức ghép, là phương thức cấu tạo từ
mơi bằng cách ghép hai hoặc hơn hai hình vị lại vơi nhau Ví dụ: hoa + hồng hoa hồng, đất + nươc đất nươc,…
Trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4, thuật ngữ hình vị được sử dụng vơi ý nghĩa là tiếng có nghĩa và cho rằng: “Tiếng cấu tạo nên từ Từ chỉ gồm một tiếng
gọi là từ đơn Từ gồm hai hay nhiều tiếng gọi là từ phức Từ nào cũng có nghĩavà dùng để tạo nên câu” Từ phức được phân loại thành hai kiểu: từ ghép và từláy Để phân loại các kiểu từ phức, Sách giáo khoa nhấn mạnh vào cách thức cấutạo chứ không miêu tả kết quả phân loại: “Có hai cách chính để tạo từ phức là:
1 Ghép những tiếng có nghĩa lại vơi nhau Đó là các từ ghép M: tìnhthương, thương mến,…
2 Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần)giống nhau Đó là các từ láy M: săn sóc, khéo léo, luôn luôn”
Cách trình bày như trên mang tính hành dụng, phù hợp hơn vơi yêu cầurèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt cho học sinh vì đã chỉ dẫn cách thức tạo từcho những tiếng có săn, học sinh dê dàng tạo ra những từ ghép, từ láy
3.1.2 Chương trình, sách giáo khoa
Trong chương trình sách giáo khoa lơp 4, nội dung dạy học về từ được tiến hành
trong 3 tiết và cung cấp một số kiến thức sơ giản về cấu tạo của từ
- Từ đơn và từ phức (Tuần 3: tiết 1 )
- Từ ghép và từ láy (Tuần 4: 2 tiết )
+ Tiết 1: Cung cấp khái niệm về từ ghép, từ láy
Trang 8+ Tiết 2: Luyện tập củng cố và mở rộng kiến thức về từ ghép, từ láy
Nội dung kiến thức về từ ghép, từ láy không sa vào dạy lí thuyết, nó được
tổng hợp lại sau khi học sinh làm các bài tập
Các dạng bài tập đưa ra như sau:
+ Nhận diện, phân tích cấu tạo của tiếng, từ
+ Phân loại từ theo cấu tạo
+ Tìm từ theo kiểu cấu tạo
+ Luyện sử dụng từ
3.2 Biện pháp chung
Để hương dẫn học sinh lơp 4 phân biệt nhanh, có hiệu quả về Từ ghép và
từ láy, người giáo viên cần phải thực hiện các bươc sau:
- Bươc 1: Chuẩn bị
- Bươc 2: Xác định nội dung và phương pháp phù hợp để hương dẫn họcsinh lĩnh hội kiến thức
a Bươc 1: Chuân bị
+ Đối vơi giáo viên
- Nghiên cứu kĩ nội dung bài học trong sách giáo khoa; xác định đúng kiểu bàiCung cấp kiến thức mơi hay kiểu bài Luyện tập và mở rộng vốn từ
- Xác định rõ mục đích, yêu cầu, kiến thức trọng tâm cần đạt theo Chuẩn kiếnthức kĩ năng
- Dựa vào sách giáo viên, lập kế hoạch giảng dạy; lựa chọn phương pháp và hìnhthức tổ chức dạy học phù hợp
- Chuẩn bị hệ thống câu hỏi cho từng nội dung khai thác, phù hợp vơi khả năngtiếp thu của các đối tượng học sinh
- Dự kiến các tình huống có thể xảy ra trong quá trình giảng dạy để xử lí kịpthời
- Chuẩn bị tốt đồ dùng cho tiết dạy: bảng phụ, bút, máy chiếu,…
+ Đối vơi học sinh
- Học sinh đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học, giáo viên dùchuẩn bị chu đáo bao nhiêu nhưng không được sự ủng hộ của học sinh thì tiếthọc đó không thể nào đạt hiệu quả cao Vì vậy, việc nhắc nhở học sinh chuẩn bịbài ở nhà là rất cần thiết Qua việc chuẩn bị bài, các em xác định nhiệm vụ củamình trong quá trình học Các em sẽ tự tin, mạnh dạn hơn khi nêu ý kiến trươctập thể Những nội dung còn vương mắc, băn khoăn, các em sẽ tự mình tháo gỡhoặc nhờ cô và các bạn giải quyết
b Bươc 2: Xác định nôi dung kiến thức và phương pháp phù hợp hương dân học sinh lĩnh hôi kiến thức
Trang 9* Hương dân phân tích ngữ liệu: Để hương dẫn phân tích ngữ liệu, giáo viên
áp dụng các biện pháp sau:
+ Giúp học sinh năm vưng yêu câu của bài tâp
- Cho học sinh đọc thầm rồi trình bày lại yêu cầu của bài tập
- Giáo viên giải thích rõ lại yêu cầu của bài tập
- Tổ chức cho học sinh làm mẫu một phần của bài tập để cả lơp nắm được yêucầu của bài tập đó
+ Tổ chưc cho học sinh thưc hiện bài tâp
- Tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân hoặc theo nhóm để thực hiện bài tập
- Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả bằng nhiều hình thức khác nhau
- Trao đổi vơi học sinh, sửa lỗi cho học sinh hoặc tổ chức để học sinh góp ý chonhau, tự đánh giá lẫn nhau trong quá trình học tập
- Tổng kết ý kiến học sinh; ghi bảng nếu cần thiết
* Hương dân luyện tập, thực hành
- Giáo viên giúp học sinh nắm yêu cầu bài tập qua việc đọc, gạch chân các từngữ trọng tâm
- Hương dẫn chữa một phần bài tập để làm mẫu
- Hương dẫn học sinh làm bài tập vào vở (hoặc bảng nhóm, nháp,…); làm cánhân hoặc làm theo nhóm
- Tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra nội dung cần thiết
3.3 Biện pháp cụ thê
Nội dung kiến thức về Từ ghép và từ láy được dạy trong 2 tiết của tuần
học thứ tư trong chương trình luyện từ và câu lơp 4 Tiết thứ nhất giúp học sinhnhận biết được hai cách chính cấu tạo từ phức Tiếng Việt: ghép những tiếng cónghĩa vơi nhau (từ ghép); phối hợp những tiếng có âm hay vần hoặc cả âm hayvần giống nhau (từ láy) Qua luyện tập thực hành của tiết thứ hai, học sinh bươcđầu nắm được hai loại từ ghép (có nghĩa tổng hợp, có nghĩa phân loại); nắmđược 3 nhóm từ láy (giống nhau ở âm đầu, vần, cả âm đầu và vần) Tuy nhiên để
học sinh xác định được Từ ghép và từ láy thì các em phải vững kiến thức về từ phức Tiếng Việt qua bài Từ đơn và từ phưc Xác định được yêu cầu cần đạt đó,
tôi đã hương dẫn học sinh như sau:
a Dạy bài Từ đơn và từ phưc (trang 27 – 28):
* Phân nhận xét:
+ Giáo viên ghi bảng câu văn:
Nhờ / bạn / giúp đỡ /, lại / có / chí / học hành /, nhiêu / năm / liên /, Hanh / là / học sinh / tiên tiến /.
Trang 10+ Giáo viên hỏi: Môi từ trong câu văn đươc phân cách băng môt gạch chéo, câu
văn trên có bao nhiêu từ?
+ Giáo viên yêu cầu học sinh chia các từ trên thành hai loại:
- Từ chỉ gôm môt tiếng (từ đơn) M: nhờ
- Từ gôm nhiêu tiếng (từ phưc) M: giup đỡ
+ Học sinh đã xác định được các từ đơn và các từ phức, giáo viên đặt câu hỏiđịnh hương:
- Tiếng dùng để làm gì?
- Thế nào là từ đơn? Thế nào là từ phưc?
- Từ dùng để làm gì?
- Tiếng cấu tạo nên từ Từ chỉ gồm một tiếng gọi là từ đơn Từ gồm hai haynhiều tiếng gọi là từ phức
- Từ nào cũng có nghĩa và dùng để tạo nên câu
+ Khi học sinh trả lời được các câu hỏi trên là các em đã nắm được khái niệm vàcấu tạo về từ đơn và từ phức Để học sinh hiểu sâu hơn kiến thức, tôi yêu cầuhọc sinh đọc lại nội dung ghi nhơ trong sách giáo khoa và nêu một số ví dụ về từđơn và từ phức sau đó làm các bài tập trong phần luyện tập để củng cố
* Phân luyện tập:
Bài tập 1 (trang 28)
Chép vào vở đoạn thơ và dùng dấu gạch chéo để phân cách các từ trong
hai câu thơ cuối đoạn Ghi lại các từ đơn và từ phưc trong đoạn thơ:
Chỉ / còn / truyện cổ / thiết tha /Cho / tôi / nhận mặt / ông cha /của / mình /
Rất công bằng, rất thông minhVừa độ lượng lại đa tình đa mang
Vơi bài tập này, tôi yêu cầu học sinh dùng gạch chéo phân cách các từtrong hai câu thơ cuối đoạn vào SGK, sau đó ghi lại các từ đơn và từ phức trongđoạn thơ vào vở
Bài 2:
Các từ đơn trong đoạn thơ là: chỉ, còn, cho, tôi, của, mình, rất, vừa, lại.
Các từ đơn trong đoạn thơ là: truyện cổ, thiết tha, nhận mặt, ông cha, công
bằng, thông minh, độ lượng, đa tình, đa mang
Sau khi chữa bài, tôi yêu cầu học sinh nhắc lại Từ đơn là gi? Từ phưc là
gì? và đổi vở kiểm tra chéo bài của nhau Hình thức này giúp học sinh vừa tự
đánh giá khả năng lĩnh hội kiến thức mơi của bản thân vừa giúp bạn cùng pháthiện lỗi và sửa sai
Bài tập 2 (trang 28)
Trang 11Hãy tìm trong từ điển và ghi lại:
- 3 từ đơn
- 3 từ phức
Ở bài này, nhiệm vụ của học sinh là tìm trong từ điển và ghi lại 3 từ đơn,
3 từ phức Đây là lần đầu tiên học sinh lơp 4 sử dụng Từ điển Tiếng Việt để làmbài nên không tránh khỏi bỡ ngỡ Vì thế tôi tổ chức cho học sinh làm việc theonhóm đôi để các em có thể hỗ trợ lẫn nhau trong việc làm quen vơi Từ điển vàcủng cố kiến thức đã học
Bài tập 3 (trang 28)
Đặt câu với môt từ đơn hoặc với môt từ phưc vừa tìm ở bài tập 2.
M: (Đặt câu vơi từ đoàn kết)
- Đoàn kết là truyền thông quý báu của nhân dân ta
Bài tập này yêu cầu cao hơn so vơi bài tập 1 và bài tập 2, học sinh phải sửdụng từ đơn hoặc từ phức vừa tìm được ở bài tập 2 để đặt câu Phần lơn học sinhđều đặt được câu vơi từ đã chọn tuy nhiên câu văn các em đặt chưa có hình ảnhthiếu sáng tạo, một vài học sinh còn mắc lỗi viết câu như chữ cái đầu câu khôngviết hoa, cuối câu không ghi dấu câu,…
- Sau khi học sinh làm xong bài, tôi gọi những học sinh khác nhận xét bàicủa bạn Được cô giáo mời phát biểu, các em rất hứng thú và tích cực tham giachữa bài giúp bạn Một số học sinh đã viết được câu văn hay, có hình ảnh
Ví dụ: Đặt câu vơi từ đo
Bạn Minh Lâm viết: Cây phượng nở hoa đo rực
Bạn Yến Linh lại viết: Hè về, những chùm phượng vĩ khoe sắc đo vơi nắng vàng
rực rỡ
b Dạy bài Từ ghép và từ láy (trang 39):
Trên cơ sở học sinh đã nắm được khái niệm về Từ đơn và từ phưc thì việc tìm hiểu về cấu tạo của Từ ghép và từ láy khá thuận lợi Tôi đã tiến hành hương
dẫn học sinh như sau:
+ Hương dân phân tích ngữ liệu (phân nhận xét – SGK trang 38 - 39)
Cấu tạo của những từ phưc đươc in đậm trong các câu thơ sau có gì khác nhau?
Tôi nghe truyện cổ thâm thi Lời ông cha dạy cũng vì đời sau.
Lâm Thị Mỹ Dạ
Thuyền ta châm châm vào Ba Bể Núi dựng cheo leo, hồ lặng im
Lá rừng vơi gió ngân se se
Họa tiếng lòng ta vơi tiếng chim
Hoàng Trung Thông
Trang 12Gơi y
- Từ phưc nào do những tiếng có nghĩa tạo thành?
- Từ phưc nào do những tiếng có âm đầu hoặc vần lặp lại nhau tạo thành?
Ở phần này, tôi hương dẫn học sinh như sau:
Bước 1: Giúp học sinh năm vưng yêu câu của bài tâp (Đọc ngư liệu)
- Gọi học sinh đọc nội dung bài tập và gợi ý Cả lơp đọc thầm
- Gọi học sinh đọc toàn bộ các từ phức in đậm trong bài
- Giáo viên giải thích cho học sinh hiểu rõ hơn yêu cầu của bài tập: Xác định
xem từ phưc nào do những tiếng có nghĩa tạo thành? Từ phưc nào do những
tiếng có âm đầu hoặc vần lặp lại nhau tạo thành?
Bước 2: Tổ chưc cho học sinh thưc hiện bài tâp (Phân tích ngư liệu)
- Sau khi học sinh đã nắm được yêu cầu, tôi dành 2 phút cho các em trao đổitheo cặp để thực hiện yêu cầu của bài tập
- Giáo viên mời một số nhóm trình bày kết quả thảo luận, các nhóm khác nhậnxét, bổ sung
- Giáo viên tổng kết ý kiến của học sinh và kết luận:
+ Các từ phức truyện cổ, ông cha, lặng im do các tiếng có nghĩa tạo thành
(truyện + cổ = truyện cổ, ông + cha = ông cha, lặng + im = lặng im) Các từ này
là từ ghép
+ Từ phức thâm thi do các tiếng có âm đầu có âm đầu th lặp lại nhau tạo thành; cheo leo do các tiếng có vần eo lặp lại nhau tạo thành; châm châm, se se lặp lại
cả âm đầu và vần Đây là các từ láy
Bươc 3: Tổ chưc thảo luân rút ra nội dung cân ghi nhớ (Tổng hợp nội dung lí thuyết và các quy tăc sử dụng từ, câu – Phân ghi nhớ trang 39 )
Trong quá trình làm bài tập, qua phần chốt kiến thức của giáo viên, họcsinh đã tìm ra các đặc điểm có tính quy luật của hiện tượng được khảo sát Tôiđặt câu hỏi dẫn dắt, gợi ý để các em tự phát hiện tri thức trong nội dung bài học:
- Qua phần nhận xét, con hiểu thế nào là từ ghép? Thế nào là từ láy?
- Giáo viên mời vài học sinh trả lời theo cách hiểu của các con, sau đó kết luận:+ Những từ do các tiếng có nghĩa ghép lại vơi nhau gọi là từ ghép
+ Những từ do phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu vàvần) giống nhau gọi là từ láy
(Giáo viên cũng lưu ý học sinh: Trong từ láy, thường có môt tiếng có nghĩa và
môt tiếng láy lại: ví dụ tiếng châm có nghĩa, tiếng châm láy lại châm châm Nhưng cũng có trường hơp cả hai tiếng nghĩa không rõ ràng ví dụ từ cheo leo)
Ở bươc dạy này đòi hỏi người giáo viên phải khéo léo gợi mở, phối hợp
Trang 13nhịp nhàng vơi học sinh giúp các em hiểu được nội dung bài Các em ghi nhơtrên cơ sở hiểu biết chắc chắn chứ không phải ghi nhơ bắng việc học thuộc lòng.
+ Hương dân luyện tập, thực hành (Phân luyện tập – trang 39)
Bài Từ ghép và từ láy là loại bài cung cấp kiến thức mơi – Bài lí thuyết
nhưng giáo viên cũng không nên đi sâu vào giảng giải lí thuyết mà coi trọngthực hành Phần luyện tập là trọng tâm của giờ dạy Phần này giúp học sinh củngcố và vận dụng những kiến thức lí thuyết đã học vào bài tập cụ thể
Ví dụ 1: Bài tập 1 (trang 39)
Hãy xếp những từ phưc đươc in nghiêng trong các câu dưới đây thành hai loại: từ ghép và từ láy Biết răng những tiếng in đậm là tiếng có nghĩa:
a) Nhân dân ghi nhớ công ơn Chử Đồng Tử, lập đền thờ ở nhiều nơi bên sông Hồng Cũng từ đó hằng năm, suốt mấy tháng mùa xuân, cả một vùng bờ bãi sông Hồng lại nô nưc làm lê, mở hội để tưởng nhớ ông.
Theo Hoàng Lê
b) Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn Rồi tre lơn lên, cưng cáp, dẻo dai, vưng chăc Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí như người.
Thép Mới
Đây là loại bài tập nhận diện, giúp học sinh nhận ra hiện tượng về từ và câucần nghiên cứu, mức độ yêu cầu thấp Những hiện tượng này được nêu săn trongcác ngữ liệu
Để hương dẫn học sinh giải quyết bài tập này, tôi cho học sinh đọc kĩ yêu cầu
và nội dung bài tập; nhấn mạnh nhiệm vụ cần làm bằng cách hỏi lại học sinh yêu
cầu và cho gạch chân dươi các từ ngữ cần thiết: xếp những từ phưc đươc in
nghiêng thành hai loại: từ ghép và từ láy (lưu y tiếng in đậm là tiếng có nghĩa)
- Yêu cầu một học sinh đọc lại các từ in nghiêng trong bài, HS khác theo dõi
- Tôi đặt câu hỏi gợi ý, hương dẫn học sinh xác định mẫu hai từ phức in
nghiêng: ghi nhớ và nô nưc vào hai cột từ ghép và từ láy để các em nắm được
cách trình bày bài Khi học sinh hiểu được nhiệm vụ phải làm, các em làm bàivào vở Trong khi học sinh làm bài, tôi bao quát lơp, hương dẫn thêm một số emcòn lúng túng và tổ chức chữa bài cho học sinh
Vì đã hiểu được bài ngay từ phần nhận xét nên các em làm bài khá tốt:
xác định đúng từ ghép và từ láy; trình bày rõ ràng, sạch sẽ Tuy nhiên vẫn còn
một số HS xác định bờ bãi và dẻo dai là hai từ láy Các em cho rằng hai tiếng bờ
và bãi lặp lại âm đầu b; hai tiếng dẻo và dai lặp lại âm đầu d Vơi lỗi sai này, tôi
đã hương dẫn các em phân tích để thấy được rõ được cả hai tiếng trong mỗi từ
đều có nghĩa còn âm đầu lặp lại chỉ là ngẫu nhiên Chẳng hạn: dẻo là dê uốn cong, dai là khả năng chịu lực, khó bị làm đứt rời ra từng mảnh Hai tiếng này
bổ sung nghĩa cho nhau tạo thành nghĩa chung dẻo dai tức là có khả năng hoạt
Trang 14động trong thời gian dài (học sinh có thể xác định nghĩa của hai từ bờ bãi và dẻo dai dựa vào Từ điển Tiếng Việt)
Giáo viên cũng nhấn mạnh ngay cho các em thấy: Trong từ ghép, các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa còn trong từ láy, các tiếng có quan hệ về
âm thanh (sư lặp lại âm đâu, vân hoặc cả âm và vân) Nếu các tiếng trong từ có cả quan hệ về nghĩa và quan hệ về âm (âm thanh) thi ta xếp vào nhóm từ ghép Ví dụ: tươi tốt, đi đưng, mặt mũi, bãi bờ, dẻo dai, buôn bán, nhỏ nhẹ,…
Trong một tiết học, giáo viên dù có bao quát tốt đến mấy cũng không thểchữa bài triệt để cho từng học sinh Vì vậy, sau khi chữa chung, giáo viên chohọc sinh đổi vở kiểm tra bài lẫn nhau Việc làm này phát huy tính tích cực củahọc sinh trong giờ học Các em được làm việc theo cặp sẽ tự đánh giá bài làmcủa bạn, giúp bạn sửa lại bài sai (nếu có); các em giúp bạn sửa bài thì sẽ hiểu bàihơn
- Để khắc sâu hơn kiến thức về Từ ghép và từ láy, tôi tổ chức cho học sinh tìm
từ phức và xác định xem đó là từ ghép hay từ láy Vơi hình thức này, tôi thấy các
em rất hứng thú, tham gia tích cực, giờ học sôi nổi; đồng thời tôi đã phát hiện sựsáng tạo của từng học sinh cũng như một số lỗi mà các em mắc phải trong quátrình tiếp thu bài
Ví dụ 2: Bài tập 2 (trang 40)
Tìm từ ghép, từ láy chưa từng tiếng sau đây:
a) Ngay b) Thẳng c) Thật
Đây là bài tập vận dụng tạo điều kiện cho học sinh sử dụng những đơn vị
từ ngữ, ngữ pháp đã học vào hoạt động giao tiếp của mình Bài tập này nâng caohơn so vơi loại bài tập nhận diện từ nên tôi tổ chức cho học sinh làm việc theonhóm để các em hỗ trợ nhau làm bài Thông qua hoạt động nhóm, các em đượctrao đổi, thảo luận, phát biểu ý kiến đưa ra đáp án thống nhất của tập thể
Sau khi học sinh thảo luận xong, tôi yêu cầu đại diện các nhóm trình bàybài của mình, nhóm khác nhận xét, bổ sung bài cho nhóm bạn Giáo viên đặt bàicủa mình, nhóm khác nhận xét, bổ sung bài cho nhóm bạn Giáo viên đặt mộtvài câu kiểm tra quá trình nhận thức của HS
Các bài tập về Từ ghép và từ láy được sắp xếp rất hợp lí, phù hợp vơi khả năng nhận thức của học sinh Sang tiết thứ hai dạy về Từ ghép và từ láy, học
sinh được phân biệt rõ hơn về từ ghép có nghĩa tổng hợp (bao quát chung) và từghép có nghĩa phân loại (chỉ một loại nhỏ thuộc phạm vi nghĩa của tiếng thứnhất)
Ví dụ 3: Bài tập 2 (trang 44)
Trang 15Viết các từ ghép (đươc in đậm) trong những câu dưới đây vào ô thích hơp trong bảng phân loại từ ghép:
a) Từ ngoài vọng vào tiếng chuông xe điện lẫn tiếng chuông xe đạp lanh canh không ngơt, tiếng còi tàu hỏa thét lên, tiếng bánh xe đập trên đường ray và tiếng máy bay gầm rít trên bầu trời.
Theo Tô Ngọc Hiến
b) Dươi ô cửa máy bay hiện ra đồng ruộng, làng xóm, núi non Những gò đống, bãi bờ vơi những mảng màu xanh, nâu, vàng, trắng và nhiều hinh dạng gợi những bức tranh giàu màu săc.
Theo Trân Lê Văn
Từ ghép có nghĩa tổng hợp M: ruộng đồng
Từ ghép có nghĩa phân loại M: đường ray
Trên cơ sở học sinh đã hiểu được thế nào là từ ghép có nghĩa tổng hợp, từghép có nghĩa phân loại, tôi cho các em vận dụng vào làm bài tập
- Tôi mời hai học sinh nối nhau đọc nội dung của bài tập và cả phần mẫu
- Đặt câu hỏi hương dẫn học sinh xác định yêu cầu: Bài tập 2 yêu cầu các conlàm gì?
- Gọi 1 học sinh đọc toàn bộ các từ ghép in đậm có trong bài, sau đó tôi đặt câuhỏi hương dẫn học sinh mẫu:
+ Ruông đông có nghĩa là gì?
+ Đường ray là loại đường như thế nào?
- Sau khi gọi 2, 3 học sinh nêu cách hiểu của mình, tôi nhấn mạnh để học sinh
hiểu mẫu: ruông đông không chỉ riêng ruông hay đông cụ thể mà mang nghĩa chung của ruông và đông Ruông đông là khoảng đất rộng để cấy cày, trồng trọt nên được xếp vào nhóm từ ghép có nghĩa tổng hợp Đường ray là loại đường
làm bằng sắt, dùng cho tàu hỏa đi, nghĩa thuộc phạm vi nhỏ hơn nghĩa của tiếng
đường nên xếp vào từ ghép có nghĩa phân loại.
- Hương dẫn mẫu xong, tôi yêu cầu học sinh làm bài tập vào vở và chữa bài.Trong quá trình chữa bài, tôi đặt một số câu hỏi yêu cầu học sinh nêu cách làm:
+ Tại sao con xếp xe đạp vào nhóm từ ghép có nghĩa phân loại?
+ Con hiểu gò đống nghĩa là gì? để kiểm tra cách hiểu của học sinh
đồng thời rèn sự mạnh dạn, tự tin của cá nhân khi trình bày ý kiến trươc tập thể.Qua đó, giáo viên rèn cách diên đạt lời nói, phát triển khả năng giao tiếp cho họcsinh
Ví dụ 4: Bài tập 3 (trang 44)
Xếp các từ láy trong đoạn văn sau vào nhóm thích hơp: